Nông trường chiếm đất của dân

Giữa năm 2013, Nông trường Cao su Quế Phong đã ngang nhiên đưa máy móc vào phá khu rừng đầu nguồn của bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch (Quế Phong, Nghệ An)…

5-13_anh_5_ZGXX.jpg.ashx
Ảnh minh họa

Rừng đầu nguồn của bản Pỏm Om không những đem lại lợi ích kinh tế cho đồng bào mà còn được coi là “rừng thiêng” của cộng đồng người Thái ở đây.

Rừng thiêng cũng chiếm

Bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch có 71 hộ đồng bào dân tộc người Thái. Từ lâu, cả bản được bao bọc bởi khu “rừng thiêng”, vốn được người dân bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Lô Cẩm Xuyên-Bí thư chi bộ thôn Pỏm Om cho biết: “Rừng ở Pỏm Om là rừng đầu nguồn, cung cấp nước sinh hoạt cho 5/11 bản của xã Hạnh Dịch và 1 đồn biên phòng”.

Với ý nghĩa như vậy, ngày 19.6.2012, thực hiện Thông tư liên tịch số 07 về việc thí điểm giao rừng cho cộng đồng quản lý, huyện Quế Phong đã giao 426,52ha đất, thuộc tiểu khu 85 cho cộng đồng bản Pỏm Om sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Thời gian sử dụng là 50 năm. Thế nhưng, tháng 5.2013, Nông trường Cao su Quế Phòng, thuộc Công ty cổ phần đầu tư phát triển (CPĐTPT) Cao su Nghệ An đã ngang nhiên cho máy san ủi khu rừng của bản để trồng cao su.

Ông Xuyên cho biết: “Lợi dụng lúc không ai để ý, nông trường cho máy lên san ủi. Lúc chúng tôi phát hiện, đã có 1,17ha rừng bị san lấp”. Sự việc được báo lên xã, huyện và đến ngày 29.5.2013, một cuộc họp giữa các bên liên quan diễn ra tại trụ sở Nông trường Cao su Quế Phong nhằm giải quyết vụ việc. Tại buổi làm việc này, ông Hồ Văn Mười, khi đó là Giám đốc Nông trường Cao su Quế Phong đã thừa nhận việc san ủi vào phần đất rừng của bản Pỏm Om 1,17ha.

Trước sự việc này, ông Lang Văn Minh- Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong đã có công văn gửi Nông trường Cao su Quế Phong yêu cầu, không được tiếp tục san ủi, khai hoang trồng cây lấn sang phần đất đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om… Thế nhưng không những không trả lại đất cho dân, mà ông Mười tiếp tục chỉ đạo cho máy san ủi nhằm… chiếm thêm đất của dân với diện tích hiện đã lên 7,6ha.

Bắt huyện… thu hồi sổ đỏ

Trước tình hình trên, ngày 19.2.2014, UBND huyện Quế Phong thêm một lần nữa phải ra công văn yêu cầu: “Nông trường Cao su Quế Phong chấm dứt ngay việc san ủi và trồng cây cao su trên phần đất đã giao và cấp sổ đỏ cho bản”. Phúc đáp lại nội dung công văn của huyện Quế Phong, Công ty CPĐTPT Cao su Nghệ An đã có Công văn số 157 do ông Trần Ngọc Thắng – Tổng Giám đốc ký với nội dung được coi là rất “trịch thượng”.

Theo đó, không những không thừa nhận sai phạm, công ty này còn… yêu cầu huyện Quế Phong ra quyết định thu hồi sổ đỏ đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om. Lý do, theo họ là: Dự án đầu tư phát triển nông – lâm nghiệp tại huyện Quế Phong giai đoạn 2001 – 2010 được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 3192 ngày 14.9.2001 do Tổng đội Thanh niên xung xong P7-XDKT (tiền thân của Nông trường Cao su Quế Phong) làm chủ đầu tư. Địa điểm tại xã Hạnh Dịch gồm 5 tiểu khu: 78, 81, 82, 84 và 85 với diện tích là 6.136,3ha”.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Lâm – Trưởng Phòng TNMT huyện Quế Phong cho biết, UBND huyện đã có công văn trả lời do Phó Chủ tịch Lang Văn Minh ký. Theo đó, quy hoạch trồng cao su được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 4081 ngày 13.9.2013 thì trên địa bàn xã Hạnh Dịch chỉ có 48,9ha tại tiểu khu 82, không quy hoạch trồng cao su tại tiểu khu 85. Việc cấp sổ đỏ cho bản Pỏm Om cũng hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Công ty Cao su Nghệ An mới là bên vi phạm pháp luật, bởi: Thậm chí “rắn” hơn, ông Lang Văn Minh còn khẳng định: “Nếu Công ty Cao su Nghệ An thấy quyền lợi bị xâm hại từ những quyết định của huyện Quế Phong, công ty có thể gửi khiến nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa đối với cá nhân theo quy định của pháp luật”.

