Khó như thu tiền DVMTR

Thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các địa phương đã tích cực triển khai nhiều biện pháp thu và thu nợ tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Tuy nhiên, công tác thu nợ tiền DVMTR vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời. Nhiều DN vẫn cố tình dây dưa trả nợ tiền DVMTR khiến cho việc phục hồi, bảo vệ rừng ở nhiều khu vực miền núi càng thêm khó khăn.

Đơn cử, ở miền núi Quảng Nam, chính sách chi trả DVMTR vừa giúp người dân xóa đói giảm nghèo, vừa buộc các đối tượng hưởng lợi có nghĩa vụ tái tạo diện tích rừng đã mất. Tiền chi trả DVMTR tạo ra nguồn sống thiết thực cho người dân an tâm giữ rừng bền vững.

Thực tế, những lưu vực thủy điện mà người dân được nhận tiền khoán bảo vệ rừng thường ít xảy ra tình trạng phá rừng. Theo chính quyền các huyện Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My (Quảng Nam), DVMTR làm thay đổi nhận thức về bảo vệ rừng, giúp người dân tuân thủ nguyên tắc giữ rừng theo các quy định của Nhà nước mà không phá vỡ luật tục miền núi.

Ngược lại, những nơi chưa được nhận giao khoán bảo vệ, ý thức giữ rừng của người dân chưa cao. Những năm qua, các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch luôn chậm chi trả tiền. Hiện các DN thuộc diện phải trả tiền DVMTR tại Quảng Nam vẫn còn nợ hơn 11 tỷ đồng tiền DVMTR như: CTCP Thủy điện A Vương (thủy điện A Vương), CTCP Tư vấn xây dựng điện số 1 (thủy điện Sông Bung 5), CTCP Cơ khí áp lực Mạnh Nam (thủy điện Tà Vi), CTCP Cấp thoát nước Quảng Nam… Trong đó, CTCP Thủy điện A Vương nợ 7,4 tỷ đồng…

53d8667092272_medium
Chính quyền nên “mạnh tay” nếu DN cố tình dây dưa chậm trả tiền DVMTR-Ảnh Công Thái

Đối với Gia Lai, một trong những địa phương có diện tích rừng lớn tại Tây Nguyên cũng đang gặp phải nhiều khó khăn trong việc thu và thu nợ tiền DVMTR. Khó khăn nhất của địa phương hiện nay là việc thu nợ tiền DVMTR năm 2011, 2012 đối với các nhà máy thủy điện trên địa bàn. Hiện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng địa phương chỉ thu được tiền đối với các nhà máy thủy điện thực hiện bán theo giá thỏa thuận, còn lại các nhà máy thủy điện không thuộc diện này vẫn chưa thu được số tiền gần 25 tỷ đồng, một con số không hề nhỏ.

Theo đánh giá của chính quyền địa phương, nguyên nhân được xác định là tiền DVMTR của các cơ sở thủy điện chưa được bên mua điện là Tổng Công ty Điện lực miền Trung thực hiện chi trả (do năm 2012 trở về trước chưa có cơ cấu tiền DVMTR trong giá thành tiền điện). Trước thực tế này, UBND tỉnh Gia Lai nhiều lần kiến nghị Bộ Công Thương sớm có hướng chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng Công ty Điện lực miền Trung thực hiện chi trả tiền DVMTR của năm 2011 và 2012 cho các nhà máy thủy điện thuộc diện nói trên để các đơn vị này thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền DVMTR.

Ngoài ra, đối với lưu vực sông Kôn thuộc lưu vực liên tỉnh Gia Lai – Bình Định, khi công bố diện tích rừng cung ứng DVMTR của Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn A, nằm trên địa bàn Bình Định thì vẫn còn thiếu diện tích rừng cung ứng nên UBND tỉnh Gia Lai đã có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm xem xét, bổ sung phần thiếu để có cơ sở xác định diện tích rừng trong lưu vực chi trả đến từng chủ rừng, xây dựng phương án chi trả cho các chủ rừng khi thu được tiền.

Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Gia Lai, tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn 712.477 ha, trong đó diện tích rừng được hưởng DVMTR 493.579 ha. Tổng cơ sở sử dụng DVMTR đang quản lý thu 25 cơ sở, với 38 nhà máy thủy điện, nguồn thu bình quân 60 tỷ đồng/năm.

