Monthly Archives: Tháng Bảy 2014

Khó như thu tiền DVMTR

Thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các địa phương đã tích cực triển khai nhiều biện pháp thu và thu nợ tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Tuy nhiên, công tác thu nợ tiền DVMTR vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời. Nhiều DN vẫn cố tình dây dưa trả nợ tiền DVMTR khiến cho việc phục hồi, bảo vệ rừng ở nhiều khu vực miền núi càng thêm khó khăn.

Đơn cử, ở miền núi Quảng Nam, chính sách chi trả DVMTR vừa giúp người dân xóa đói giảm nghèo, vừa buộc các đối tượng hưởng lợi có nghĩa vụ tái tạo diện tích rừng đã mất. Tiền chi trả DVMTR tạo ra nguồn sống thiết thực cho người dân an tâm giữ rừng bền vững.

Thực tế, những lưu vực thủy điện mà người dân được nhận tiền khoán bảo vệ rừng thường ít xảy ra tình trạng phá rừng. Theo chính quyền các huyện Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My (Quảng Nam), DVMTR làm thay đổi nhận thức về bảo vệ rừng, giúp người dân tuân thủ nguyên tắc giữ rừng theo các quy định của Nhà nước mà không phá vỡ luật tục miền núi.

Ngược lại, những nơi chưa được nhận giao khoán bảo vệ, ý thức giữ rừng của người dân chưa cao. Những năm qua, các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch luôn chậm chi trả tiền. Hiện các DN thuộc diện phải trả tiền DVMTR tại Quảng Nam vẫn còn nợ hơn 11 tỷ đồng tiền DVMTR như: CTCP Thủy điện A Vương (thủy điện A Vương), CTCP Tư vấn xây dựng điện số 1 (thủy điện Sông Bung 5), CTCP Cơ khí áp lực Mạnh Nam (thủy điện Tà Vi), CTCP Cấp thoát nước Quảng Nam… Trong đó, CTCP Thủy điện A Vương nợ 7,4 tỷ đồng…

53d8667092272_medium

Chính quyền nên “mạnh tay” nếu DN cố tình dây dưa chậm trả tiền DVMTR-Ảnh Công Thái

Đối với Gia Lai, một trong những địa phương có diện tích rừng lớn tại Tây Nguyên cũng đang gặp phải nhiều khó khăn trong việc thu và thu nợ tiền DVMTR. Khó khăn nhất của địa phương hiện nay là việc thu nợ tiền DVMTR năm 2011, 2012 đối với các nhà máy thủy điện trên địa bàn. Hiện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng địa phương chỉ thu được tiền đối với các nhà máy thủy điện thực hiện bán theo giá thỏa thuận, còn lại các nhà máy thủy điện không thuộc diện này vẫn chưa thu được số tiền gần 25 tỷ đồng, một con số không hề nhỏ.

Theo đánh giá của chính quyền địa phương, nguyên nhân được xác định là tiền DVMTR của các cơ sở thủy điện chưa được bên mua điện là Tổng Công ty Điện lực miền Trung thực hiện chi trả (do năm 2012 trở về trước chưa có cơ cấu tiền DVMTR trong giá thành tiền điện). Trước thực tế này, UBND tỉnh Gia Lai nhiều lần kiến nghị Bộ Công Thương sớm có hướng chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng Công ty Điện lực miền Trung thực hiện chi trả tiền DVMTR của năm 2011 và 2012 cho các nhà máy thủy điện thuộc diện nói trên để các đơn vị này thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền DVMTR.

Ngoài ra, đối với lưu vực sông Kôn thuộc lưu vực liên tỉnh Gia Lai – Bình Định, khi công bố diện tích rừng cung ứng DVMTR của Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn A, nằm trên địa bàn Bình Định thì vẫn còn thiếu diện tích rừng cung ứng nên UBND tỉnh Gia Lai đã có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm xem xét, bổ sung phần thiếu để có cơ sở xác định diện tích rừng trong lưu vực chi trả đến từng chủ rừng, xây dựng phương án chi trả cho các chủ rừng khi thu được tiền.

Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Gia Lai, tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn 712.477 ha, trong đó diện tích rừng được hưởng DVMTR 493.579 ha. Tổng cơ sở sử dụng DVMTR đang quản lý thu 25 cơ sở, với 38 nhà máy thủy điện, nguồn thu bình quân 60 tỷ đồng/năm.

Theo kế hoạch năm 2014, số tiền DVMTR phải thu trên 57,4 tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm 2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã thu được hơn 36,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, công tác thu tiền DVMTR đang đối mặt với nhiều khó khăn, một trong những yếu tố là do một số cơ sở sử dụng DVMTR không nộp hoặc chậm nộp, cố tình trì hoãn, chây ỳ trong việc nộp.

Trong khi chế tài xử lý chưa đủ mạnh để buộc những đơn vị này thực hiện nghiêm chính sách. Do vậy cần thiết phải có chế định xử phạt hành chính kể cả việc phong tỏa tài khoản giống như trong lĩnh vực thuế, để công tác thu nộp tiền DVMTR có hiệu lực và hiệu quả hơn…

Trước thực trạng chây ỳ của các chủ DN, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo thu hồi giấy phép đầu tư đối với các DN cố tình chậm nộp hoặc không nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR. Đồng thời, kiến nghị EVN ngưng thu mua điện của những đơn vị không chấp hành việc nộp tiền chi trả DVMTR theo đúng quy định…

Thiết nghĩ, để tháo gỡ những hạn chế đối với công tác thu tiền DVMTR, Chính phủ cần sớm xây dựng và ban hành quy định, chế tài xử lý vi phạm đối với các đơn vị không nộp hoặc chậm nộp tiền DVMTR để chính quyền các địa phương có cơ sở triển khai. Ngoài việc đưa các DN “nợ rừng” công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay, chính quyền các địa phương cần tiếp tục rà soát, đôn đốc các nhà máy thực hiện nghĩa vụ. Nếu DN cố tình kéo dài, UBND tỉnh, thành cần có hình thức xử lý mạnh tay hơn..