Tại buổi tiếp xúc với chúng tôi, từ Trưởng bản, ông Bí thư và cả người dân bản Pỏm Om đều tỏ ra vô cùng bức xúc. Ông Lương Tiến Lê- Chủ tịch UBND xã Hạnh Dịch nói: “Việc lấn chiếm đất của nông trường là hoàn toàn sai trái. Chúng tôi rất mong, cơ quan cấp trên sớm đòi lại đất cho cộng đồng để người dân bảo vệ, sản xuất rừng”.
Tới ngày 30.7.2012, cộng đồng bản Pỏm Om đã được cấp sổ đỏ cho diện tích đất rừng nói trên, ông Lê Văn Phượng – Trưởng bản hiện là người giữ sổ.

Theo baomoi.com

Advertisements

“Phân tích giới trong phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách”.

Nằm trong chiến lược hoạt động của Mạng Lưới Đất Rừng (FORLAND) về nâng cao kiến thức và kỹ năng trong quá trình thực hiện các IBPs cho các thành viên liên minh. Trong hai ngày 19-20/8/2014 tại Khách sạn Xanh, Thành phố Huế; Trung Tâm Nghiên cứu và Phát Triển Xã Hội (CSRD) đã tổ chức khóa tập huấn “Phân tích giới trong phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách”.

Khóa tập huấn đã chào đón 29 học viên từ nhiều tổ chức khác nhau trong mạng lưới đất rừng như: CRD, CIRD, CORENARM, RDPR, CRCSD, PanNature. Với tư cách là thành viên của liên minh Đất rừng (FORLAND) 03 đại biểu của trung tâm CORENARM đã vinh dự tham gia khóa tập huấn này.

DSC_0303
Học viên lớp tập huấn -Ảnh FORLAND

Bà Lâm Thị Thu Sửu- Giám đốc Trung tâm CSRD đã phát biểu khai mạc lớp tập huấn và chia sẻ các mục tiêu cơ bản mà lớp tập huấn hướng đến: (i)Nắm bắt các khái niệm và công cụ phân tích về giới (Khung phân tích Moser, Khung phân tích Havard; Khung phân tích Kabeer). (ii)Nâng cao năng lực tư duy về mối quan hệ giữa giới và các vấn đề môi trường. (iii)Nâng cao khả năng lồng ghép giới trong công tác nghiên cứu, vận động chính sách và phát triển cộng đồng.

Trong khuôn khổ lớp tập huấn, Ông Đặng Ngọc Quang đã giúp các học viên hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan về giới: Khái niệm về giới và các thuật ngữ chính, giá trị và thái độ về giới, giới trong phân công lao động, vấn đề bất bình đẳng giới và các yếu tố ảnh hưởng, nhu cầu thực tế và lợi ích chiến lược, phương pháp tiếp cận “Phụ Nữ trong Phát triển” và “Giới và Phát triển”… Đây cũng là cơ hội để các thành viên trong mạng lưới được giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau. Nội dung của lớp tập huấn được xây dựng theo phương pháp có sự tham gia. Hầu hết các nội dung được giảng viên khơi gợi và định hướng, học viên phải chủ động thực hành, trả lời các vấn đề được đưa ra và từ đó tự tổng kết và rút ra những khái niệm cho riêng bản thân mình.