Theo kế hoạch năm 2014, số tiền DVMTR phải thu trên 57,4 tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm 2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã thu được hơn 36,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, công tác thu tiền DVMTR đang đối mặt với nhiều khó khăn, một trong những yếu tố là do một số cơ sở sử dụng DVMTR không nộp hoặc chậm nộp, cố tình trì hoãn, chây ỳ trong việc nộp.

Trong khi chế tài xử lý chưa đủ mạnh để buộc những đơn vị này thực hiện nghiêm chính sách. Do vậy cần thiết phải có chế định xử phạt hành chính kể cả việc phong tỏa tài khoản giống như trong lĩnh vực thuế, để công tác thu nộp tiền DVMTR có hiệu lực và hiệu quả hơn…

Trước thực trạng chây ỳ của các chủ DN, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo thu hồi giấy phép đầu tư đối với các DN cố tình chậm nộp hoặc không nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR. Đồng thời, kiến nghị EVN ngưng thu mua điện của những đơn vị không chấp hành việc nộp tiền chi trả DVMTR theo đúng quy định…

Thiết nghĩ, để tháo gỡ những hạn chế đối với công tác thu tiền DVMTR, Chính phủ cần sớm xây dựng và ban hành quy định, chế tài xử lý vi phạm đối với các đơn vị không nộp hoặc chậm nộp tiền DVMTR để chính quyền các địa phương có cơ sở triển khai. Ngoài việc đưa các DN “nợ rừng” công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay, chính quyền các địa phương cần tiếp tục rà soát, đôn đốc các nhà máy thực hiện nghĩa vụ. Nếu DN cố tình kéo dài, UBND tỉnh, thành cần có hình thức xử lý mạnh tay hơn..

Công Thái/baomoi.com

Advertisements

Đắk Lắk: Hệ lụy từ nạn mua bán đất rừng trái phép

Từ việc sang nhượng, mua bán trái phép 68,2ha đất rừng của một số hộ dân đã dẫn đến căng thẳng, xung đột “nảy lửa” giữa 29 hộ đồng bào dân tộc ở các xã Ea Kiết, Ea Tar, Ea Hđing, Ea Mroh với Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (Cty Buôn Ja Wầm). Trước diễn biến “nóng” này, lãnh đạo địa phương lại “án binh bất động” vì cho rằng cưỡng chế “rất khó”.

anh_1_mua_ban_dat_rung
29 hộ đánh dấu lãnh thổ của mình cấm người khác xâm phạm. Ảnh: Quỳnh Anh

Sang nhượng trái phép

Cty Buôn Ja Wầm được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất kinh doanh 8.89,28ha rừng và đất rừng nằm trên địa bàn 2 xã EaKuêh, Ea Kiết (huyện Cư M’gar, Đắk Lắk). Năm 2008, thực hiện Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc: “Tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng”, Cty Buôn Ja Wầm kết hợp với UBND huyện Cư M’gar tiến hành giải tỏa toàn bộ hoa màu, lều lán đã trồng và xây dựng trái phép trên đất rừng của lâm trường tại lô 2, lô 3 khoảnh 13 thuộc tiểu khu 547A. Lúc này, biết không thể tiếp tục xâm canh trái phép lâu dài trên những diện tích này, một số hộ dân đã tổ chức mua bán, sang nhượng trái phép 68,2ha đất rừng cho 29 hộ đồng bào dân tộc ở các xã Ea Kiết, Ea Tar, Ea Hđing, Ea Mroh với số tiền lên đến 2.043.300.000 đồng.

