Monthly Archives: Tháng Tám 2014

Nông trường chiếm đất của dân

Giữa năm 2013, Nông trường Cao su Quế Phong đã ngang nhiên đưa máy móc vào phá khu rừng đầu nguồn của bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch (Quế Phong, Nghệ An)…

5-13_anh_5_ZGXX.jpg.ashx

Ảnh minh họa

Rừng đầu nguồn của bản Pỏm Om không những đem lại lợi ích kinh tế cho đồng bào mà còn được coi là “rừng thiêng” của cộng đồng người Thái ở đây.

Rừng thiêng cũng chiếm

Bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch có 71 hộ đồng bào dân tộc người Thái. Từ lâu, cả bản được bao bọc bởi khu “rừng thiêng”, vốn được người dân bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Lô Cẩm Xuyên-Bí thư chi bộ thôn Pỏm Om cho biết: “Rừng ở Pỏm Om là rừng đầu nguồn, cung cấp nước sinh hoạt cho 5/11 bản của xã Hạnh Dịch và 1 đồn biên phòng”.

Với ý nghĩa như vậy, ngày 19.6.2012, thực hiện Thông tư liên tịch số 07 về việc thí điểm giao rừng cho cộng đồng quản lý, huyện Quế Phong đã giao 426,52ha đất, thuộc tiểu khu 85 cho cộng đồng bản Pỏm Om sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Thời gian sử dụng là 50 năm. Thế nhưng, tháng 5.2013, Nông trường Cao su Quế Phòng, thuộc Công ty cổ phần đầu tư phát triển (CPĐTPT) Cao su Nghệ An đã ngang nhiên cho máy san ủi khu rừng của bản để trồng cao su.

Ông Xuyên cho biết: “Lợi dụng lúc không ai để ý, nông trường cho máy lên san ủi. Lúc chúng tôi phát hiện, đã có 1,17ha rừng bị san lấp”. Sự việc được báo lên xã, huyện và đến ngày 29.5.2013, một cuộc họp giữa các bên liên quan diễn ra tại trụ sở Nông trường Cao su Quế Phong nhằm giải quyết vụ việc. Tại buổi làm việc này, ông Hồ Văn Mười, khi đó là Giám đốc Nông trường Cao su Quế Phong đã thừa nhận việc san ủi vào phần đất rừng của bản Pỏm Om 1,17ha.

Trước sự việc này, ông Lang Văn Minh- Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong đã có công văn gửi Nông trường Cao su Quế Phong yêu cầu, không được tiếp tục san ủi, khai hoang trồng cây lấn sang phần đất đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om… Thế nhưng không những không trả lại đất cho dân, mà ông Mười tiếp tục chỉ đạo cho máy san ủi nhằm… chiếm thêm đất của dân với diện tích hiện đã lên 7,6ha.

Bắt huyện… thu hồi sổ đỏ

Trước tình hình trên, ngày 19.2.2014, UBND huyện Quế Phong thêm một lần nữa phải ra công văn yêu cầu: “Nông trường Cao su Quế Phong chấm dứt ngay việc san ủi và trồng cây cao su trên phần đất đã giao và cấp sổ đỏ cho bản”. Phúc đáp lại nội dung công văn của huyện Quế Phong, Công ty CPĐTPT Cao su Nghệ An đã có Công văn số 157 do ông Trần Ngọc Thắng – Tổng Giám đốc ký với nội dung được coi là rất “trịch thượng”.

Theo đó, không những không thừa nhận sai phạm, công ty này còn… yêu cầu huyện Quế Phong ra quyết định thu hồi sổ đỏ đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om. Lý do, theo họ là: Dự án đầu tư phát triển nông – lâm nghiệp tại huyện Quế Phong giai đoạn 2001 – 2010 được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 3192 ngày 14.9.2001 do Tổng đội Thanh niên xung xong P7-XDKT (tiền thân của Nông trường Cao su Quế Phong) làm chủ đầu tư. Địa điểm tại xã Hạnh Dịch gồm 5 tiểu khu: 78, 81, 82, 84 và 85 với diện tích là 6.136,3ha”.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Lâm – Trưởng Phòng TNMT huyện Quế Phong cho biết, UBND huyện đã có công văn trả lời do Phó Chủ tịch Lang Văn Minh ký. Theo đó, quy hoạch trồng cao su được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 4081 ngày 13.9.2013 thì trên địa bàn xã Hạnh Dịch chỉ có 48,9ha tại tiểu khu 82, không quy hoạch trồng cao su tại tiểu khu 85. Việc cấp sổ đỏ cho bản Pỏm Om cũng hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Công ty Cao su Nghệ An mới là bên vi phạm pháp luật, bởi: Thậm chí “rắn” hơn, ông Lang Văn Minh còn khẳng định: “Nếu Công ty Cao su Nghệ An thấy quyền lợi bị xâm hại từ những quyết định của huyện Quế Phong, công ty có thể gửi khiến nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa đối với cá nhân theo quy định của pháp luật”.