Công Thái/baomoi.com

Đắk Lắk: Hệ lụy từ nạn mua bán đất rừng trái phép

Từ việc sang nhượng, mua bán trái phép 68,2ha đất rừng của một số hộ dân đã dẫn đến căng thẳng, xung đột “nảy lửa” giữa 29 hộ đồng bào dân tộc ở các xã Ea Kiết, Ea Tar, Ea Hđing, Ea Mroh với Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (Cty Buôn Ja Wầm). Trước diễn biến “nóng” này, lãnh đạo địa phương lại “án binh bất động” vì cho rằng cưỡng chế “rất khó”.

anh_1_mua_ban_dat_rung

29 hộ đánh dấu lãnh thổ của mình cấm người khác xâm phạm. Ảnh: Quỳnh Anh

Sang nhượng trái phép

Cty Buôn Ja Wầm được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất kinh doanh 8.89,28ha rừng và đất rừng nằm trên địa bàn 2 xã EaKuêh, Ea Kiết (huyện Cư M’gar, Đắk Lắk). Năm 2008, thực hiện Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc: “Tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng”, Cty Buôn Ja Wầm kết hợp với UBND huyện Cư M’gar tiến hành giải tỏa toàn bộ hoa màu, lều lán đã trồng và xây dựng trái phép trên đất rừng của lâm trường tại lô 2, lô 3 khoảnh 13 thuộc tiểu khu 547A. Lúc này, biết không thể tiếp tục xâm canh trái phép lâu dài trên những diện tích này, một số hộ dân đã tổ chức mua bán, sang nhượng trái phép 68,2ha đất rừng cho 29 hộ đồng bào dân tộc ở các xã Ea Kiết, Ea Tar, Ea Hđing, Ea Mroh với số tiền lên đến 2.043.300.000 đồng.

Sau khi bỏ tiền mua đất, 29 hộ dân tiến hành gieo trồng hoa màu, xây dựng lều lán quyết tâm bám trụ sản xuất trên đất rừng. Phát hiện vụ việc, Cty Buôn Ja Wầm đã tiến hành giải tỏa trong quyền hạn và trách nhiệm của mình. Thực hiện Công văn số 546/SNNNT-CCLN ngày 30/5/2008 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt đồng ý cho Cty tổ chức trồng lại rừng bằng cây keo lai giâm hom trên toàn bộ diện tích bị 29 hộ dân lấn chiếm. Đồng thời, cho bà con làm đơn xin nhận khoán trồng rừng và ăn chia lợi nhuận sản phẩm theo hợp đồng.

anh_3_mua_ban_dat_rung

Hàng chục ha rừng bị cạo trọc, thay thế toàn bắp và hoa màu. Ảnh: Quỳnh Anh

 

Thế nhưng, việc làm của Cty đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của 29 hộ dân. Bà con đã kéo nhau “dọn sạch” rừng do Cty trồng, thay thế rừng bằng hoa màu. Ông Triệu Tiến Thuận (thôn 2, xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar) nói: “Năm 2008, tôi từ Đắk Nông lên mua lại đất này của đồng bào người Kinh. Thời điểm mua đất trên địa bàn Buôn Ja Wầm không có bìa đỏ nên tôi không biết vị trí đó nằm trong khu vực do lâm trường quản lý. Vét sạch tài sản mua được miếng đất, giờ lâm trường thu đất sao sống được. Tôi muốn có đất để làm ăn. Cho dù xảy ra chém giết trong rừng tôi cũng chấp nhận”.

Cùng hoàn cảnh với ông Thuận, ông Dương Phúc Tài bức xúc: “Năm 2011, tôi mua lại 3,5 ha với số tiền 220 triệu đồng. Thấy không có tranh chấp gì nên tôi mới mua. Đang sản xuất thì nhân viên của Cty vào phá hoa màu. Nếu lâm trường lấy đất, chúng tôi không có đất để canh tác”.

 

Với vai trò và trách nhiệm của mình trong việc quản lý, bảo vệ rừng, năm 2012, thực hiện Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng, xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh, Cty lại tiến hành giải tỏa lều lán, phá bỏ hoa màu để trồng rừng. Điều này đã khiến căng thẳng và xung đột với người dân trở nên nghiêm trọng hơn khi 29 hộ dân ra sức chống đối.

Đỉnh điểm là vụ 22 người dân vây đánh nhân viên của Cty khi đang làm nhiệm vụ. “Người dân thực sự hung dữ, họ không những chửi bới mà còn dùng đá ném vào chúng tôi. Đợt đó tôi may mắn chạy thoát, nhưng anh Thành đồng nghiệp tôi thì bị đánh phải nhập viện”, anh Nguyễn Văn Hà, nhân viên của Cty cho biết.

 

Ông Dương Văn Sơn, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Cty Buôn Ja Wầm xác nhận: “Vụ việc kéo dài đã nhiều năm, Cty dù rất nỗ lực để giữ rừng nhưng người dân quá cố chấp. 4 lần họp dân, có UBND huyện và xã đứng ra tuyên truyền, giải thích nhưng dân không những không nghe mà còn cố ý xây dựng nhà ở kiên cố. Đến nay, các hộ trên đã dựng 19 nhà lợp bằng tôn, còn cắm bảng đánh dấu lãnh thổ của 29 hộ cấm mọi người xâm phạm”.

