Monthly Archives: Tháng Sáu 2014

Quốc hội thông qua 2 chuyên đề giám sát trong năm 2015

VOV.VN – 2 chuyên đề được lựa chọn giám sát gồm vấn đề án oan sai và chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường

Với 94,58% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Chương trình hoạt động giám sát năm 2015.

Theo đó, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội sẽ thực hiện giám sát chuyên đề: Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

nguyen-hanh-phuc_QQLN

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015  (Ảnh: Thanh Hà/VOV.VN)

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015

Bên cạnh đó, Quốc hội sẽ xem xét báo cáo bổ sung của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2014; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2015 và các báo cáo khác của các cơ quan hữu quan theo quy định của pháp luật; Xem xét Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8 của Quốc hội, tiến hành chất vấn một số thành viên Chính phủ, Trưởng ngành

Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiến hành giám sát chuyên đề:Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014.

Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội xem xét các báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015; các báo cáo công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và các báo cáo khác của các cơ quan hữu quan theo quy định của pháp luật;

Quốc hội cũng sẽ xem xét Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 9 của Quốc hội. Xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến năm 2015. Tiến hành chất vấn một số thành viên Chính phủ, Trưởng ngành.

Trước đó, khi thảo luận đa số ý kiến các vị đại biểu Quốc hội tán thành trong năm 2015, Quốc hội tiến hành giám sát tại mỗi kỳ họp một chuyên đề. 2 chuyên đề giám sát được thông qua cũng là 2 chuyên đề nhận được đa số ý kiến tán thành, được đánh giá là những vấn đề quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội.

Về chuyên đề án oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự và bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tuy có ý kiến cho rằng, các vụ án oan, sai chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tố tụng hình sự, phạm vi của chuyên đề giám sát là không lớn, chưa đúng tầm một chuyên đề giám sát của Quốc hội.

Tuy nhiên, Báo cáo tiếp thu, giải trình của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho rằng oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự xảy ra trong tất cả các khâu tố tụng từ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nội dung này không chỉ là việc làm oan người vô tội mà còn gồm cả việc áp dụng sai pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về tội danh, hình phạt, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Bên cạnh đó, việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự cũng có phạm vi rộng gồm việc xác định những trường hợp được bồi thường, kết quả bồi thường, việc bồi thường chậm, không đúng, không thoả đáng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án, Cơ quan thi hành án theo quy định của pháp luật./.

Thanh Hà/VOV.VN

Vấn đề lồng ghép giới trong việc quản lý và bảo vệ rừng tại Hòa Bình

Theo chân đoàn cán bộ nghiên cứu của Dự án “Lồng ghép giới trong thực thi Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) và các văn bản pháp luật liên quan”, chúng tôi đã tìm về địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình – được biết đến là địa bàn của khu bảo tồn rừng đặc dụng Phu Canh (tên gọi đúng Pu Canh).

Trong khuôn khổ chương trình hoạt động của Liên minh đất rừng (FORLAND), Trung tâm Nghiên cứu và phát triển xã hội (CRSD) tại Huế, Quỹ Phát triển Nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) đồng phối hợp nghiên cứu Dự án “Lồng ghép giới trong thực thi Luật BV&PTR và các văn bản pháp luật liên quan”.

Dự án nhằm tìm hiểu những yếu tố thúc đẩy, cũng như cản trở bình đẳng giới; thực chất trong tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ đối với đất rừng, rừng, lâm sản ngoài gỗ và thị trường lâm sản ngoài gỗ; từ đó, đề xuất, kiến nghị điều chỉnh và sửa đổi Luật BV&PTR, các văn bản dưới Luật liên quan một cách phù hợp.

thuc dia hoa binh gioi

Một cánh rừng ở địa bàn xã Đoàn Kết, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

(Ảnh: HNV)

Mục đích của Dự án gồm 03 vấn đề: (1) Cung cấp thông tin hay bằng chứng cho các quyết định để các chính sách và chương trình liên quan tới giao đất, giao rừng (GĐGR), BV&PTR đạt mục tiêu mong đợi cho cả nam và nữ; (2) Cung cấp các thông tin chi tiết về người chịu tác động, người hưởng lợi hay khách hàng để việc xây dựng và thực hiện các chương trình GĐGR, BV&PTR thực hiện hiệu quả, có hiệu suất cao hơn; (3) Phát hiện các bài học hay về thực thi chính sách, chương trình GĐGR, BV&PTR có tác động tích cực trong việc thúc đẩy vị thế của phụ nữ, hoặc có tác động không mong muốn với phụ nữ để đưa ra các điều chỉnh phù hợp.

Đề cập tới nội dung liên quan tới Dự án, chuyên gia Đặng Ngọc Quang – Trung tâm Nghiên cứu phát triển xã hội cho biết: Việt Nam là một quốc gia có đạo luật tiến bộ về giới so với các nước trên thế giới và khu vực. Việt Nam cũng là một bên tham gia Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức bất bình đẳng với phụ nữ. Những tiến bộ về quyền của phụ nữ với đất đai, kể cả lâm nghiệp gần đây đã được ghi nhận, cụ thể trong việc người phụ nữ được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cũng theo chuyên gia Đặng Ngọc Quang, ở nước ta, các loại rừng mà cộng đồng có thể tiếp cận và kiểm soát là các khu vực rừng sản xuất được giao khoán cho các hộ để sản xuất hoặc chăm sóc, bảo vệ… Luật BV&PTR được ban hành năm 2004 đã bộc lộ một số hạn chế sau gần 10 năm thực thi. Một trong những điểm hạn chế là thiếu sự lồng ghép giới trong vấn đề tiếp cận, quản lý, sử dụng và phát triển rừng cho nam giới và nữ giới; vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định sử dụng và quản lý, phát triển rừng. Kết quả đời sống của phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ nghèo, đơn thân gặp nhiều khó khăn do thiếu sự can thiệp, tạo điều kiện của chính sách để họ được tham gia tiếp cận các nguồn tài nguyên rừng và hưởng thụ các lợi ích từ rừng.

Để làm rõ thêm những thắc mắc về vấn đề bình đẳng giới liên quan tới công tác BV&PTR ở địa bàn xã Đoàn Kết, chúng tôi đã đến trụ sở UBND xã Đoàn Kết, gặp bà Hà Thị Hằng – Phó Chủ tịch UBND xã.