DSC_0295 - Copy
Thảo luận nhóm- Ảnh FORLAND

Giảng viên và các học viên đã dành phần lớn thời gian để đúc kết lại nội dung của hai ngày tập huấn. Kế hoạch vận dụng các kiến thức của khóa tập huấn vào công việc thực tiễn của các tổ chức. Các hoạt động phát triển phải được nhìn nhận dưới nhiều sắc cạnh khác đồng thời vận động chính sách phải có sự lưu tâm đến nhạy cảm giới.

Kết thúc khóa tập huấn, Trung Tâm Nghiên cứu và Phát Triển Xã Hội (CSRD) đã trao giấy chứng nhận cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm. Khóa tập huấn thành công tốt đẹp với nhiều ý tưởng về cách triển khai và vận dụng các kiến thức giới trong Phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách.

FORLAND

Đắc Nông: 4.500ha rừng “đột nhiên” biến mất

 Chỉ từ năm 2008 – 2013, hơn 4.500ha rừng và đất lâm nghiệp tại xã Trường Xuân (huyện Đắc Song, tỉnh Đắc Nông) đã bị chặt phá, bao chiếm trái phép do chủ rừng là Cty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân – doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh – buông lỏng quản lý. Điều đáng nói là hàng nghìn hécta rừng biến mất nhưng cả UBND huyện, công an huyện, hạt kiểm lâm đều không hay biết.

70% diện tích rừng bị tàn phá
Ngày 20.8, PV Báo Lao Động có mặt tại tiểu khu 1689 thuộc xã Trường Xuân, nơi có bạt ngàn những rẫy caosu, càphê được trồng trên đất rừng mới phá. Ông Hà Văn Tuất – người xã Trường Xuân – ngạc nhiên khi chúng tôi đề cập việc canh tác trên đất rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý. “Tôi mua 2ha này từ năm 2009, làm hoa màu mấy vụ rồi, bây giờ mới trồng càphê. Việc mua bán không cần biết tới Cty với lâm trường gì đâu” – ông Tuất nói.

Cũng theo ông Tuất, tiểu khu 1689 có đến vài chục người ở các thôn 4 – 5 thuộc xã Trường Xuân đang canh tác, trong đó có người tự khai hoang, có người mua lại. Chuyện ở tiểu khu 1706 còn nực cười hơn. Nhận được đơn của 28 hộ dân thôn Bu Bơ, chính quyền xã và hạt kiểm lâm huyện tiến hành xác minh, qua đó mới biết đất rừng bị các hộ này bao chiếm từ nhiều năm trước, nhưng Cty lâm nghiệp Trường Xuân không hề ngăn chặn, giải tỏa. Ông Phạm Quốc Thụy – Chủ tịch UBND xã – cho biết: “Các hộ này bao chiếm đất rừng là sai, một số có cây trồng bị chặt phá, nhưng không phải đơn vị chủ rừng làm việc này”.

3-eghn_NPCE
70% diện tích rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý đã biến thành… đất nông nghiệp. Ảnh: Đặng Trung Kiên