Sau khi bỏ tiền mua đất, 29 hộ dân tiến hành gieo trồng hoa màu, xây dựng lều lán quyết tâm bám trụ sản xuất trên đất rừng. Phát hiện vụ việc, Cty Buôn Ja Wầm đã tiến hành giải tỏa trong quyền hạn và trách nhiệm của mình. Thực hiện Công văn số 546/SNNNT-CCLN ngày 30/5/2008 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt đồng ý cho Cty tổ chức trồng lại rừng bằng cây keo lai giâm hom trên toàn bộ diện tích bị 29 hộ dân lấn chiếm. Đồng thời, cho bà con làm đơn xin nhận khoán trồng rừng và ăn chia lợi nhuận sản phẩm theo hợp đồng.

anh_3_mua_ban_dat_rung
Hàng chục ha rừng bị cạo trọc, thay thế toàn bắp và hoa màu. Ảnh: Quỳnh Anh

 

Thế nhưng, việc làm của Cty đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của 29 hộ dân. Bà con đã kéo nhau “dọn sạch” rừng do Cty trồng, thay thế rừng bằng hoa màu. Ông Triệu Tiến Thuận (thôn 2, xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar) nói: “Năm 2008, tôi từ Đắk Nông lên mua lại đất này của đồng bào người Kinh. Thời điểm mua đất trên địa bàn Buôn Ja Wầm không có bìa đỏ nên tôi không biết vị trí đó nằm trong khu vực do lâm trường quản lý. Vét sạch tài sản mua được miếng đất, giờ lâm trường thu đất sao sống được. Tôi muốn có đất để làm ăn. Cho dù xảy ra chém giết trong rừng tôi cũng chấp nhận”.

Cùng hoàn cảnh với ông Thuận, ông Dương Phúc Tài bức xúc: “Năm 2011, tôi mua lại 3,5 ha với số tiền 220 triệu đồng. Thấy không có tranh chấp gì nên tôi mới mua. Đang sản xuất thì nhân viên của Cty vào phá hoa màu. Nếu lâm trường lấy đất, chúng tôi không có đất để canh tác”.

 

Với vai trò và trách nhiệm của mình trong việc quản lý, bảo vệ rừng, năm 2012, thực hiện Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng, xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh, Cty lại tiến hành giải tỏa lều lán, phá bỏ hoa màu để trồng rừng. Điều này đã khiến căng thẳng và xung đột với người dân trở nên nghiêm trọng hơn khi 29 hộ dân ra sức chống đối.

Đỉnh điểm là vụ 22 người dân vây đánh nhân viên của Cty khi đang làm nhiệm vụ. “Người dân thực sự hung dữ, họ không những chửi bới mà còn dùng đá ném vào chúng tôi. Đợt đó tôi may mắn chạy thoát, nhưng anh Thành đồng nghiệp tôi thì bị đánh phải nhập viện”, anh Nguyễn Văn Hà, nhân viên của Cty cho biết.

 

Ông Dương Văn Sơn, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Cty Buôn Ja Wầm xác nhận: “Vụ việc kéo dài đã nhiều năm, Cty dù rất nỗ lực để giữ rừng nhưng người dân quá cố chấp. 4 lần họp dân, có UBND huyện và xã đứng ra tuyên truyền, giải thích nhưng dân không những không nghe mà còn cố ý xây dựng nhà ở kiên cố. Đến nay, các hộ trên đã dựng 19 nhà lợp bằng tôn, còn cắm bảng đánh dấu lãnh thổ của 29 hộ cấm mọi người xâm phạm”.

Huyện “khó” thực hiện chỉ đạo của tỉnh

Trước diễn biến phức tạp và xung đột ngày càng lớn giữa Cty Buôn Ja Wầm với 29 hộ dân, ngày 3/6/2013, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Công văn số 3257/UBND/NN&MT về việc giải quyết đơn khiếu nại của 29 hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, UBND tỉnh giao UBND huyện Cư M’gar thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc mua bán, sang nhượng trái phép để kiểm tra, xử lý theo quy định, nhằm bảo đảm quyền lợi cho các hộ dân cũng như sớm giao trả diện tích đất để Cty Buôn Ja Wầm tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định.

anh_4_mua_ban_dat_rung
Rừng bị người dân đốn hạ không thương tiếc. Ảnh: Quỳnh Anh

Tiếp đến, ngày 29/4/2014, UBND tỉnh tiếp tục ra Công văn số 2867/UBND-NNMT giao UBND huyện tổ chức cưỡng chế, giải tỏa diện tích đất rừng do 29 hộ lấn chiếm, sang nhượng trái phép. Thế nhưng, theo tìm hiểu của phóng viên, đến thời điểm hiện tại, lệnh cưỡng chế vẫn còn nằm trên giấy. Chính quyền huyện chưa có động thái nào để chấm dứt tình trạng trên.