Bà Hà Thị Hằng cho biết: Thời gian qua, công tác trồng rừng và bảo vệ rừng tự nhiên luôn được xã đặt lên hàng đầu; thường xuyên tuyên truyền cho nhân dân về công tác phát triển và bảo vệ rừng tại xã; duy trì công tác phối hợp giữa UBND xã với Ban Quản lý bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (Pu Canh), kiểm lâm địa bàn và công an, quân sự xã. Do đó, công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn xã khá ổn định, đặc biệt là từ năm 2013 trở lại đây. Năm 2013, hiện tượng lén lút chặt phá và làm nương rẫy đã giảm đáng kể so với trước đây. Bà con tự trồng 35 ha rừng, trồng theo dự án 44 ha rừng, chủ yếu là: Xoan, keo, lim, mỡ và sưa đỏ… Những tháng đầu 2014 này, toàn xã đang tập trung tận dụng và khai thác triệt để tiềm năng sẵn có, nhất là các diện tích hoang hóa, độ dốc thấp để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày; làm tốt công tác bảo vệ rừng, quản lý chặt chẽ lâm sản; phấn đấu trồng rừng đạt chỉ tiêu, bảo vệ khoanh nuôi rừng tái sinh và rừng tự nhiên đạt kết quả …

Tuy nhiên, bà Hà Thị Hằng cũng bày tỏ trăn trở: Hiện nay, phí chi trả dịch vụ môi trường rừng ở mức 137.000đ/ha/năm, là quá thấp so với công sức bỏ ra để chăm sóc, bảo vệ cây rừng của người dân. Điều này không  khuyến khích được người dân tích cực tham gia vào công tác BV&PTR. Hơn nữa, chị em phụ nữ hiện đang là lực lượng lao động (trồng rừng, trồng màu) chủ yếu; cũng chính chị em là người thường xuyên tham gia vào khai thác lâm sản ngoài gỗ trong rừng, nhưng các chương trình hỗ trợ dành cho phụ nữ còn ít. Do đó, việc nâng cao ý thức bảo vệ rừng cũng như lồng ghép vấn đề giới trong các chính sách BV&PTR còn nhiều điều phải bàn.

Gặp anh Nguyễn Văn Tuấn – Trạm trưởng Trạm số 1, Khu bảo tồn rừng thiên nhiên Phu Canh (Pu Canh) đóng tại địa bàn xóm Thầm Luông, xã Đoàn Kết, chúng tôi được biết: Nhiệm vụ chủ yếu của Trạm là làm công tác bảo vệ, giữ rừng, giữ vùng sinh thủy. Hiện nay, bà con nhân dân trên địa bàn đã hiểu hơn về ý nghĩa bảo vệ rừng nên cùng phối hợp khá hiệu quả với cán bộ, nhân viên của Trạm cũng như tự ý thức cao về BV&PTR. Hầu như không còn hiện tượng đốt nương làm rẫy; trái lại, giờ đây, bà con nông dân còn chủ động trồng thêm rừng với các loại cây trồng chủ yếu: Trẩu, bồ đề…, cùng tập trung canh tác các giống cây lương thực thực phẩm ngắn ngày như: Ngô, sắn… Nếu có vào rừng, chủ yếu cũng chỉ khai thác cây thuốc, lấy mật ong và một số sản phẩm từ rừng có thể dùng làm thức ăn, đồ uống, dệt vải… Nam giới bây giờ ít hoặc thậm chí không vào rừng nữa, vào rừng theo mùa chủ yếu là chị em phụ nữ. Thực trạng này cho thấy, đã có thay đổi nhất định trong phân công lao động liên quan tới rừng. Nó cũng cho thấy, cần phải có những cân nhắc, điều chỉnh lại chính sách BV&PTR liên quan tới vấn đề giới và bình đẳng giới.

Chủ tịch Hội Nông dân xã Lý Văn Hòa chia sẻ: Về cơ bản, con trai hay con gái trong gia đình giờ đều được chia của hồi môn như nhau, không có phân biệt nhiều như trước kia nữa. Tuy nhiên, nếu con gái đi lấy chồng xa, khác làng, khác xã thì sẽ không được nhận phần diện tích rừng của bố mẹ đang quản lý, bảo vệ cũng như diện tích rừng trồng của gia đình nữa. Vì đi xa chỗ mình ở rồi, có lấy đất, lấy rừng cũng không quản lý, sản xuất được nữa.

Bí thư chi bộ dân cư xóm Thầm Luông Lý Thị Xuân cho biết: Gia đình chị sinh sống lâu đời tại đây, từ lúc còn du canh du cư ở Đồng Ruộng rồi chuyển sang định canh định cư tại Thầm Luông này. Hiện, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, sự quan tâm của chính quyền, chị em phụ nữ có nhiều điều kiện để phát triển hơn. Họ được tập huấn, nâng cao trình độ và kiến thức. Do đó, tính chủ động của chị em trong cuộc sống được gia tăng. Tiếng nói của chị em cũng có trọng lượng hơn. Giờ, đứng tên tài sản lớn của gia đình là tên của cả vợ và chồng. Con gái hay con trai được phân chia tài sản như nhau.

thuc dia hoa binh gioi 2

Cùng với rừng, bà con xã Tân Pheo còn tập trung canh tác lúa và ngô

(Ảnh: HNV)

Bà Lý Thị Xuân kiến nghị, để nâng cao đời sống của người dân nói chung và chị em nói riêng, cần có sự hỗ trợ về vốn, cây giống. Đặc biệt, cần tăng cường hơn nữa vai trò của phụ nữ, để họ thực sự làm chủ cuộc sống của mình.

Tâm sự trên của ông Lý Văn Hòa và chia sẻ của bà Lý Thị Xuân cũng lần nữa cho thấy, dù đã có những tiến bộ vượt bậc trong thực hiện bình đẳng giới, nhưng xem ra, việc coi trọng và đánh giá cao hơn vai trò của nam giới vẫn không phải dễ dàng thay đổi trong “ngày một, ngày hai”.

Trong khi đó, theo trưởng xóm Thầm Luông Lý Xuân Dấu, ý thức của người dân trong vài năm trở lại đây đã được nâng cao hơn. Người dân không còn tư tưởng ỷ lại hoàn toàn vào rừng nữa. Họ đã ý thức hơn việc cần thiết bảo vệ rừng, không được phép khai thác tràn lan. Cả đàn ông và phụ nữ hiện nay đều tôn trọng các nội dung BV&PTR, khi cần những quyết định quan trọng đều có sự đồng thuận của cả hai bên. Thay đổi tích cực từ thực tế này cũng chính là tiền đề tốt để các nhà hoạch định chính sách cân nhắc, xem xét, có điều chỉnh phù hợp, vừa thúc đẩy công cuộc bảo vệ, gìn giữ “lá phổi xanh của nhân loại” cũng như phát triển kinh tế – xã hội, thực sự đảm bảo cho phụ nữ được bình đẳng, bình quyền.