Huyện “khó” thực hiện chỉ đạo của tỉnh

Trước diễn biến phức tạp và xung đột ngày càng lớn giữa Cty Buôn Ja Wầm với 29 hộ dân, ngày 3/6/2013, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Công văn số 3257/UBND/NN&MT về việc giải quyết đơn khiếu nại của 29 hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, UBND tỉnh giao UBND huyện Cư M’gar thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc mua bán, sang nhượng trái phép để kiểm tra, xử lý theo quy định, nhằm bảo đảm quyền lợi cho các hộ dân cũng như sớm giao trả diện tích đất để Cty Buôn Ja Wầm tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định.

anh_4_mua_ban_dat_rung

Rừng bị người dân đốn hạ không thương tiếc. Ảnh: Quỳnh Anh

Tiếp đến, ngày 29/4/2014, UBND tỉnh tiếp tục ra Công văn số 2867/UBND-NNMT giao UBND huyện tổ chức cưỡng chế, giải tỏa diện tích đất rừng do 29 hộ lấn chiếm, sang nhượng trái phép. Thế nhưng, theo tìm hiểu của phóng viên, đến thời điểm hiện tại, lệnh cưỡng chế vẫn còn nằm trên giấy. Chính quyền huyện chưa có động thái nào để chấm dứt tình trạng trên.

Trao đổi với phóng viên, ông Trương Văn Chỉ, Phó Chủ tịch UBND huyện Cư M’gar bày tỏ: “Thực hiện cưỡng chế theo Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ cùng Chỉ thị 03/CT-UB của UBND tỉnh về xử lý vi phạm về phá rừng, xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh, huyện không thể thực hiện cưỡng chế…”.

Cũng theo ông Chỉ, muốn cưỡng chế hành chính phải có biên bản xử lý vi phạm, xử phạt hành chính. Việc bắt quả tang họ phá rừng để xử lý vi phạm là bất khả thi. “Không chỉ có huyện tôi mà tất cả các huyện đều đau đầu khi vướng phải điều này. Nhổ bỏ cây trồng thì còn có thể, chứ cưỡng chế thì rất khó. Tỉnh giao nhưng chúng tôi… chưa tiến hành được”, ông Chỉ khẳng định.

Quỳnh Anh/ thanhtra.com

 

 

Rà soát đất sản xuất với đất rừng tại Ba Vì

KTĐT – Ngày 26/7, tại huyện Ba Vì, Đoàn công tác của Bộ NN&PTNT do Bộ trưởng Cao Đức Phát dẫn đầu đã làm việc với UBND TP Hà Nội và huyện Ba Vì về giải quyết các vấn đề liên quan giữa Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì với sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Tại buổi làm việc, những vướng mắc về đất đai giữa VQG Ba Vì với các địa phương tồn tại lâu năm đã bước đầu có hướng tháo gỡ.
Dân thiếu đất
Nằm ở sườn Tây của VQG Ba Vì, xã Ba Vì, huyện Ba Vì là một trong những xã gặp khó khăn nhiều nhất về đất sản xuất. Diện tích tự nhiên của xã lớn, khoảng 2.500ha nhưng có tới 2.200ha đất thuộc VQG Ba Vì, trong khi đất nông nghiệp để cấy lúa chỉ còn lại 22,62ha. Ông Dương Trung Liên – Chủ tịch UBND xã Ba Vì chia sẻ, diện tích này chỉ đảm bảo lương thực cho người dân trên địa bàn được 2 tháng. Thiếu đất sản xuất, đời sống của người dân xã Ba Vì gặp nhiều khó khăn, bình quân thu nhập đầu người hiện mới đạt 7,4 triệu đồng/người/năm, ở mức thấp nhất toàn TP và tỷ lệ hộ nghèo cao nhất TP (35,7%). “Với tình hình này, xã rất khó để hoàn thành xây dựng nông thôn mới vì không có đất để quy hoạch sản xuất” – ông Liên lo ngại.

dan

Có nghề làm thuốc Nam nhưng người dân xã Ba Vì, huyện Ba Vì lại thiếu đất trồng cây dược liệu. Ảnh: Quang Thiện