Trao đổi với phóng viên, ông Trương Văn Chỉ, Phó Chủ tịch UBND huyện Cư M’gar bày tỏ: “Thực hiện cưỡng chế theo Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ cùng Chỉ thị 03/CT-UB của UBND tỉnh về xử lý vi phạm về phá rừng, xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh, huyện không thể thực hiện cưỡng chế…”.

Cũng theo ông Chỉ, muốn cưỡng chế hành chính phải có biên bản xử lý vi phạm, xử phạt hành chính. Việc bắt quả tang họ phá rừng để xử lý vi phạm là bất khả thi. “Không chỉ có huyện tôi mà tất cả các huyện đều đau đầu khi vướng phải điều này. Nhổ bỏ cây trồng thì còn có thể, chứ cưỡng chế thì rất khó. Tỉnh giao nhưng chúng tôi… chưa tiến hành được”, ông Chỉ khẳng định.

Quỳnh Anh/ thanhtra.com

 

 

Rà soát đất sản xuất với đất rừng tại Ba Vì

KTĐT – Ngày 26/7, tại huyện Ba Vì, Đoàn công tác của Bộ NN&PTNT do Bộ trưởng Cao Đức Phát dẫn đầu đã làm việc với UBND TP Hà Nội và huyện Ba Vì về giải quyết các vấn đề liên quan giữa Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì với sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Tại buổi làm việc, những vướng mắc về đất đai giữa VQG Ba Vì với các địa phương tồn tại lâu năm đã bước đầu có hướng tháo gỡ.
Dân thiếu đất
Nằm ở sườn Tây của VQG Ba Vì, xã Ba Vì, huyện Ba Vì là một trong những xã gặp khó khăn nhiều nhất về đất sản xuất. Diện tích tự nhiên của xã lớn, khoảng 2.500ha nhưng có tới 2.200ha đất thuộc VQG Ba Vì, trong khi đất nông nghiệp để cấy lúa chỉ còn lại 22,62ha. Ông Dương Trung Liên – Chủ tịch UBND xã Ba Vì chia sẻ, diện tích này chỉ đảm bảo lương thực cho người dân trên địa bàn được 2 tháng. Thiếu đất sản xuất, đời sống của người dân xã Ba Vì gặp nhiều khó khăn, bình quân thu nhập đầu người hiện mới đạt 7,4 triệu đồng/người/năm, ở mức thấp nhất toàn TP và tỷ lệ hộ nghèo cao nhất TP (35,7%). “Với tình hình này, xã rất khó để hoàn thành xây dựng nông thôn mới vì không có đất để quy hoạch sản xuất” – ông Liên lo ngại.

dan
Có nghề làm thuốc Nam nhưng người dân xã Ba Vì, huyện Ba Vì lại thiếu đất trồng cây dược liệu. Ảnh: Quang Thiện