Khi gặp những người dân tộc Dao tại bản Thầm Luông, chúng tôi nhận thấy ở họ một sự tự tin và chủ động hòa nhập, nắm bắt vấn đề. Những người dân như: Chị Tiến, chị Đức, chị Loan, cô Hà, cô Thảo, cô Lương… đã cho tôi những chia sẻ rất thật về cuộc sống của gia đình mình. Họ cho biết, rừng đã gắn bó với đời sống của họ như máu thịt, rừng là nhà, rừng là nguồn sống. Tuy nhiên, khi rừng được khoanh vùng để bảo vệ, đồng nghĩa với việc không được tự ý xâm phạm, khai thác, bản thân họ đã mất một thời gian để điều chỉnh. “Giờ đây, nam giới trai tráng hầu như rất ít vào rừng. Những việc nặng nhọc, khai thác gỗ, xẻ gỗ giờ không được phép nữa. Chỉ còn chị em phụ nữ vào rừng thôi. Chị em vào rừng chủ yếu làm những việc tỉ mỉ, cẩn thận, tốn ít sức” – cô Lương cho hay. Diễn biến thực tiễn cuộc sống đã hạn chế hơn vai trò của nam giới trong rừng mà lại nâng cao vai trò của nữ giới. Vấn đề đặt ra hiện nay là cân bằng giới để phát huy hiệu quả công tác BV&PTR.

Đến với bản Thùng Lùng, xã Tân Pheo (huyện Đà Bắc), gặp gỡ những người dân tộc Tày nơi đây, những người dân như: Chú Bằng, chú Toàn, chú Nghị, anh Thành, anh Pháp… – những người đàn ông trụ cột trong gia đình, chúng tôi cảm nhận một không khí rất cởi mở và thân thiện. Họ cho chúng tôi hay, nói rừng là nguồn sống của người dân nơi đây là không hề sai chút nào, bởi nhà và rừng ở đây gần như xen kẽ trong nhau.

Ông Đinh Văn Nhất – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Pheo trao đổi với chúng tôi: Diện tích rừng trên địa bàn lớn, nhưng chủ yếu thuộc khu bảo tồn, cấm khai thác, chặt phá, trong khi nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây là từ rừng và nông nghiệp, do đó, đời sống vẫn còn nhiều khó khăn. Do không được khai thác gỗ nữa, nên giờ đây, vào rừng chủ yếu là chị em. Họ vào rừng lấy măng, lấy nứa, nhưng cũng có quy định theo mùa, chứ không được phép lấy ồ ạt.

Cũng theo Phó Chủ tịch Đinh Văn Nhất, nói đến công tác BV&PTR cũng như các chính sách về giới liên quan tới nội dung công tác này, cần cả một quá trình và cần thiết phải có điều chỉnh trên cơ sở phát sinh từ thực tiễn. Tất nhiên, cũng cần xem xét tới tính khả thi của các quy định nếu có điều chỉnh để việc thực thi trong thực tiễn phát huy hiệu quả.

Có thể thấy, việc vươn tới bình đẳng giới đòi hỏi những nỗ lực để cả người lớn, thanh niên và trẻ em nam cũng như nữ có cơ hội tiếp cận với các điều kiện và các dịch vụ giúp họ có một mức sống tốt nhất. Ở Việt Nam, không riêng gì trong lĩnh vực BV&PTR, mà hầu hết trong các chính sách và chương trình phát triển, văn bản pháp luật đều được xây dựng trên nguyên tắc trung tính về giới với hàm ý đảm bảo nam và nữ được đối xử như nhau, có cơ hội như nhau và được cung cấp dịch vụ như nhau trong những hoàn cảnh như nhau. Tuy nhiên, nhiều khi, sự khác biệt giới tính làm nguyên tắc trung tính về giới không đảm bảo các ứng xử với nam và nữ là công bằng và hợp thức thỏa đáng. Do đó, cần thiết phải xem xét, nghiên cứu về cuộc sống của nam và nữ trong các gia đình sống phụ thuộc vào rừng có những khác biệt nào và sự tác động của chính sách cũng như chương trình BV&PTR với những khác biệt đó./.

Lê Nguyễn
http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30111&cn_id=657614

Báo động tình trạng nhận khoán phá rừng lấy đất nuôi tôm

Tỉnh Bạc Liêu có khoảng 5.000 ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển Đông, chạy từ thành phố Bạc Liêu đến huyện Đông Hải. 2/3 số rừng được giao khoán cho người dân chăm sóc, trồng rừng và nuôi tôm. Tuy nhiên, do việc giao khoán ít hiệu quả so với nuôi tôm nên đã xảy ra tình trạng người nhận khoán đất rừng chặt phá rừng để lấy đất nuôi tôm và thực trạng này đang báo động.

Mục đích chính của việc giao khoán đất rừng là phát triển và bảo vệ rừng, nhưng nhiều năm qua, việc phát triển và bảo vệ rừng dường như vẫn là thứ yếu. Bằng chứng là nạn ứ nước nuôi tôm gây chết rừng vẫn cứ xảy ra và mô hình trồng rừng – nuôi tôm được xem là bền vững đang bị thay thế bằng mô hình nuôi tôm công nghiệp, quảng canh và cả việc nuôi tôm thẻ chân trắng. Mỗi năm Nhà nước chỉ hỗ trợ công chăm sóc, trồng mới rừng khoảng 2 triệu đồng/ha, nếu thực hiện mô hình trồng rừng – nuôi tôm thì diện tích mặt nước nuôi tôm giảm, dẫn đến sản lượng tôm giảm khoảng 30%, tương ứng khoảng 20 – 25 triệu đồng/ha so với mô hình nuôi tôm quảng canh không trồng rừng. Chính sự chênh lệch về thu nhập mà nhiều hộ nhận khoán rừng ven biển không muốn phát triển mô hình trồng rừng – nuôi tôm. Có nơi, người dân bỏ hẳn mô hình trồng rừng – nuôi tôm mà thay bằng mô hình nuôi tôm quảng canh, nuôi công nghiệp tôm thẻ chân trắng và còn chặt phá rừng để có diện tích mặt nước nuôi tôm. Bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên nếu không làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, thì những mô hình kinh tế đang được nông dân đầu tư hiện nay cũng khó tránh khỏi nguy cơ mất trắng vì triều cường và xâm nhập mặn trong tương lai. Do vậy, trong kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh đến năm 2020 có mục tiêu phát triển mô hình trồng rừng – nuôi tôm. Trong đó, diện tích mặt nước nuôi trồng chiếm 70%, còn 30% diện tích phải trồng rừng bởi phát triển rừng không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế, mà còn là sự phát triển bền vững do Bạc Liêu là một trong những tỉnh, thành của khu vực đồng bằng sông Cửu Long được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ xâm nhập mặn và nước biển dâng. Một trong những giải pháp được ngành nông nghiệp quan tâm là đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền về tầm quan quan trọng đặc biệt của rừng đối với sự phát triển bền vững. Đồng thời nghiên cứu các giải pháp như tăng mức hỗ trợ cho việc trồng và chăm sóc rừng, giúp người nông dân tăng thêm thu nhập từ mô hình trồng rừng – nuôi tôm ; gắn kết doanh nghiệp với người nhận giao khoán đất rừng để khai thác có hiệu quả mô hình trồng rừng – nuôi tôm gắn với phát triển du lịch sinh thái rừng… Làm được những việc này, giá trị mang lại từ rừng sẽ tăng thêm rất nhiều từ các dịch vụ ăn theo, người giữ rừng sẽ an tâm làm tốt công tác phát triển và bảo vệ rừng, nhằm chủ động phòng chống nước biển dâng, xâm nhập mặn và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.