Không chỉ riêng xã Ba Vì, nhiều xã khác trên địa bàn huyện Ba Vì cũng đang gặp vấn đề tương tự. Tại xã Khánh Thượng, người dân chủ yếu sống dựa vào chăn nuôi và ngành nghề khác vì phần lớn diện tích đã thuộc vào VQG Ba Vì. Thậm chí, theo lãnh đạo xã, một số quả đồi độc lập (diện tích khoảng 100ha) có cao độ trên 100m một chút mà người dân canh tác lâu năm nhưng vẫn bị nhập vào diện tích của VQG Ba Vì gây bức xúc trong người dân. Tại xã Vân Hòa, sau khi Nông trường Việt – Mông cổ phần hóa thành Công ty CP Việt – Mông, một bộ phận dân cư đã được giao cho địa phương và thành lập các đơn vị hành chính thôn, cụm dân cư. Tuy nhiên, phần đất đai đến nay vẫn chưa được bàn giao gây khó khăn cho đời sống người dân và công tác quản lý của địa phương.
Theo UBND huyện Ba Vì, tổng diện tích VQG Ba Vì từ ranh giới cao độ 100m trở lên thuộc địa bàn huyện là 6.136,7ha. Diện tích bàn giao về cho 7 xã miền núi quản lý theo Quyết định số 539/QĐ-UBND ngày 28/3/2007 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) là 297,5ha. Tuy nhiên, hiện nay, trên thực địa chưa bàn giao 76,6ha cho xã Vân Hòa, 20,2ha cho xã Minh Quang. Ông Lê Văn Minh – Chủ tịch UBND huyện Ba Vì cho biết, ranh giới cao độ 100m không phân định rõ ràng, nhiều vị trí không tìm thấy mốc giới nên khó xác định. Trong khi đó, VQG Ba Vì lại chưa thanh lý dứt điểm các hợp đồng khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với các hộ trước đây nên gây khó khăn cho công tác quản lý, giao cho thuê tiếp.
Sớm rà soát, giao đất cho địa phương
Trước tình trạng thiếu đất sản xuất, tại buổi làm việc, đại diện cả 7 xã miền núi trong khu vực VQG Ba Vì và UBND huyện Ba Vì đều kiến nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo sớm bàn giao diện tích đất dưới cao độ 100m cho địa phương. Đồng thời, bàn giao dứt điểm diện tích đất của các nông, lâm trường sau cổ phần hóa về cho địa phương quản lý. Một số xã đề nghị để cho người dân được trồng rừng kết hợp với sản xuất trên diện tích đất tự nhiên từ cao độ 400m trở xuống. Bên cạnh đó, đề nghị Bộ NN&PTNT, UBND TP có cơ chế, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc miền núi phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TP Trần Xuân Việt cũng đề nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng kế hoạch, lộ trình bàn giao dứt điểm diện tích dưới cao độ 100m cho địa phương. Trên diện tích ấy, rà soát lại các loại cây trồng để vừa đảm bảo phủ xanh đồi đất dốc, vừa mang lại giá trị kinh tế cho người dân. Phó Chủ tịch cũng đề nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị phối hợp với UBND TP xây dựng một chương trình, đề án phối hợp phát triển sản xuất cho các xã đồng bào dân tộc miền núi trên địa bàn TP.
Ghi nhận những ý kiến đề xuất, kiến nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát giao Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với VQG Ba Vì có kế hoạch cụ thể làm việc với từng xã để giao các diện tích đất dưới cao độ 100m. Đồng thời, làm rõ các vướng mắc về ranh giới trên thực địa giữa diện tích VQG Ba Vì với diện tích sản xuất của địa phương và cắm mốc để tất cả mọi người dân đều biết. Thời gian để hoàn thành công tác này là trong vòng 3 tháng. Bộ trưởng cũng lưu ý, với những diện tích đồi độc lập nên bàn giao cho địa phương quản lý. Nguyên tắc rà soát đất đai là tạo điều kiện tối đa cho đồng bào dân tộc địa phương tham gia vào khai thác những lợi ích kinh tế từ rừng nhưng không phá vỡ tiêu chí, quy định đã đề ra.

Thien Tu/baomoi.com

Cà Mau: 129 hộ nghèo dân tộc thiểu số được giao đất

6 tháng đầu năm nay, Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau đã triển khai sâu rộng công tác dân tộc trên địa bàn, trong đó tập trung phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS như: Hoàn thành 6 công trình giao thông nông thôn từ nguồn vốn Chương trình 135; thực hiện giao đất ở và đất sản xuất cho gần 129 hộ đồng bào DTTS nghèo trên địa bàn huyện Trần Văn Thời; thực hiện chính sách đối với người có uy tín với số tiền là 523,848 triệu đồng; cấp phát 19 đầu báo, với số lượng 141.100 tờ báo và tạp chí đến các địa chỉ, danh mục cần phát hành…

Dự kiến 6 tháng cuối năm 2014, Ban Dân tộc tỉnh tiếp tục tăng cường việc chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách dân tộc trên địa bàn…

Tú An
danviet.vn

Tan nát rừng Kon Plông

(Thanh tra)- Được mệnh danh là “Đà Lạt thứ hai ở Tây Nguyên” với hệ thống rừng nguyên sinh, rừng thông phòng hộ bao phủ, tuy nhiên, từ đầu năm 2014 đến nay, nhiều diện tích rừng tại Khu Du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) đang bị xâm hại nghiêm trọng. Để lấy gỗ và đất sản xuất, lâm tặc và người dân đã tàn phá hàng loạt cánh rừng, với nhiều chủng loại quý.

8-wp_20140616_012

Nhiều vạt rừng ở huyện Kon Plông bị triệt hạ để trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày. Ảnh: Trung Đức

Măng Đen – Kon Plông được du khách gần xa biết đến là một khu nghỉ dưỡng đầy tiềm năng, cần được khám phá. Nhiều năm qua, cả khu du lịch sinh thái quốc gia này được bao phủ bởi ngút ngàn thông xanh và hệ thống rừng nguyên sinh, tạo nên khí hậu mát mẻ, trong lành, làm nên “phần hồn” của xứ sở du lịch vùng Đông Trường Sơn.

Mới đây thôi, quãng năm 2012, theo quốc lộ 24 vượt đèo Măng Đen, du khách sẽ đi xuyên qua khu trồng rau, hoa xứ lạnh, qua những khu rừng già dày kín, đầy thác ghềnh. Giữa những con đường bê tông mới được mở, rừng hai bên đường che kín khiến người đi dưới tán rừng có cảm giác thư thái, hài hòa với thiên nhiên, cây cỏ.