Thực trạng trên cho thấy, Cty lâm nghiệp Trường Xuân đã làm ngơ trước nạn phá rừng, bán đất tràn lan trên lâm phần được giao quản lý. Chính vì vậy, chỉ trong vòng 5 năm, có hơn 4.500ha đất lâm nghiệp bị bao chiếm để làm nhà ở, đất nông nghiệp, mua bán trái phép, trong đó có hơn 3.500ha là rừng tự nhiên bị chặt phá. Mới đây, đoàn kiểm tra liên ngành do UBND tỉnh thành lập đã kết luận, “chưa có diện tích nào bị chặt phá, bao chiếm được Cty lâm nghiệp Trường Xuân thống kê, tổ chức giải tỏa, thu hồi để trồng lại rừng”.
Không xử lý hình sự do… cơ chế!
Có một loạt lý do được Cty lâm nghiệp Trường Xuân giải thích cho việc mất rừng: Tài chính khó khăn, phải cắt giảm 50% LĐ nên thiếu lực lượng bảo vệ rừng, lương trả cho NLĐ chỉ ở mức tối thiểu… Nhưng điều đáng nói là việc mất rừng với diện tích lớn, diễn ra trong thời gian dài, Cty không báo cáo đầy đủ với cấp thẩm quyền. Trong khi đó, Cty vẫn xây dựng phương án bảo vệ rừng, PCCC rừng trên diện tích… đã biến mất. Rõ ràng, lãnh đạo Cty lâm nghiệp Trường Xuân đã thiếu trách nhiệm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đủ điều kiện chuyển cơ quan điều tra xử lý. Mặt khác, UBND huyện Đắc Song, hạt kiểm lâm, công an huyện, UBND xã Trường Xuân cũng có trách nhiệm trong việc để mất rừng trên địa bàn – theo Quyết định 07/2012/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
Vậy nhưng, “xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, liên quan đến cơ chế, chính sách, tình hình chung… nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”. Do vậy, mới đây, UBND tỉnh Đắc Nông giao Sở Nội vụ tham mưu kỷ luật ông Trần Quyết Tâm – Chủ tịch kiêm GĐ Cty – và một số cán bộ Cty, yêu cầu UBND huyện Đắc Song và các cơ quan của huyện nghiêm túc kiểm điểm. Tuy nhiên, nếu vụ việc này không được xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật thì có thể diện tích rừng còn lại ở Trường Xuân cũng sẽ nhanh chóng bị “xóa sổ”. Hiện Cty chỉ còn lại 1.728ha rừng trên lưu vực các suối: Đắc Nông, Đắc Rung, Đắc R’tih và Đắc Búc So – các suối lớn của tỉnh Đắc Nông. Nếu không giữ được những cánh rừng này, cả một vùng rộng lớn phía tây nam tỉnh – trong đó có thị xã tỉnh lỵ Gia Nghĩa – sẽ bị cạn kiệt nguồn nước.

Đặng Trung Kiên/ laodong.com

Hàng loạt nhà đầu tư đến Đắk Nông: Lập dự án để phá rừng, bán đất

Sau khi được UBND tỉnh cho thuê đất rừng, nhiều “nhà đầu tư” đã tìm cách phá rừng lấy đất trồng cao su hoặc rao bán với giá từ vài tỷ đến hàng chục tỷ đồng một dự án. Hiệu quả kêu gọi đầu tư chưa thấy nhưng hàng nghìn hécta rừng đã bị xóa sổ.

Thuê rừng để phá

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đăk Nông vừa bắt tạm giam Hoàng Trọng Hiếu – trú xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM – về tội hủy hoại rừng. Hiếu là Chủ tịch HĐQT, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phương Linh Đăk Nông.

Theo điều tra ban đầu, năm 2012, Công ty Phương Linh Đăk Nông ký hợp đồng liên doanh với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín (doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh có chức năng bảo vệ, phát triển và kinh doanh rừng) để thực hiện dự án phát triển rừng, trồng cao su trên đất rừng.

Trong khi dự án chưa được phê duyệt, Hoàng Trọng Hiếu đã thuê DNTN Hùng Lĩnh, Công ty TNHH Đỉnh Nghệ và một cá nhân tiến hành san ủi trái phép hơn 39ha rừng tự nhiên tại tiểu khu 1507 thuộc huyện Tuy Đức với danh nghĩa… cải tạo rừng tự nhiên.

Cũng trong tuần đầu tháng 8.2014, Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an Đăk Nông đã báo cáo UBND tỉnh về một dự án gây thiệt hại gần 400ha rừng tự nhiên. Năm 2006, UBND tỉnh cho Công ty CP Chế biến lâm sản Thăng Long thuê 516ha rừng tại tiểu 1678 thuộc huyện Đăk Song để bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng nguyên liệu.

Nhưng sau khi thuê rừng, ông Bùi Văn Tiêm – Giám đốc Công ty này đã không triển khai dự án, không tổ chức bảo vệ rừng mà chỉ giữ chỗ chờ thời. Do dự án không có hiệu quả, tháng 7.2013, tỉnh ra quyết định thu hồi, giao cho UBND huyện Đăk Song quản lý. Quá trình bàn giao, mới đây cơ quan chức năng phát hiện có 396,6ha rừng bị xóa sổ và bao chiếm trái phép.

pha-rung
Ảnh minh họa

Không phá được thì… bán

Ngoài các dự án không hiệu quả, chủ đầu tư cố ý phá rừng, Công an tỉnh cũng vừa bắt tạm giam hàng loạt giám đốc lừa đảo, rao bán đất rừng.