Cao Thăng
baotintuc.vn

 

Bí thư Tỉnh ủy Đác Nông Trần Quốc Huy: Cần làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong việc để mất rừng

Sau hàng loạt tin, bài trên Báo Nhân Dân điện tử phản ánh về việc thời gian gần đây, rừng tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, tỉnh Đác Nông bị xâm hại nghiêm trọng do sự buông lỏng quản lý, bảo vệ rừng của Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung.

mat rungGỗ Du Sam thuộc nhóm IIa quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung bị khai thác trái phép được lực lượng kiểm lâm tỉnh Đác Nông phát hiện, bắt giữ (Ảnh: Nguyễn Công Lý)

Ngày 10-6, đồng chí Trần Quốc Huy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đác Nông đã có buổi làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và một số sở, ban, ngành, huyện, xã, các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đác N’Tao, Quảng Sơn, Đức Hòa, Nam Nung, Quảng Đức, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh nhằm quán triệt chỉ đạo của Tỉnh ủy về việc triển khai Kế hoạch số 43-KH/BCĐ ngày 3-6-2014 của Ban chỉ đạo 1079 của tỉnh, đồng thời tiến hành kiểm tra, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép, tổ chức lại mô hình quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, rừng phụ cận do năm công ty lâm nghiệp và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quản lý; làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan đến việc rừng tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung bị xâm hại nghiêm trọng.

Buổi làm việc tập trung kiểm tra nhằm đánh giá kết quả công tác tổ chức thực hiện quản lý, bảo vệ, pháttriển, sử dụng của các đơn vị chủ rừng và kiểm tra thực tế tình hình phá rừng, khai thác, xâm canh, lấn chiếm đất rừng, sang nhượng đất đai trái pháp luật.

Bí thư Tỉnh ủy Đác Nông chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh kiểm tra hồ sơ, tài liệu pháp lý liên quan và thực tế tại hiện trường. Ban Chỉ đạo 1079 cũng đã thành lập và giao nhiệm vụ cụ thể cho ba tổ công tác tiến hành kiểm tra kể từ thời gian từ đầu năm 2010 đến nay, thời gian kiểm tra dự kiến từ ngày 15-7 đến ngày 30-9-2014,

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, tỉnh sẽ xử lý trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương, các đơn vị chủ rừng, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, sang nhượng đất đai trái phép.

Bí thư Tỉnh ủy Đác Nông Trần Quốc Huy chỉ đạo: Qua đợt kiểm tra này, các tổ công tác phải làm rõ cho được trách nhiệm của mỗi bên từ chủ rừng, cấp xã, huyện, các ngành trong việc quản lý bảo vệ rừng. Trên cơ sở đó, các tổ phải phân tích được các nguyên nhân chủ quan, khách quan vì sao rừng bị mất, nguyên nhân do đâu để có cơ sở xử lý về sau; đề xuất, kiến nghị mô hình mới về quản lý, bảo vệ rừng phù hợp. Hằng tháng, các tổ có sự sơ kết, báo cáo tiến độ công việc cũng như những khó khăn, vướng mắc cho Ban chỉ đạo.

Trước đó, Báo Nhân Dân điện tử nhiều lần phản ánh về tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng trái phép xảy ra tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đác Nông, từ đầu năm 2011 đến nay đã có 36 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, trong đó có 31 vụ khai thác, cất giấu và vận chuyển gỗ trái phép với khối lượng lên đến 298,775 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ từ nhóm IIa đến nhóm V; hai vụ phá rừng trái phép làm thiệt hại 3,796 ha rừng đặc dụng và ba vụ săn bắn trái phép động vật rừng.

Thời gian gần đây, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, phá rừng trái phép tại đây lại có chiều hướng gia tăng. Chỉ tính riêng trong ba tháng đầu năm 2014, lực lượng công an, kiểm lâm đã phát hiện 45,957 m3 gỗ các loại từ nhóm IIa đến nhóm IV là tang vật vi phạm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Gần đây nhất là vào ngày 11-3-2014, Ðội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ðác Nông đã phát hiện vụ khai thác lâm sản trái phép tại Tiểu khu 1618 thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung quản lý, tang vật thu giữ gồm 13,739 m3 gỗ tròn Bạch Tùng thuộc nhóm IV.

Vào ngày 12-2-2014, thông qua công tác tuần tra, kiểm soát, Hạt Kiểm lâm huyện Ðác Glong đã phát hiện tại khoảnh 3 và khoảnh 5, Tiểu khu 1618 thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung quản lý, xảy ra vụ khai thác hai cây Du Sam thuộc nhóm IIa quý hiếm. Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm gỗ tròn và gỗ xẻ thành phách vuông lên đến 32,336 m3. Ðây là những vụ khai thác gỗ quý hiếm lớn nhất xảy ra tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung từ trước đến nay. Ðiều khó hiểu là tất cả các vụ phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép này, nhưng lực lượng quản lý, bảo vệ rừng cũng như kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung đều không phát hiện được hoặc có phát hiện cũng làm ngơ.