Tại buổi tiếp xúc với chúng tôi, từ Trưởng bản, ông Bí thư và cả người dân bản Pỏm Om đều tỏ ra vô cùng bức xúc. Ông Lương Tiến Lê- Chủ tịch UBND xã Hạnh Dịch nói: “Việc lấn chiếm đất của nông trường là hoàn toàn sai trái. Chúng tôi rất mong, cơ quan cấp trên sớm đòi lại đất cho cộng đồng để người dân bảo vệ, sản xuất rừng”.
Tới ngày 30.7.2012, cộng đồng bản Pỏm Om đã được cấp sổ đỏ cho diện tích đất rừng nói trên, ông Lê Văn Phượng – Trưởng bản hiện là người giữ sổ.

Theo baomoi.com

“Phân tích giới trong phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách”.

Nằm trong chiến lược hoạt động của Mạng Lưới Đất Rừng (FORLAND) về nâng cao kiến thức và kỹ năng trong quá trình thực hiện các IBPs cho các thành viên liên minh. Trong hai ngày 19-20/8/2014 tại Khách sạn Xanh, Thành phố Huế; Trung Tâm Nghiên cứu và Phát Triển Xã Hội (CSRD) đã tổ chức khóa tập huấn “Phân tích giới trong phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách”.

Khóa tập huấn đã chào đón 29 học viên từ nhiều tổ chức khác nhau trong mạng lưới đất rừng như: CRD, CIRD, CORENARM, RDPR, CRCSD, PanNature. Với tư cách là thành viên của liên minh Đất rừng (FORLAND) 03 đại biểu của trung tâm CORENARM đã vinh dự tham gia khóa tập huấn này.

DSC_0303

Học viên lớp tập huấn -Ảnh FORLAND

Bà Lâm Thị Thu Sửu- Giám đốc Trung tâm CSRD đã phát biểu khai mạc lớp tập huấn và chia sẻ các mục tiêu cơ bản mà lớp tập huấn hướng đến: (i)Nắm bắt các khái niệm và công cụ phân tích về giới (Khung phân tích Moser, Khung phân tích Havard; Khung phân tích Kabeer). (ii)Nâng cao năng lực tư duy về mối quan hệ giữa giới và các vấn đề môi trường. (iii)Nâng cao khả năng lồng ghép giới trong công tác nghiên cứu, vận động chính sách và phát triển cộng đồng.

Trong khuôn khổ lớp tập huấn, Ông Đặng Ngọc Quang đã giúp các học viên hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan về giới: Khái niệm về giới và các thuật ngữ chính, giá trị và thái độ về giới, giới trong phân công lao động, vấn đề bất bình đẳng giới và các yếu tố ảnh hưởng, nhu cầu thực tế và lợi ích chiến lược, phương pháp tiếp cận “Phụ Nữ trong Phát triển” và “Giới và Phát triển”… Đây cũng là cơ hội để các thành viên trong mạng lưới được giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau. Nội dung của lớp tập huấn được xây dựng theo phương pháp có sự tham gia. Hầu hết các nội dung được giảng viên khơi gợi và định hướng, học viên phải chủ động thực hành, trả lời các vấn đề được đưa ra và từ đó tự tổng kết và rút ra những khái niệm cho riêng bản thân mình.

DSC_0295 - Copy

Thảo luận nhóm- Ảnh FORLAND

Giảng viên và các học viên đã dành phần lớn thời gian để đúc kết lại nội dung của hai ngày tập huấn. Kế hoạch vận dụng các kiến thức của khóa tập huấn vào công việc thực tiễn của các tổ chức. Các hoạt động phát triển phải được nhìn nhận dưới nhiều sắc cạnh khác đồng thời vận động chính sách phải có sự lưu tâm đến nhạy cảm giới.