Không chỉ riêng xã Ba Vì, nhiều xã khác trên địa bàn huyện Ba Vì cũng đang gặp vấn đề tương tự. Tại xã Khánh Thượng, người dân chủ yếu sống dựa vào chăn nuôi và ngành nghề khác vì phần lớn diện tích đã thuộc vào VQG Ba Vì. Thậm chí, theo lãnh đạo xã, một số quả đồi độc lập (diện tích khoảng 100ha) có cao độ trên 100m một chút mà người dân canh tác lâu năm nhưng vẫn bị nhập vào diện tích của VQG Ba Vì gây bức xúc trong người dân. Tại xã Vân Hòa, sau khi Nông trường Việt – Mông cổ phần hóa thành Công ty CP Việt – Mông, một bộ phận dân cư đã được giao cho địa phương và thành lập các đơn vị hành chính thôn, cụm dân cư. Tuy nhiên, phần đất đai đến nay vẫn chưa được bàn giao gây khó khăn cho đời sống người dân và công tác quản lý của địa phương.
Theo UBND huyện Ba Vì, tổng diện tích VQG Ba Vì từ ranh giới cao độ 100m trở lên thuộc địa bàn huyện là 6.136,7ha. Diện tích bàn giao về cho 7 xã miền núi quản lý theo Quyết định số 539/QĐ-UBND ngày 28/3/2007 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) là 297,5ha. Tuy nhiên, hiện nay, trên thực địa chưa bàn giao 76,6ha cho xã Vân Hòa, 20,2ha cho xã Minh Quang. Ông Lê Văn Minh – Chủ tịch UBND huyện Ba Vì cho biết, ranh giới cao độ 100m không phân định rõ ràng, nhiều vị trí không tìm thấy mốc giới nên khó xác định. Trong khi đó, VQG Ba Vì lại chưa thanh lý dứt điểm các hợp đồng khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với các hộ trước đây nên gây khó khăn cho công tác quản lý, giao cho thuê tiếp.
Sớm rà soát, giao đất cho địa phương
Trước tình trạng thiếu đất sản xuất, tại buổi làm việc, đại diện cả 7 xã miền núi trong khu vực VQG Ba Vì và UBND huyện Ba Vì đều kiến nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo sớm bàn giao diện tích đất dưới cao độ 100m cho địa phương. Đồng thời, bàn giao dứt điểm diện tích đất của các nông, lâm trường sau cổ phần hóa về cho địa phương quản lý. Một số xã đề nghị để cho người dân được trồng rừng kết hợp với sản xuất trên diện tích đất tự nhiên từ cao độ 400m trở xuống. Bên cạnh đó, đề nghị Bộ NN&PTNT, UBND TP có cơ chế, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc miền núi phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TP Trần Xuân Việt cũng đề nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng kế hoạch, lộ trình bàn giao dứt điểm diện tích dưới cao độ 100m cho địa phương. Trên diện tích ấy, rà soát lại các loại cây trồng để vừa đảm bảo phủ xanh đồi đất dốc, vừa mang lại giá trị kinh tế cho người dân. Phó Chủ tịch cũng đề nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị phối hợp với UBND TP xây dựng một chương trình, đề án phối hợp phát triển sản xuất cho các xã đồng bào dân tộc miền núi trên địa bàn TP.
Ghi nhận những ý kiến đề xuất, kiến nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát giao Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với VQG Ba Vì có kế hoạch cụ thể làm việc với từng xã để giao các diện tích đất dưới cao độ 100m. Đồng thời, làm rõ các vướng mắc về ranh giới trên thực địa giữa diện tích VQG Ba Vì với diện tích sản xuất của địa phương và cắm mốc để tất cả mọi người dân đều biết. Thời gian để hoàn thành công tác này là trong vòng 3 tháng. Bộ trưởng cũng lưu ý, với những diện tích đồi độc lập nên bàn giao cho địa phương quản lý. Nguyên tắc rà soát đất đai là tạo điều kiện tối đa cho đồng bào dân tộc địa phương tham gia vào khai thác những lợi ích kinh tế từ rừng nhưng không phá vỡ tiêu chí, quy định đã đề ra.

Thien Tu/baomoi.com

Cà Mau: 129 hộ nghèo dân tộc thiểu số được giao đất

6 tháng đầu năm nay, Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau đã triển khai sâu rộng công tác dân tộc trên địa bàn, trong đó tập trung phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS như: Hoàn thành 6 công trình giao thông nông thôn từ nguồn vốn Chương trình 135; thực hiện giao đất ở và đất sản xuất cho gần 129 hộ đồng bào DTTS nghèo trên địa bàn huyện Trần Văn Thời; thực hiện chính sách đối với người có uy tín với số tiền là 523,848 triệu đồng; cấp phát 19 đầu báo, với số lượng 141.100 tờ báo và tạp chí đến các địa chỉ, danh mục cần phát hành…

Dự kiến 6 tháng cuối năm 2014, Ban Dân tộc tỉnh tiếp tục tăng cường việc chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách dân tộc trên địa bàn…

Tú An
danviet.vn

Tan nát rừng Kon Plông

(Thanh tra)- Được mệnh danh là “Đà Lạt thứ hai ở Tây Nguyên” với hệ thống rừng nguyên sinh, rừng thông phòng hộ bao phủ, tuy nhiên, từ đầu năm 2014 đến nay, nhiều diện tích rừng tại Khu Du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) đang bị xâm hại nghiêm trọng. Để lấy gỗ và đất sản xuất, lâm tặc và người dân đã tàn phá hàng loạt cánh rừng, với nhiều chủng loại quý.