Liên quan đến tình trạng phá rừng, khai thác gỗ và lấn chiếm đất rừng trái pháp xảy ra tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, ngày 28-4, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đác Nông cũng đã công bố các quyết định kỷ luật đối với năm cán bộ kiểm lâm thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Cụ thể, kỷ luật với hình thức khiển trách đối với các ông Dương Văn Tuân, quyền Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung và ông Ngân Văn Thỏa, Phó Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Nâm N’đir. Kỷ luật cảnh cáo đối với các ông Phạm Công Trường, kiểm lâm viên phụ trách công tác quản lý, bảo vệ rừng kiêm Tổ trưởng tổ cơ động; ông Phan Xuân Anh, Tổ phó tổ cơ động và ông Võ Kim Hồng, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Nâm N’đir.

Tiếp đó,ngày 14-5-2014, UBND tỉnh Đác Nông cũng đã có Quyết định 710/QĐ-UBND về việc tạm đình chỉ chức vụ Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung đối với ông Huỳnh Công Cẩn trong thời hạn 30 ngày để xem xét xử lý kỷ luật vì để xảy ra nhiều vụ vi phạm về khai thác lâm sản trái phép với khối lượng lớn trong thời gian dài, nhưng không có biện pháp ngăn chặn, xử lý và bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Đồng thời, UBND tỉnh cũng điều động, bổ nhiệm ông Đặng Xuân Lộc, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan Đray Sáp giữ chức vụ quyền Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung.

Được biết, hiện nay Hội đồng kỷ luật của tỉnh đang xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông Huỳnh Công Cẩn liên quan đến việc để mất rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung.

Nguyễn Công Lý
Nhandan.org.vn

 

Đề xuất giám sát thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh

Thảo luận tại Hội trường về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015 vào chiều 9/6, đa số đại biểu Quốc hội đề xuất Quốc hội nên chọn giám sát chuyên đề 3 về thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014.

nltqd

Đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) phát biểu (Ảnh: Thúy Hằng)

Các đại biểu cho rằng, việc quản lý đất nông lâm trường thời gian qua thiếu chặt chẽ dẫn tới tranh chấp, lấn chiếm đất đai ở địa phương. Việc thực hiện đổi mới và sắp xếp đất nông, lâm trường chưa đạt yêu cầu, nhiều địa phương chưa thực hiện được. Theo các đại biểu, qua giám sát Quốc hội ban hành Nghị quyết, đề ra các giải pháp quản lý tốt hơn việc chuyển đổi đất nông, lâm trường hoặc sắp xếp giao đất nông trường cho địa phương quản lý, giao đất cho nông dân, tạo thêm quỹ đất sản xuất.
Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Bình Phước) khẳng định, việc giám sát sử dụng đất đai nông lâm trường quốc doanh là vô cùng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Theo đại biểu, đây là một trong những vấn đề lớn đã đặt ra trong quản lý tài nguyên đất đai trong thời gian vừa qua. Đây cũng là nơi khởi đầu của nhiều vụ khiếu kiện, khiếu nại trong thời gian vừa qua, cần có sự giám sát để tìm ra được các giải pháp tích cực về chính sách khắc phục trong thời gian tới.
Lý giải việc chọn chuyên đề giám sát đất nông, lâm trường, đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) cho rằng, qua thực tế khảo sát và giám sát việc thực thi chính sách pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005-2013 đại biểu được biết ở nhiều nơi đồng bào được cấp đất, nhưng cấp chồng lấn trên đất của nông trường, lâm trường nên họ không vào làm được. Có nơi trong lúc dân thiếu đất sản xuất, đất ở thì cũng ở nơi đó diện tích đất những nông trường, lâm trường không sử dụng hết còn bỏ hoang hóa.
Đại biểu Nguyễn Thị Khá đề nghị, chuyên đề này nên mở rộng giám sát thêm trong số đất được cấp cho hộ nghèo vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thì hộ nghèo khai thác sử dụng được đạt hiệu quả bao nhiêu phần trăm.  Bởi lẽ thực tế, “Tuy họ đã được cấp đất nhưng không có điều kiện sử dụng, khai thác như chồng lấn, xa nhà, chủ cũ không trả, người nơi khác đến mua thu gom, việc này hiện nay đang còn bỏ ngỏ, không ai nắm được” – đại biểu nói.
Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) đề xuất Quốc hội giám sát chuyên đề 3. Theo đại biểu, việc quản lý sử dụng đất đai hiện còn nhiều tồn tại. Cả nước có 303 tổ chức, công ty, Ban quản lý rừng với 3,8 triệu ha nhưng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được khoảng 2 triệu ha, đạt 52,8% trong khi tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả nước đạt trên 94%. Đặc biệt, diện tích đất nông lâm trường chưa sử dụng còn nhiều với 315 ngàn ha. Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai tại các nông lâm trường diễn ra khá phổ biến. Không  chỉ ở nông lâm trường mà ở các tập đoàn các tổng công ty, khu công nghiệp cũng có tình trạng quản lý đất kém hiệu quả. “Việc giám sát nội dung này giúp Quốc hội đưa ra những quyết định quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, quản lý đất đai chặt chẽ hơn khắc phục lãng phí trong quản lý sử dụng đất đai nhất là tại các nông lâm trường. Đồng thời, tạo quỹ đất giúp cho hộ gia đình còn thiếu và không đất ở, đất sản xuất nhất là đồng bào dân tộc thiểu số” – đại biểu Danh Út khẳng định.
Hiện tại còn hơn 326 ngàn hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có quỹ đất, rất cần đất để an cư và sản xuất, hạn chế di cư tự do.
Đại biểu Trần Du Lịch (TP.HCM) cho rằng, chuyên đề về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh hết sức bức xúc, gắn liền với việc tái cấu trúc nền nông nghiệp.
Đại biểu kiến nghị, việc giám sát này có thể giao cho Hội đồng dân tộc, Ủy ban các vấn đề xã hội và Ủy ban kinh tế. Tùy theo mục đích cụ thể mà Quốc hội giao cho một cơ quan chủ trì. “Chúng ta giám sát để đề xuất hướng sử dụng có hiệu quả nhất, tốt nhất cho nông trường viên, cho quỹ đất và cho phát triển của nền nông nghiệp” – đại biểu Trần Du Lịch nói.
Thúy Hằng
 Tainguyenmoitruong.com.vn

 

Hội thảo đánh giá kết quả và định hướng hoạt động

Ngày 29/5/2014, tại khách sạn Công Đoàn, thành phố Đồng Hới, Quảng Bình, Liên minh Đất rừng (FORLAND) đã tổ chức hội thảo tổng kết đánh giá các hoạt động từ đầu năm 2014 đến nay và định hướng hoạt động trong thời gian tới. Tham gia hội thảo có đại diện 7 thành viên liên minh và đại diện Oxfam.