Kết thúc khóa tập huấn, Trung Tâm Nghiên cứu và Phát Triển Xã Hội (CSRD) đã trao giấy chứng nhận cho các học viên và chụp ảnh lưu niệm. Khóa tập huấn thành công tốt đẹp với nhiều ý tưởng về cách triển khai và vận dụng các kiến thức giới trong Phát triển cộng đồng và nghiên cứu Vận động chính sách.

FORLAND

Đắc Nông: 4.500ha rừng “đột nhiên” biến mất

 Chỉ từ năm 2008 – 2013, hơn 4.500ha rừng và đất lâm nghiệp tại xã Trường Xuân (huyện Đắc Song, tỉnh Đắc Nông) đã bị chặt phá, bao chiếm trái phép do chủ rừng là Cty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân – doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh – buông lỏng quản lý. Điều đáng nói là hàng nghìn hécta rừng biến mất nhưng cả UBND huyện, công an huyện, hạt kiểm lâm đều không hay biết.

70% diện tích rừng bị tàn phá
Ngày 20.8, PV Báo Lao Động có mặt tại tiểu khu 1689 thuộc xã Trường Xuân, nơi có bạt ngàn những rẫy caosu, càphê được trồng trên đất rừng mới phá. Ông Hà Văn Tuất – người xã Trường Xuân – ngạc nhiên khi chúng tôi đề cập việc canh tác trên đất rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý. “Tôi mua 2ha này từ năm 2009, làm hoa màu mấy vụ rồi, bây giờ mới trồng càphê. Việc mua bán không cần biết tới Cty với lâm trường gì đâu” – ông Tuất nói.

Cũng theo ông Tuất, tiểu khu 1689 có đến vài chục người ở các thôn 4 – 5 thuộc xã Trường Xuân đang canh tác, trong đó có người tự khai hoang, có người mua lại. Chuyện ở tiểu khu 1706 còn nực cười hơn. Nhận được đơn của 28 hộ dân thôn Bu Bơ, chính quyền xã và hạt kiểm lâm huyện tiến hành xác minh, qua đó mới biết đất rừng bị các hộ này bao chiếm từ nhiều năm trước, nhưng Cty lâm nghiệp Trường Xuân không hề ngăn chặn, giải tỏa. Ông Phạm Quốc Thụy – Chủ tịch UBND xã – cho biết: “Các hộ này bao chiếm đất rừng là sai, một số có cây trồng bị chặt phá, nhưng không phải đơn vị chủ rừng làm việc này”.

3-eghn_NPCE

70% diện tích rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý đã biến thành… đất nông nghiệp. Ảnh: Đặng Trung Kiên

Thực trạng trên cho thấy, Cty lâm nghiệp Trường Xuân đã làm ngơ trước nạn phá rừng, bán đất tràn lan trên lâm phần được giao quản lý. Chính vì vậy, chỉ trong vòng 5 năm, có hơn 4.500ha đất lâm nghiệp bị bao chiếm để làm nhà ở, đất nông nghiệp, mua bán trái phép, trong đó có hơn 3.500ha là rừng tự nhiên bị chặt phá. Mới đây, đoàn kiểm tra liên ngành do UBND tỉnh thành lập đã kết luận, “chưa có diện tích nào bị chặt phá, bao chiếm được Cty lâm nghiệp Trường Xuân thống kê, tổ chức giải tỏa, thu hồi để trồng lại rừng”.
Không xử lý hình sự do… cơ chế!
Có một loạt lý do được Cty lâm nghiệp Trường Xuân giải thích cho việc mất rừng: Tài chính khó khăn, phải cắt giảm 50% LĐ nên thiếu lực lượng bảo vệ rừng, lương trả cho NLĐ chỉ ở mức tối thiểu… Nhưng điều đáng nói là việc mất rừng với diện tích lớn, diễn ra trong thời gian dài, Cty không báo cáo đầy đủ với cấp thẩm quyền. Trong khi đó, Cty vẫn xây dựng phương án bảo vệ rừng, PCCC rừng trên diện tích… đã biến mất. Rõ ràng, lãnh đạo Cty lâm nghiệp Trường Xuân đã thiếu trách nhiệm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đủ điều kiện chuyển cơ quan điều tra xử lý. Mặt khác, UBND huyện Đắc Song, hạt kiểm lâm, công an huyện, UBND xã Trường Xuân cũng có trách nhiệm trong việc để mất rừng trên địa bàn – theo Quyết định 07/2012/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
Vậy nhưng, “xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, liên quan đến cơ chế, chính sách, tình hình chung… nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”. Do vậy, mới đây, UBND tỉnh Đắc Nông giao Sở Nội vụ tham mưu kỷ luật ông Trần Quyết Tâm – Chủ tịch kiêm GĐ Cty – và một số cán bộ Cty, yêu cầu UBND huyện Đắc Song và các cơ quan của huyện nghiêm túc kiểm điểm. Tuy nhiên, nếu vụ việc này không được xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật thì có thể diện tích rừng còn lại ở Trường Xuân cũng sẽ nhanh chóng bị “xóa sổ”. Hiện Cty chỉ còn lại 1.728ha rừng trên lưu vực các suối: Đắc Nông, Đắc Rung, Đắc R’tih và Đắc Búc So – các suối lớn của tỉnh Đắc Nông. Nếu không giữ được những cánh rừng này, cả một vùng rộng lớn phía tây nam tỉnh – trong đó có thị xã tỉnh lỵ Gia Nghĩa – sẽ bị cạn kiệt nguồn nước.