8-wp_20140616_012
Nhiều vạt rừng ở huyện Kon Plông bị triệt hạ để trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày. Ảnh: Trung Đức

Măng Đen – Kon Plông được du khách gần xa biết đến là một khu nghỉ dưỡng đầy tiềm năng, cần được khám phá. Nhiều năm qua, cả khu du lịch sinh thái quốc gia này được bao phủ bởi ngút ngàn thông xanh và hệ thống rừng nguyên sinh, tạo nên khí hậu mát mẻ, trong lành, làm nên “phần hồn” của xứ sở du lịch vùng Đông Trường Sơn.

Mới đây thôi, quãng năm 2012, theo quốc lộ 24 vượt đèo Măng Đen, du khách sẽ đi xuyên qua khu trồng rau, hoa xứ lạnh, qua những khu rừng già dày kín, đầy thác ghềnh. Giữa những con đường bê tông mới được mở, rừng hai bên đường che kín khiến người đi dưới tán rừng có cảm giác thư thái, hài hòa với thiên nhiên, cây cỏ.

Từ đầu năm 2014 đến nay, khách bộ hành đi từ chân đèo Măng Đen về đến trung tâm các xã của huyện Kon Plông chứng kiến cảnh rừng nguyên sinh bị tàn phá không thương tiếc, dễ thấy sự thay đổi qua từng tháng. Dọc theo tỉnh lộ 626 và quốc lộ 24B, hàng trăm ha rừng cổ thụ đã bị chặt hạ để trồng sắn, cà phê, nương rẫy được mọc lên san sát. Quan sát bằng mắt thường, chúng tôi dễ dàng nhận thấy nhiều cánh rừng vừa mới bị đốn ngã, cây lớn, cây bé nằm ngổn ngang, có những đám bị đốt cháy nham nhở.

Theo vết xe “reo”, loại xe đặc chủng để kéo gỗ trong rừng già tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, chúng tôi đi sâu vào những cánh rừng ở xã Măng Cành, chứng kiến một “công xưởng” lớn. Có chỗ, lâm tặc dùng cưa lốc hạ cây xuống rồi để đó; một vài chỗ khác, cây gỗ lớn 2, 3 người ôm bị hạ xuống và “xẻ thịt” ngay tại chỗ. Hiện trường còn vương vãi lại các tấm ván gỗ bìa, bột cưa, các khúc gỗ ngắn, dài khác nhau… Ở các xã Ngọc Tem, Măng Bút, Đắk Tăng… cách xa trung tâm huyện Kon Plông, rừng bị phá nặng hơn. Những khoảnh cây đứng được chừa lại sát tuyến đường để che mặt người đi đường nhưng vào sâu hơn bên trong, hình ảnh rừng ngã rạp còn tươi gốc hết sức đau xót. Một thực tế đang diễn ra: Rừng nguyên sinh ở huyện Kon Plông đã rỗng ruột.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Lân, Chủ tịch UBND huyện Kon Plông cho hay có biết tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra trên địa bàn huyện. Theo ông Lân, rừng ở huyện Kon Plông rất dày, là niềm tự hào để thu hút khách du lịch đến với Khu Du lịch Sinh thái Quốc gia Măng Đen nhưng hiện việc giữ rừng cũng rất cam go. “Tại địa bàn xã Măng Cành, những cánh rừng vừa bị phá, cơ quan chức năng của huyện đã lập biên bản xử phạt. Trong năm nay, huyện sẽ trồng lại 100ha rừng thông ở những địa bàn bị người dân phá rừng để trồng sắn và các loại hoa màu. Riêng tình trạng lâm tặc lén lút khai thác ở những cánh rừng tự nhiên ở xã Măng Cành, lãnh đạo UBND huyện chưa nghe ngành chức năng của huyện báo cáo. Chúng tôi sẽ chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp chính quyền cơ sở kiểm tra cụ thể”, ông Nguyễn Văn Lân nói.

Trung Đức
thanhtra.com.vn