Năm 2009, DNTN Đại Phát Lộc ký hợp đồng liên doanh với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín trên diện tích 398ha tại tiểu khu 1525 – xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức – để phát triển rừng và trồng cây công nghiệp.

Do không có năng lực tài chính nên Đại Phát Lộc xin điều chỉnh giảm còn 159ha, đồng thời xin chuyển từ hình thức liên doanh sang thuê đất – tức UBND tỉnh thu hồi đất rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, cho DNTN Đại Phát Lộc thuê.

Đến năm 2012, khi thủ tục chưa hoàn tất, bà Lương Thị Thắm – Giám đốc DNTN Đại Phát Lộc – đã bán toàn bộ diện tích rừng này cho ông Trần Huy Hoàng – trú huyện Bù Đăng (Bình Phước) với giá 5,5 tỷ đồng.

Cũng từ việc thuê đất rừng của nhà nước, bà Phạm Thị Thu Hiền – Giám đốc Công ty TNHH Bảo Châu – đã bán 200ha đất rừng tại tiểu khu 1537 thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức cho bà Đỗ Thanh Vân – ở phường 10, quận Gò Vấp, TP.HCM – và một số cá nhân với giá 26 tỷ đồng. Mới nhận được 8,1 tỷ đồng, bà Hiền đã bỏ trốn ra nước ngoài.

Sau một thời gian bị truy nã ráo riết, mới đây Phạm Thị Thu Hiền đã đến Công an tỉnh Đăk Nông đầu thú. Tại khu vực dự án của 2 đơn vị này, rừng tự nhiên đã bị phá với diện tích lớn do không được quản lý, bảo vệ.

Từ chủ trương kêu gọi đầu tư, chỉ trong vài năm, hàng nghìn hécta rừng ở Đăk Nông đã bị “cạo trọc” không thương tiếc, bị các DN và cá nhân mua bán lòng vòng.

Ông Đỗ Ngọc Duyên – Giám đốc Sở NNPTNT Đăk Nông – thừa nhận, mục đích của nhiều DN là lấy đất trồng cao su chứ không phải bảo vệ rừng, một số DN không có năng lực tài chính nên chưa xong thủ tục đã bán lại kiếm lời. Đây là hạn chế lớn làm giảm hiệu quả kêu gọi đầu tư, làm mất rừng, mất đất với diện tích lớn.

Từ kêu gọi đầu tư, chỉ trong vài năm, hàng nghìn hécta rừng ở Đăk Nông đã bị “cạo trọc” không thương tiếc.

Theo Dan Viet

Nhiều tiêu cực do bất cập của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004

VOV.VN – Bất cập rõ nét nhất của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 là việc xử lý lâm tặc xâm hại rừng cộng đồng với nhiều biểu hiện tiêu cực.

Sau 10 năm, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 và những chính sách liên quan đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số quy định hiện không còn phù hợp với thực tế, qua đó làm nảy sinh nhiều tiêu cực. Đây là kết quả nghiên cứu gần đây do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, Đại học Nông Lâm Huế phối hợp với Đại học Tây Nguyên và Mạng lưới Đất rừng (FORLAND) thực hiện tại tỉnh Đắk Lắk.

anh2_CPPT
Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế và bất cập trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng những chính sách liên quan-Ảnh Công Bắc

Nghiên cứu được thực hiện ở 4 buôn gần rừng, thuộc xã Ea Sol, huyện Ea H’leo và xã Yang Mao, huyện Krông Bông. Ở 4 buôn này, bất cập rõ nét nhất là trong việc xử lý lâm tặc xâm hại rừng cộng đồng, với nhiều biểu hiện tiêu cực.