Từ đầu năm 2014 đến nay, khách bộ hành đi từ chân đèo Măng Đen về đến trung tâm các xã của huyện Kon Plông chứng kiến cảnh rừng nguyên sinh bị tàn phá không thương tiếc, dễ thấy sự thay đổi qua từng tháng. Dọc theo tỉnh lộ 626 và quốc lộ 24B, hàng trăm ha rừng cổ thụ đã bị chặt hạ để trồng sắn, cà phê, nương rẫy được mọc lên san sát. Quan sát bằng mắt thường, chúng tôi dễ dàng nhận thấy nhiều cánh rừng vừa mới bị đốn ngã, cây lớn, cây bé nằm ngổn ngang, có những đám bị đốt cháy nham nhở.

Theo vết xe “reo”, loại xe đặc chủng để kéo gỗ trong rừng già tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, chúng tôi đi sâu vào những cánh rừng ở xã Măng Cành, chứng kiến một “công xưởng” lớn. Có chỗ, lâm tặc dùng cưa lốc hạ cây xuống rồi để đó; một vài chỗ khác, cây gỗ lớn 2, 3 người ôm bị hạ xuống và “xẻ thịt” ngay tại chỗ. Hiện trường còn vương vãi lại các tấm ván gỗ bìa, bột cưa, các khúc gỗ ngắn, dài khác nhau… Ở các xã Ngọc Tem, Măng Bút, Đắk Tăng… cách xa trung tâm huyện Kon Plông, rừng bị phá nặng hơn. Những khoảnh cây đứng được chừa lại sát tuyến đường để che mặt người đi đường nhưng vào sâu hơn bên trong, hình ảnh rừng ngã rạp còn tươi gốc hết sức đau xót. Một thực tế đang diễn ra: Rừng nguyên sinh ở huyện Kon Plông đã rỗng ruột.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Lân, Chủ tịch UBND huyện Kon Plông cho hay có biết tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra trên địa bàn huyện. Theo ông Lân, rừng ở huyện Kon Plông rất dày, là niềm tự hào để thu hút khách du lịch đến với Khu Du lịch Sinh thái Quốc gia Măng Đen nhưng hiện việc giữ rừng cũng rất cam go. “Tại địa bàn xã Măng Cành, những cánh rừng vừa bị phá, cơ quan chức năng của huyện đã lập biên bản xử phạt. Trong năm nay, huyện sẽ trồng lại 100ha rừng thông ở những địa bàn bị người dân phá rừng để trồng sắn và các loại hoa màu. Riêng tình trạng lâm tặc lén lút khai thác ở những cánh rừng tự nhiên ở xã Măng Cành, lãnh đạo UBND huyện chưa nghe ngành chức năng của huyện báo cáo. Chúng tôi sẽ chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp chính quyền cơ sở kiểm tra cụ thể”, ông Nguyễn Văn Lân nói.

Trung Đức
thanhtra.com.vn

 

 

Bắt một giám đốc doanh nghiệp về tội lừa bán đất rừng

(TNO) Ngày 22.7, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam Lương Thị Thắm (61 tuổi, trú tại xã Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước), giám đốc doanh nghiệp Đại Phát Lộc, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

7-Luong-Thi-Tham.jpg;pvb94239e76ea3f4dc

Lương Thị Thắm tại cơ quan công an- Ảnh Phan Bá

Theo kết quả điều tra, năm 2009 doanh nghiệp Đại Phát Lộc do Lương Thị Thắm làm giám đốc đã liên doanh liên kết với Công ty lâm nghiệp Quảng Tín (huyện Đắk Lấp, tỉnh Đăk Nông) để triển khai các dự án trồng cao su, quản lý,  bảo vệ và phát triển rừng với diện tích 398 ha tại tiểu khu 1525 thuộc địa phận xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức.

Do không có năng lực, điều kiện để thực hiện dự án nên doanh nghiệp Đại Phát Lộc chỉ xin  thuê 159 ha để thực hiện dự án nông lâm nghiệp. Năm 2012, UBND tỉnh Đắk Nông có công văn về việc tạm dừng xét duyệt hồ sơ thuê đất của DNTN Đại Phát Lộc và giao lại toàn bộ diện tích 159 ha nói trên cho Công ty lâm nghiệp Quảng Tín quản lý và bảo vệ….

Sau khi nhận được công văn của UBND tỉnh, Lương Thị Thắm tung tin doanh nghiệp Đại Phát Lộc được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lý sử dụng 159 ha diện tích đất trên, nhưng do thiếu vốn làm ăn, nên muốn chuyển nhượng cho người khác. Ngày 7.12.2012, ông Trần Huy Hoàng (trú tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) đã gặp Lương Thị Thắm, thỏa thuận mua toàn bộ diện tích trên với số tiền 5,5 tỉ đồng, đặt cọc trước 500 triệu

Đến thời hạn giao đất như thỏa thuận, không thấy Lương Thi Thắm giao đất, ông Hoàng kiểm tra thì mới phát hiện diện tích đất mà Thắm bán cho mình là đất thuộc Công ty lâm nghiệp Quảng Tín quản lý, bảo vệ. Ông Hoàng đã làm đơn tố cáo hành vi của Lương Thị Thắm gửi đến các cơ quan chức năng.

Tin, ảnh: Phan Bá

Đất rừng thành trang trại!

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã có lần nói: “300 công ty nhưng nắm giữ diện tích rất lớn, hiệu quả thấp. Hoạt động của các Công ty TNHH MTV nông, lâm nghiệp dù đã chuyển đổi rồi, nhưng tôi đi các nơi thấy ngoại trừ một số tập đoàn, tổng công ty như cao su, cà phê có đổi mới, còn lại cơ bản là bình mới rượu cũ chứ chưa có gì thay đổi cả”.