Hội thảo thông qua các nội dung chính, bao gồm i) Đánh giá các hoạt động của FORLAND từ đầu năm 2014 đến nay; ii) Xác định và thông qua nội dung bộ chỉ số đánh giá định tính QAS; iii) Thông qua chiến lược truyền thông đối nội đối ngoại và chiến lược huy động báo chí; và iv) Thảo luận kế hoạch chung của FORLAND đến hết năm 2014.

hoi thao 295

Toàn cảnh hội thảo (Ảnh: FORLAND)

Hội thảo đã dành phần lớn thời gian để góp ý cho bộ QAS do điều phối viên và cán bộ giám sát đánh giá (MEL) thực hiện. Phần trả lời cho 30 câu hỏi cũng như điểm số của hai chỉ số kết quả về chất lượng của liên minh và hiệu quả chính sách trong bộ QAS đã được điều chỉnh và bổ sung. Thông qua bộ chỉ số giám sát đánh giá này, các thành viên FORLAND cũng như nhà tài trợ có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của liên minh trên nhiều phương diện qua từng giai đoạn khác nhau.

hoi thao dong hoi

 Thông qua bộ chỉ số giám sát đánh giá (Ảnh: FORLAND)

Thông qua hội thảo, kết quả và kế hoạch hoạt động các dự án cũng được phân tích góp ý. Sau thảo luận, các thành viên FORLAND đi đến thống nhất chung nội dung và nguồn lực khi thực hiện VĐCS của 3 IBPs là Giới, Luật BV&PTR 2004, và VQG/KBT. Cụ thể là cả 3 tổ chức đầu mối này sẽ thảo luận để thống nhất việc tổ chức hội thảo chung với tiêu đề có thể là “Luật BV&PTR 2004 dưới góc nhìn của tổ chức XHDS” khi kết thúc các nghiên cứu ở thực địa, cũng như lồng ghép các khuyến nghị thành một khuyến nghị chính sách chung.

Bên cạnh đó, hội thảo đi đến thống nhất các vấn đề chung về cơ chế chia sẻ thông tin cũng như cơ chế hợp tác với các đối tác bên ngoài. Trong thời gian tới, Liên minh FORLAND dự kiến mở rộng quan hệ hợp tác với tổ chức Con người và Rừng (RECOFT) và một số tổ chức khác. Đồng thời, FORLAND xúc tiến mời các chuyên gia lâm nghiệp làm tư vấn cho FORLAND nhằm tối đa hóa vai trò của chuyên gia để chuyên gia có đóng góp hiệu quả nhất cho mạng lưới trong các hoạt động nghiên cứu, vận động chính sách và làm cầu nối giữa mạng lưới với các cơ quan hoạch định chính sách các cấp, đặc biệt là ở Bộ NN&PTNT.

Qua hội thảo, chiến lược truyền thông đối nội, đối ngoại và huy động báo chí cũng được thống nhất. Các hoạt động này được lồng ghép trong từng hoạt động của các dự án cụ thể.

Kết thúc hội thảo, những kết quả đạt được và các hạn chế được phân tích nhằm rút kinh nghiệm lên kế hoạch thực hiện hiệu quả cho các hoạt động trong thời gian tới.

FORLAND

Tập huấn tham vấn cộng đồng

Từ ngày 13 đến 15 tháng 5 năm 2014, Oxfam Anh đã tổ chức đợt tập huấn tham vấn cộng đồng cho các Liên minh vận động chính sách. Mục chủ yếu nâng cao năng lực cho các thành viên Liên minh Đất rừng (FORLAND) và các liên minh khác nhằm phục vụ cho quá trình tham vấn cộng đồng sắp tới.

Nội dung tập huấn chủ yếu xoay quanh cách thực hiện một tiến trình tham vấn cộng đồng nhằm tìm ra các bằng chứng để vận động chính sách từ những câu chuyện điển hình, thu thập mong muốn và nguyện vọng của các bên liên quan, từ đó đưa ra các khuyến nghị sửa đổi luật. Thông qua khóa tập huấn, học viên đã đi sâu phân tích các câu chuyện điển hình từ kinh nghiệm của Liên minh Đất đai (LANDA), thực hành bối cảnh tham vấn cộng đồng ngay trong buổi tập huấn trước khi vận dụng thực hành thực tế tại cộng đồng.

Để áp dụng lý thuyết đã học vào trong thực tế và chuẩn bị tốt cho đợt tập huấn sắp tới của FORLAND, từ ngày 27-28/5/ 2014, các thành viên FORLAND đã có đợt tham vấn cộng động đồng thử nghiệm tại địa bàn bản Khe Ngang và bản Lâm Ninh, xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình. Nội dung chủ yếu xoay quanh vấn đề khoán, bảo vệ và giao đất giao rừng, với 25 hộ dân/ bản. Người dân được chia thành các nhóm nhỏ để thảo luận thực trạng, khó khăn, bất cập, những điều đạt được, chưa đạt được cũng như mong muốn của người dân.

tap huan tham van cong dong 2

 

Thực hành tham vấn tại cộng đồng (Ảnh: FORLAND)

Sau khi thảo luận nhóm, đoàn tiến hành phỏng vấn sâu người dân để đi sâu phân tích các câu chuyện điển hình. Bên cạnh đó, đoàn tiến hành phỏng vấn các cán bộ xã để kiểm chứng và đối chiếu thông tin từ phía chính quyền. Từ đó, nắm rõ về tổng quan giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng. Đồng thời, đoàn tiếp nhận thông tin về những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đề xuất từ các bên liên quan. Các ý kiến được tổng hợp và thông tin sau cuộc họp cuối cùng với người dân và chính quyền địa phương.

tap huan tham van cong dong 1

Người dân tham gia phát biểu ý kiến

Qúa trình tham vấn thử này nhằm rút kinh nghiệm cho các đợt tham vấn sắp tới. Đồng thời nhằm tiếp nhận các kết quả tham vấn cộng đồng để đưa vào báo cáo tham vấn về luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mà FORLAND đang thực hiện.