Ông Nay Pá, dân tộc Ja Rai, đại diện cho cộng đồng buôn Taly, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo nói: “Ở buôn, nhiều lúc muốn thông báo cho kiểm lâm hoặc người của UBND xã đến bắt giữ xe vi phạm, xâm hại rừng cộng đồng và các loại rừng khác nhưng không có ai đến. Sau khi xe đã đi rồi thì mới có người tới. Ở buôn cũng không có công cụ hỗ trợ nào khác nên không dám giữ xe người ta lâu. Trong khi đó, từ ủy ban về buôn Taly chỉ khoảng 3km”.

anh1_BWWE
Ông Nay Pá nêu biểu hiện tiêu cực khi cộng đồng phát hiện xe chở gỗ trái phép- Ảnh Công Bắc

Cùng với việc xử lý vi phạm không quyết liệt, có dấu hiệu tiêu cực, việc giao quyền cho cộng đồng cũng không phù hợp với thực tế. Trong khi đời sống kinh tế của các buôn còn khó khăn, cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng lại không cụ thể nên không khuyến khích được người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm. Ở một số cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, vì bà con còn đói nghèo, thiếu đất sản xuất, nên đã xảy ra tình trạng phát rừng làm rẫy.

anh3_LAUT
Ông Nay Pá nêu biểu hiện tiêu cực khi cộng đồng phát hiện xe chở gỗ trái phép-Ảnh Công Bắc

Anh Y Phối, dân tộc Ê Đê, ở buôn Hàng Năm, xã Yang Mao, huyện Krông Bông cho biết: “Buôn của tôi nằm chân núi Chư Yang Sin. Buôn làng tôi thật sự còn nghèo. Ông bà tôi ngày xưa có nhiều đất, nhưng bây giờ, đối những người vừa tách hộ như tôi lại không còn đất để canh tác. Tôi vẫn biết Luật của nhà nước đề ra quản lý và bảo vệ rừng nhưng mà tình hình hiện tại khiến tôi gặp khó khăn, thiếu thốn, không đủ điều kiện để nuôi nấng con cái, gia đình. Tôi phải làm ít để có lúa, tôi xâm lấn đất rừng của lâm trường cũng là để trồng lúa khô”.

Ở khía cạnh khác, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra có dấu hiệu mập mờ khi một số doanh nghiệp được chính quyền tạo điều kiện để liên kết với người dân, cộng đồng để phát triển rừng, nhưng doanh nghiệp đã không thực hiện theo cam kết, khiến người dân lo lắng.

Ông Nay Nhoen, dân tộc Ja Rai, ở buôn Chăm, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo cho biết: “Công ty Hoàng Việt (Đắk Lắk) đã liên kết với buôn, hứa với buôn nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Năm 2014, công ty này trồng rừng mà không thông báo cho bà con trong buôn. Công ty trồng cây trong rẫy của bà con nhưng thuê người ở Phú Bổn chứ không thuê đồng bào buôn Chăm. Mặt khác, công ty cam kết, bà con góp 1ha là 4 triệu, 4 triệu là ngày công đi trồng và chăm sóc rừng. Sau này chia tỷ lệ phần trăm lợi nhuận. Hai bên đã thỏa thuận, cam kết với nhau nhưng công ty đã không thực hiện cam kết.”

Song song với việc nêu ra những tồn tại, hạn chế và bất cập trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề mà cơ chế, chính sách còn bỏ ngỏ. Điển hình như việc, làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng thông qua một đơn vị chuyên trách, song hành với cộng đồng, cầm tay chỉ việc.

Tiến sĩ Cao Thị Lý, Bộ môn Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên phân tích: “Điều quan trọng đối với cộng đồng là phải làm sao có những người song hành, đơn vị song hành. Thực ra, ban bảo vệ phát triển rừng hiện nay đến xã thì chỉ có kiểm lâm địa bàn, xã đội, công an, tất cả đều tập trung cho bảo vệ rừng. Quản lý rừng bền vững mà chỉ bảo vệ rừng là chưa đủ, mà cần làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng. Đây là những câu chuyện còn bỏ ngỏ, chính sách rất cần.”

Tổng hợp thông tin từ các địa phương được lấy mẫu tại Đắk Lắk, nhóm nghiên cứu cho rằng điểm cốt lõi trong bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng là vấn đề hưởng lợi. Trách nhiệm giữ rừng phải gắn với lợi ích kinh tế từ rừng. Đây là vấn đề quan trọng nhất mà Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các chính sách liên quan cần phải được sửa đổi cho phù hợp, đồng bộ trong thời gian tới./.

Công Bắc/VOV- Tây Nguyên