Sở hữu đất chưa rõ chưa đổi mới được

“Hiện vẫn còn khoảng 30% đến 40% các công ty nông, lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) hoạt động không hiệu quả, thua lỗ”, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết khi nói về triển khai Nghị quyết số 30 – NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

6-53cc75e4e4a73_medium

Cốt lõi quản lý các công ty nông, lâm nghiệp là siết chặt quản lý đất đai-Ảnh Tri Nhân

Thống kê cho biết, hiện 319 công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý gần 2,8 triệu ha đất, nhưng có tới 5% diện tích đang để hoang hóa và có tới 50% diện tích đất chưa thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có những công ty doanh thu chỉ vài tỷ đồng một năm, có công ty chỉ có 1 tỷ đồng vốn điều lệ, thậm chí còn thấp hơn, có công ty lương công nhân chỉ 1 triệu đồng/tháng.

10 năm trước, tháng 6/2003, Bộ Chính trị cũng đã có Nghị quyết số 28-NQ/TW cũng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của nông lâm trường quốc doanh. Mục tiêu của các Nghị quyết là đổi mới cơ chế quản lý, quản trị công ty, quản lý chặt đất đai, tài nguyên rừng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến, liên kết sản xuất giữa công ty với các hộ dân trên địa bàn…

Thế nhưng sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28, kết quả lớn nhất có thể thống kê là đã giảm số lượng các nông, lâm trường quốc doanh và hầu hết các nông, lâm trường quốc doanh đã chuyển thành các công ty nông, lâm nghiệp.

Nhưng, không chỉ phần lớn các công ty này đang thua lỗ mà còn nảy sinh các vấn đề khiến dân thì bức xúc, chính quyền địa phương và ngay lãnh đạo công ty cũng đau đầu. Nơi thì xảy ra tranh chấp đất đai giữa nông, lâm trường với dân địa phương, nơi thì đất nông, lâm trường để hoang hóa nhưng dân nơi đó thiếu đất sản xuất, đói nghèo nhiều… Nơi thì dân lấn đất lâm trường, nơi thì đất lâm trường giao khoán bị dân đem bán trao tay… Nơi thì nông lâm trường gọi là giao khoán nhưng thực chất là khoán trắng, phát canh thu tô…

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã có lần nói: “300 công ty nhưng nắm giữ diện tích rất lớn, hiệu quả thấp. Hoạt động của các Công ty TNHH MTV nông, lâm nghiệp dù đã chuyển đổi rồi, nhưng tôi đi các nơi thấy ngoại trừ một số tập đoàn, tổng công ty như cao su, cà phê có đổi mới, còn lại cơ bản là bình mới rượu cũ chứ chưa có gì thay đổi cả”.

Một trong những khúc mắc lớn nhất trong quá trình đổi mới nông lâm trường là vấn đề đất đai, xác định ranh giới để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đất rừng thành trang trại. Xử lý thế nào?

Quanh câu chuyện đất đai, phóng viên TBNH đã đề cập đến 10.000 m2 đất của Phủ Thành Chương vốn là đất rừng phòng hộ thuộc một công ty lâm nghiệp, 13.000 m2 đất trang trại của ca sỹ Mỹ Linh cũng được làm trên diện tích đất vốn để trồng rừng. Hay như ngay gần Hà Nội, 10 triệu m2 đất thuộc CTCP Việt Mông cũng đã được bán trao tay mà 70% số người mua đất đang sống ở Hà Nội. Đây là những trường hợp đất công ty nông, lâm nghiệp giao khoán cho các hộ dân địa bàn và người nhận khoán đã bán trao tay. Trên toàn quốc đã xảy ra không ít những trường hợp này. Vậy, liệu những mảnh đất này có được hợp pháp hóa hay không?

Ông Phạm Quốc Doanh – Phó trưởng ban chuyên trách Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN cho rằng, cốt lõi đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp là siết chặt quản lý đất đai.

Ông Doanh cho biết, đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng đất đai là nội dung quan trọng trong 4 nội dung của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 30 mà Chính phủ đã đặt ra. Trong đó, đến năm 2015 phải hoàn thành việc chuyển giao đất và hồ sơ đất không có nhu cầu sử dụng, hiệu quả sử dụng thấp, hoang hóa, các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai về địa phương quản lý, sử dụng. Kiên quyết thu hồi đất giao lại cho địa phương khi nông, lâm trường không có nhu cầu sử dụng, hoặc sử dụng không đúng mục đích.

Ông Doanh cho biết, sẽ có quy định về trách nhiệm của các công ty nông, lâm nghiệp và Ủy ban Nhân dân tỉnh trong việc sử dụng, quản lý đất. Với đất công ty đang cho các tổ chức thuê, mượn thì phải thu hồi, nếu cho hộ gia đình hay cá nhân thuê mà được sử dụng đúng mục đích thì công ty giao khoán cho các hộ này theo quy định của pháp luật. Đất mà tổ chức, cá nhân thuê, mượn của công ty và sử dụng sai mục đích thì công ty giao về cho địa phương giải quyết theo quy định pháp luật về đất đai. Đất đang bị các hộ lấn chiếm, nếu nằm trong quy hoạch của công ty thì công ty giao khoán cho các hộ, nếu công ty không cần sử dụng diện tích đất này thì chuyển giao địa phương xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Doanh cũng lưu ý, những trường hợp đất khi giao về cho địa phương thì phải xử lý như thế nào, chứ không phải giao về cho địa phương rồi lại hợp thức hóa thì rất nguy hiểm. Ông nói, đất giao về cho địa phương trước hết phải ưu tiên cho đồng bào, những người không đất, thiếu đất trên địa bàn.