FORLAND

Cấp gần một trăm héc-ta đất rừng trái pháp luật

Trong khi người dân không có đất sản xuất phải đi nơi khác làm thuê, thì UBND huyện Thường Xuân (Thanh Hóa) cấp trái thẩm quyền cho Công ty TNHH TMDV-XNK Nam An (Công ty Nam An) hơn 80 ha tại 2 xã miền núi đặc biệt khó khăn Lương Sơn và Yên Nhân. Việc làm này không những gây bức xúc trong quần chúng nhân dân mà còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên – môi trường lòng hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đặt.

cap rung trai phepÔng Trần Hợp Bảng, Chủ tịch UBND xã Lương Sơn đang trao đổi với người dân

Từ trung tâm xã Lương Sơn dọc theo đường Bát Mọt khoảng 20 km, rẽ trái men theo con đường mòn hàng chục cây số với những ổ voi, ổ gà nhấp nhô, chúng tôi về nơi giáp ranh giữa 2 xã Lương Sơn và Yên Nhân. Chỉ tay về phía ruộng ớt ông Trần Hợp Bảng, Chủ tịch UBND xã Lương Sơn cho biết: Đây là khu đất mà UBND huyện Thường Xuân giao cho Công ty Nam An, sau khi được giao Công ty Nam An đã tiến hành phát quang chặt phá cây rừng để trồng ớt. Đây là khu rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên quản lý, đáng lẽ ra huyện nên giao cho người dân 2 xã lấy đất sản xuất thì đúng hơn. Ngay từ khi được tin UBND huyện cấp cho doanh nghiệp, UBND xã Lương Sơn và Yên Nhân cũng đã kịch liệt phản đối.
Gặp chị Lò Thị Quỳnh, người dân thôn Lửa, xã Yên Nhân ngay tại khu rừng, chị Quỳnh nói: Người dân chúng tôi không hiểu tại sao huyện lại không giao đất, giao rừng cho bà con sản xuất mà lại giao cho một Công ty nào đó. Trong khi gia đình tôi có 6 khẩu là người dân tộc lại không có đất sản xuất, tôi phải đi chăn bò thuê, vào rừng kiếm củi, ra suối để bắt con tôm con cá sống qua ngày.
Được biết, ngày 16/7/2013, UBND huyện Thường Xuân có Công văn số 887/UBND-TN&MT về việc đồng ý cho Công ty Nam An được mượn khoảng 80 từ cos 108 đến cos 120 thuộc địa bàn 2 xã Lương Sơn và Yên Nhân. Đây là khu đất trong phạm vi giải phóng vùng ngập lòng hồ Thủy điện Cửa Đặt để triển khai dự án  trồng cao su và trồng ớt làm dược liệu theo mô hình liên kết với hộ gia đình có điều kiện về đất đai trên địa bàn các xã trong huyện và triển khai trồng ớt dưới tán cao su từ 1-3 năm tuổi.
Trao đổi với PV Báo Tài nguyên & Môi trường, ông Đỗ Xuân Nam, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Thường Xuân cho biết: Định hướng của Huyện ủy và UBND huyện là chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang rừng sản xuất và diện tích mía năng suất thấp sang trồng cây cao su là đúng. Nhưng việc UBND huyện có Công văn giao gần một trăn héc-ta rừng cho Công ty Nam An thì Thường vụ Huyện ủy và bản thân tôi không nắm được. Khi được hỏi: Trong Công văn số 887/UBND-TN&MT về việc đồng ý cho Công ty Nam An mượn đất có kết quả làm việc thống nhất giữa Huyện ủy, UBND huyện và Công ty, thì Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Thường Xuân Đỗ Xuân Nam cho biết thêm: Có lẽ chỉ Bí thư Huyện ủy (nay đã chuyển công tác khác – PV) và Chủ tịch UBND huyện họp với nhau, còn tôi không được tham gia(?!). Ngay cả Công ty Nam An là Công ty nào tôi cũng không nắm được, vì trên địa bàn huyện Thường Xuân không có Công ty Nam An(!?). Việc UBND huyện ban hành Công văn số 887 cho Công ty Nam An mượn đất là không đúng pháp luật và trái thẩm quyền, vì việc mượn đất và cho thuê đất là thẩm quyền của UBND tỉnh.
Ông Trần Hợp Bảng, Chủ tịch UBND xã Lương Sơn cho biết thêm: Ngay sau khi nhận được Công văn số 887/UBND-TN&MT cho Công ty Nam An mượn đất, HĐND xã đã có văn bản kiến nghị Huyện ủy, UBND huyện vì đây là diện tích đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đến năm 2020. Nếu xác định Cos 108 đến 120 là diện tích bán ngập thì giao cho bà con để bà con có đất yên tâm sản xuất. Việc huyện cho Công ty Nam An mượn là không phù hợp, sẽ gây bất bình trong nhân dân, dễ nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong xã hội, gây nhiều bất lợi cho công tác quản lý của chính quyền địa phương…
Khi được hỏi: Dựa trên cơ sở nào để UBND huyện ra Công văn số 887/UBND-TN&MT về việc đồng ý cho Công ty Nam An mượn khoảng 80 ha đất tại 2 xã Lương Sơn và Yên Nhân, ông Cầm Bá Xuân, Chủ tịch UBND huyện nói: Làm gì có chuyện UBND huyện có Công văn đồng ý cho Công ty Nam An nào đó mượn đất(!?). Nhưng khi chúng tôi đưa ra Công văn số 887/UBND-TN&MT có chữ ký của chính ông Xuân, thì ông Xuân nói: Cả năm tôi ký nhiều công văn quá nên không nhớ hết, có lẽ là tôi quên, mong anh thông cảm!.
tranh chap dat dai 2
Khu đất UBND huyện Thường Xuân cho Công ty Nam An mượn

Rõ ràng việc UBND huyện Thường Xuân ban hành Công văn số 887/UBND-TN&MT về việc đồng ý cho Công ty Nam An mượn khoảng 80 ha là trái với khoản 1, khoản 2, Điều 37 Luật Đất đai quy định: “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư”. Vả lại trong Công văn “cho mượn” cũng không đả động gì đến nghĩa vụ, quyền lợi của các bên và cũng không có thời gian cho mượn!.
Dư luận đặt câu hỏi: Vì sao ông Chủ tịch UBND huyện lại trả lời quanh co, cố tình che giấu sự thật?. Phải chăng việc UBND huyện cho Công ty Nam An mượn 80 ha đất là vì mục đích cá nhân, trá hình?. Đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa cần sớm điều tra, làm rõ những khuất tất trên, xử lý nghiêm minh những tập thể, cá nhân vì lợi ích riêng cố tình vi phạm pháp luật./.
Bài & ảnh: Tuyết Trang
Tainguyenmoitruong.com.vn

Giải quyết tranh chấp đất rừng trồng tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm (Đại Lộc): Chờ xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất

Do không thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng diện tích rừng được giao đã dẫn đến tranh chấp giữa các nhóm hộ khi UBND tỉnh có chủ trương thu hồi đất rừng tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm (xã Đại Sơn)…

Ngày 12.2.2014, UBND tỉnh có Thông báo số 41/TB- UBND về chủ trương thu hồi đất tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm để xây dựng bãi tập kết nguyên liệu phục vụ hoạt động của Nhà máy xi măng Xuân Thành (thuộc Tập đoàn Xuân Thành). Sau khi triển khai thông báo về chủ trương thu hồi của UBND tỉnh, UBND xã Đại Sơn cùng các đơn vị chức năng đã mời các hộ dân có diện tích đất rừng trồng bị thu hồi đi thực tế xác định ranh giới. Ngày 3.3.2014, UBND xã Đại Sơn có Thông báo số 10/TB- UBND niêm yết công khai bản đồ đo đạc địa chính công trình: bãi chứa nguyên liệu phục vụ Nhà máy Xi măng Xuân Thành. Trong thời gian niêm yết đã có một số hộ trong và ngoài xã gửi đơn tranh chấp và đề nghị giải quyết vì cho rằng trong khu vực đất bị thu hồi có diện tích đất của họ. Cụ thể, ông Lê Tranh (xã Đại Quang) và Nguyễn Văn Nhanh (xã Đại Đồng) đại diện cho nhiều hộ khác (sau đây gọi là nhóm hộ ông Lê Tranh) có đơn tranh chấp với các hộ ông Hồ Văn Cảnh, Nguyễn Sáu (xã Đại Sơn), Lê Văn Tùng, Lê Văn Khôi, Lê Quốc Toàn, Từ Văn Thắng, Lương Nam (có hộ khẩu ngoài xã Đại Sơn) cùng nhiều hộ khác (sau đây gọi là nhóm hộ ông Cảnh). Do đó, nhóm hộ ông Cảnh đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng nhờ can thiệp, bảo vệ quyền lợi.

tranh chap dat dai

Khi UBND tỉnh có chủ trương thu hồi đất rừng tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm thì xảy ra tranh chấp giữa các nhóm hộ ở địa phương. Ảnh: HÀN GIANG

Vậy ai là chủ sở hữu rừng trồng tại Khe Hoa – Suối Lấm? Và cơ sở nào để nhóm hộ ông Lê Tranh có đơn tranh chấp với nhóm hộ ông Cảnh?

Qua tìm hiểu được biết, năm 1996, sau khi giải thể, Lâm trường Đại Lộc giao cho nhóm hộ ông Lê Tranh – là cán bộ nhân viên lâm trường 120ha rừng tại xã Đại Sơn để trồng rừng. Tuy nhiên, theo ông Dương Tài Liệu – Chủ tịch UBND xã Đại Sơn, nhóm hộ của ông Lê Tranh chỉ trồng được khoảng 30ha tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm, diện tích còn lại do các hộ dân trong và ngoài địa phương phát trồng. Ngoài ra, do việc quản lý, sử dụng đất rừng của nhóm hộ ông Lê Tranh không hiệu quả nên trong diện tích 30ha này đã bị nhóm hộ ông Cảnh xâm lấn, phát dọn, canh tác từ nhiều năm qua. Đến nay, các hộ này vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.

Báo cáo số 12/BC-UBND ngày 24.4.2014 của UBND xã Đại Sơn gửi UBND huyện Đại Lộc có đề cập: Tại điều 02 trong giấy tờ giao đất cho nhóm hộ ông Lê Tranh của Lâm trường Đại Lộc nêu rõ: “Nếu trong vòng hai năm chủ hộ nhận đất mà không canh tác thì Nhà nước thu hồi diện tích đó”. Thêm nữa, theo trích lục đo địa chính từ tờ bản đồ quy hoạch (tháng 10.2007) dự án xây dựng bãi tập kết nguyên liệu và qua thực tế hiện trạng sử dụng đất hiện nay, có thể nhận thấy việc nhóm hộ ông Lê Tranh sử dụng giấy tờ giao đất của Lâm trường Đại Lộc làm chứng cứ pháp lý minh chứng cho quyền sở hữu đất rừng tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm là chưa phù hợp với quy định pháp luật.

Theo ông Dương Tài Liệu, diện tích đất bị thu hồi xây dựng bãi tập kết nguyên liệu của Nhà máy Xi măng Xuân Thành là khoảng 7,2ha. Hiện địa phương đã bàn giao hơn 1,8ha để thi công công trình. Ông Liệu cũng cho biết, năm 2007, UBND xã Đại Sơn phối hợp với đoàn đo đạc của tỉnh đi đo đạc đất theo hiện trạng thực tế để lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân. Từ thời điểm đó đến nay nhóm hộ ông Lê Tranh không có ý kiến gì và cũng không thực hiện việc đo đạc thực tế để xét cấp đất. Qua kiểm tra, nhóm hộ ông Lê Tranh chỉ có trích lục bản đồ do các đời Chủ tịch xã trước ký, chưa có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền. “Ông Tranh cho rằng các hộ trên lấn chiếm đất của ông vào các năm 2012, 2013 là không đúng thực tế. Vì các hộ bị ông Lê Tranh tranh chấp đều thể hiện ở bản đồ lâm nghiệp 1/10.000 năm 2007 của xã. UBND xã Đại Sơn xét thấy, từ năm 2010 đến nay, không có đơn tranh chấp giữa các hộ dân, nhưng khi có chủ trương thu hồi đất giao cho Tập đoàn Xuân Thành làm bãi tập kết vật liệu thì lại xảy ra tranh chấp là điều bất hợp lý. Do đó, UBND xã Đại Sơn đã báo cáo vụ việc lên các ngành chức năng của huyện để có hướng giải quyết” – ông Liệu nói.

Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Quốc Khánh – Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đại Lộc cho biết, UBND huyện Đại Lộc vừa giao cho Phòng Tài nguyên và môi trường phối hợp với các ngành liên quan cùng chính quyền xã Đại Sơn tiến hành kiểm tra thực tế hiện trạng sử dụng đất, xác minh làm rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các nhóm hộ đang xảy ra tranh chấp tại khu vực Khe Hoa – Suối Lấm. Phòng Tài nguyên và môi trường sẽ sớm có kết luận để tham mưu UBND huyện giải quyết dứt điểm vụ việc, tránh để xảy ra “điểm nóng” phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn.

HÀN GIANG

Baoquangnam.com.vn