Thứ hai, với người đang nhận giao khoán với công ty, nhưng tất cả những người đang sử dụng đó cũng chỉ được giao đất không thu tiền sử dụng đất theo đúng quy định của Luật Đất đai. Giao đất không thu tiền sử dụng đất ấy cũng chỉ được cao hơn mức bình quân của dân trên địa bàn. Đây là vấn đề mấu chốt, nếu không được xử lý linh hoạt, cẩn trọng dễ dẫn đến khiếu kiện, mất ổn định chính trị trên địa bàn nông thôn, nếu không cẩn thận họ sẽ tận dụng để hợp thức hóa những cái lâu nay họ làm sai, những cái họ đang cần Nhà nước giao cho địa phương để địa phương cấp lại cho họ.

Các vấn đề khác không khó nhưng riêng vấn đề này cần phải có chính quyền địa phương vào cuộc để rà soát, xử lý tốt mối quan hệ giữa người dân và DN nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển. Nếu nghiêng về bên nào thì sẽ tạo ra sự phát triển lệch lạc.

Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chỉ đạo: Ở đâu cấp ủy Đảng, chính quyền vào cuộc mạnh mẽ, vận dụng sáng tạo Nghị quyết của Đảng, Chính phủ thì hoạt động của nông, lâm trường ở đó thành công.

                                                                                                                   Tri Nhân/baomoi.com

Họp HĐND Thừa Thiên – Huế: Cử tri bức xúc đất đai, môi trường

TTO – Sáng nay 16-7, kỳ họp thứ 8 HĐND tỉnh Thừa Thiên – Huế khóa VI khai mạc. Nhiều ý kiến của cử tri gửi về kỳ họp, trong đó nổi cộm là việc tỉnh thất hứa viec65 trả lại đất cho dân, vấn đề ô nhiễm môi trường và chậm xử lý dự án treo…

5-53c5d5536ee68_medium

Hơn 10 năm qua, người dân thôn Hòa Bình, xã Bình Thành (TX Hương Trà) vẫn còn chờ chính quyền trả lại đất rừng để sản xuất – Ảnh: Nguyên Linh

Cử tri thị xã Hương Trà và huyện Phú Lộc phản ánh hơn 800 hộ dân phải di dời để thực hiện dự án hồ chứa nước Tả Trạch vẫn chưa thể ổn định cuộc sống, họ vẫn mỏi mòn chờ đợi chính quyền cấp đất để sản xuất như thỏa thuận.

Nợ đất của dân 10 năm vẫn chưa trả

Theo thỏa thuận của ban quản lý dự án, tại nơi ở mới, người dân sẽ được cấp tối thiểu 1 ha đất để ở và làm vườn, riêng đất rừng được áp dụng hình thức “đất đổi đất”. Thế nhưng, đã hơn 10 năm trôi qua, người dân đã giao 1.000 ha đất thực hiện dự án mà vẫn chưa thấy tỉnh đổi lại đất mới để sản xuất. Cử tri đề nghị UBND tỉnh phải giải quyết dứt điểm vấn đề “đất đổi đất”, trả nợ đất đã thu hồi cho người dân ở xã Bình Thành, bản Phúc Lộc (xã Xuân Lộc) và Bến Ván (xã Lộc Bổn).

Riêng, cử tri huyện A Lưới kiến nghị tỉnh phải giải quyết dứt điểm công tác đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân bị thu hồi đất để thi công dự án nhà máy thủy điện A Lưới. Cử tri yêu cầu nếu trường hợp không có quỹ đất để trả lại người dân thì phải hỗ trợ bằng tiền. Cử tri huyện Phong Điền tiếp tục kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương bồi thường thiệt hại cho người dân ở xã Phong Sơn có diện tích đất và cây trồng bị ngập trong lòng hồ thủy điện Hương Điền.

Một 1m2 đất chưa bằng một tô bún

Cử tri TP Huế kiến nghị UBND tỉnh xem xét điều chỉnh giá đền bù đất trồng lúa, giá quá thấp và áp dụng rất tùy tiện. Theo ý kiến cử tri phường Thủy Xuân, trên cùng một thửa đất, những năm trước áp giá đền bù 41.000đ/m2, nhưng năm 2014 chỉ áp giá đền bù 19.000 đ/m2, giá trị một 1m2 đất chưa bằng một tô bún.

Cử tri TP Huế cũng phản ánh tình trạng hồ Tịnh Tâm – một cảnh quan nổi tiếng của kinh thành Huế – đang xuống cấp nặng nề, gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan đô thị, đề nghị tỉnh bố trí kinh phí để chỉnh trang, nạo vét. Đồng thời đề nghị tỉnh có các giải pháp xử lý đối với các dự án treo ở vị trí “đất vàng” tại đường Lý Thường Kiệt, Nguyễn Tri Phương; đề nghị tỉnh chỉ đạo nhà thầu đẩy nhanh tiến độ dự án cầu Đông Ba vì triển khai quá chậm trễ.

Cử tri phường An Hòa cho rằng việc áp giá đền bù khi thực hiện dự án chỉnh trang cửa ngõ phía Bắc ở đường Lý Thái Tổ chưa hợp lý. Người dân nộp thuế nhà đất theo giá đường loại 4C, nhưng khi thu hồi đất lại áp giá đền bù tính theo đường loại 5C, gây thiệt thòi cho người dân.

Cử tri một số huyện tiếp tục kiến nghị tỉnh giải quyết dứt điểm đối với các dự án “treo”. Ngoài ra, nhiều cử tri ở một số xã kiến nghị tỉnh khẩn trương giải quyết ô nhiễm.

NGUYÊN LINH/tuoitre.vn

Đổi mới nông lâm trường quốc doanh: Kêu gọi doanh nghiệp vào đầu tư

Ông Đinh Văn Khiết,  Phó chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk trao đổi với báo giới về Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

Thưa ông, để triển khai Nghị quyết 30, việc trước mắt mà Đăk Lăk sẽ triển khai là gì?

Hiện Đăk Lăk đã xây dựng đề án thực hiện Nghị quyết 30, đang trình lên Thường vụ Tỉnh ủy. Tỉnh Đăk Lăk có 9 công ty lâm trường và 15 công ty lâm nghiệp. Đối với các nông trường có 2 dạng: công ty cà phê và công ty cao su. Chúng tôi đang xây dựng các phương án sản xuất theo chỉ đạo chung của chính phủ; riêng các công ty lâm nghiệp hiện đang có một số tồn tại lớn.

4-53c5d5536ee68_medium

Đăk Lăk đề nghị chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt sang phát triển kinh tế nông nghiệp-Ảnh: Hà Sơn

Thứ nhất, rừng đang bị tranh chấp và lấn chiếm, chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng rất nhiều đến sinh thái sau này. Để xử lý vấn đề này có 2 nội dung lớn được đặt ra là: đất đai và tổ chức lại sản xuất. Về đất đai, theo chủ trương của Chính phủ, hiện nay cần thiết phải rà soát, sắp xếp tổ chức lại.

Nhưng để làm được việc đó, chúng tôi đề nghị Chính phủ sớm hỗ trợ kinh phí cho địa phương, rà soát, cắm mốc lập bản đồ địa chính giải quyết cho các công ty đó để có cơ sở sắp xếp lại.

Trên cơ sở đó tổ chức lại các loại rừng cần thiết, loại rừng nào để thực hiện theo hoạt động công ích và loại nào có thể kêu gọi các thành phần kinh tế liên doanh liên kết trồng lại rừng, hoặc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày khác.

Hiện mức độ tranh chấp đất rừng ở Đăk Lăk đang diễn ra như thế nào?

Tranh chấp đất rừng hiện nay rất nghiêm trọng. Tranh chấp giữa người dân mới đến với công ty, người dân sở tại với công ty, giữa một số đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất với công ty và sự tranh chấp này không phải như trước đây là người ta vào rừng khai thác gỗ, mua bán vận chuyển gỗ trái phép mà người dân tự ý phá rừng, chiếm đất và giữ đất.

Sau này, nếu có dự án nào vào hoặc cần thiết phục hồi lại rừng thì họ yêu cầu đền bù. Đây là một vấn đề rất bất cập, nếu như thực hiện theo hướng này sẽ tiếp tục khuyến khích cho dân phá rừng. Do đó, chúng tôi đề nghị có quan điểm chính thức đối với trường hợp người dân đã chiếm, sở hữu tài nguyên của quốc gia phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Về khai thác, sử dụng đất hiệu quả, Đăk Lăk có tính đến phương án dùng đất của những nông lâm trường làm ăn kém hiệu quả dành cho những dự án của các DN này không?

Đối với Đăk Lăk, chúng tôi đang xây dựng phương án tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng xanh, nâu và trắng. Xanh là về cây trồng, nâu là chúng tôi muốn biến sản phẩm cà phê của Đăk Lăk thành sản phẩm công nghiệp, qua rang xay, chế biến xuất khẩu chứ không sản xuất thô như hiện nay. Còn trắng chủ yếu là cao su.

Ngoài ra, chúng tôi đang kêu gọi 4 dự án đầu tư về bò sữa khoảng 1,5 tỷ USD của 4 tập đoàn… Chúng tôi đang xây dựng theo hướng như thế, đặc biệt là phát triển nuôi bò sữa. Hiện nay, các nhà đầu tư  cần quỹ đất phát triển đàn bò, do đó chúng tôi đang tiếp tục rà soát lại.

Đăk Lăk  đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành cho chuyển đổi một số diện tích rừng nghèo kiệt, rừng đã bị phá có thể không trồng lại được để chuyển sang phát triển bò sữa.

Xoay quanh Nghị quyết 30, ông có kiến nghị gì không?

Thứ nhất, Trung ương nên sớm cụ thể hóa hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị một cách đồng bộ. Nếu như chúng ta có chủ trương mà kéo dài sẽ gây ra hệ lụy sau này. Thứ hai, để tiếp tục rà soát cần sớm có quyết định về mức hỗ trợ kinh phí về rà soát, đo đạc, cắm mốc, trên cơ sở đó mới tổ chức lại, chuyển đổi lại được.

Thứ ba, xử lý cho được một số tồn tại như về đất đai, nợ của các DN hiện nay, đặc biệt là nợ có 2 hình thức: DN nợ ngân hàng không có nguồn để trả, người dân nhận khoán không nộp sản phẩm cho DN nên không có nguồn thu nhập. Nhiều DN hiện nay không có nguồn để trả lương cho người lao động cũng như bộ máy quản lý. Một số giám đốc đã xin nghỉ việc.

Xin cảm ơn ông!

Hà Sơn/thoibaonganhang.vn

Bản tin FORLAND số 1 và 2 – Tháng 4 và 5 năm 2014

FORLAND ‘s Newsletter số 1 và 2 : Ban tin FORLAND so 1 va 2- Thang 4 va 5 2014