Đặng Trung Kiên/ laodong.com

Hàng loạt nhà đầu tư đến Đắk Nông: Lập dự án để phá rừng, bán đất

Sau khi được UBND tỉnh cho thuê đất rừng, nhiều “nhà đầu tư” đã tìm cách phá rừng lấy đất trồng cao su hoặc rao bán với giá từ vài tỷ đến hàng chục tỷ đồng một dự án. Hiệu quả kêu gọi đầu tư chưa thấy nhưng hàng nghìn hécta rừng đã bị xóa sổ.

Thuê rừng để phá

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đăk Nông vừa bắt tạm giam Hoàng Trọng Hiếu – trú xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM – về tội hủy hoại rừng. Hiếu là Chủ tịch HĐQT, Phó Giám đốc Công ty TNHH Phương Linh Đăk Nông.

Theo điều tra ban đầu, năm 2012, Công ty Phương Linh Đăk Nông ký hợp đồng liên doanh với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín (doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh có chức năng bảo vệ, phát triển và kinh doanh rừng) để thực hiện dự án phát triển rừng, trồng cao su trên đất rừng.

Trong khi dự án chưa được phê duyệt, Hoàng Trọng Hiếu đã thuê DNTN Hùng Lĩnh, Công ty TNHH Đỉnh Nghệ và một cá nhân tiến hành san ủi trái phép hơn 39ha rừng tự nhiên tại tiểu khu 1507 thuộc huyện Tuy Đức với danh nghĩa… cải tạo rừng tự nhiên.

Cũng trong tuần đầu tháng 8.2014, Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an Đăk Nông đã báo cáo UBND tỉnh về một dự án gây thiệt hại gần 400ha rừng tự nhiên. Năm 2006, UBND tỉnh cho Công ty CP Chế biến lâm sản Thăng Long thuê 516ha rừng tại tiểu 1678 thuộc huyện Đăk Song để bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng nguyên liệu.

Nhưng sau khi thuê rừng, ông Bùi Văn Tiêm – Giám đốc Công ty này đã không triển khai dự án, không tổ chức bảo vệ rừng mà chỉ giữ chỗ chờ thời. Do dự án không có hiệu quả, tháng 7.2013, tỉnh ra quyết định thu hồi, giao cho UBND huyện Đăk Song quản lý. Quá trình bàn giao, mới đây cơ quan chức năng phát hiện có 396,6ha rừng bị xóa sổ và bao chiếm trái phép.

pha-rung

Ảnh minh họa

Không phá được thì… bán

Ngoài các dự án không hiệu quả, chủ đầu tư cố ý phá rừng, Công an tỉnh cũng vừa bắt tạm giam hàng loạt giám đốc lừa đảo, rao bán đất rừng.

Năm 2009, DNTN Đại Phát Lộc ký hợp đồng liên doanh với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín trên diện tích 398ha tại tiểu khu 1525 – xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức – để phát triển rừng và trồng cây công nghiệp.

Do không có năng lực tài chính nên Đại Phát Lộc xin điều chỉnh giảm còn 159ha, đồng thời xin chuyển từ hình thức liên doanh sang thuê đất – tức UBND tỉnh thu hồi đất rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, cho DNTN Đại Phát Lộc thuê.

Đến năm 2012, khi thủ tục chưa hoàn tất, bà Lương Thị Thắm – Giám đốc DNTN Đại Phát Lộc – đã bán toàn bộ diện tích rừng này cho ông Trần Huy Hoàng – trú huyện Bù Đăng (Bình Phước) với giá 5,5 tỷ đồng.

Cũng từ việc thuê đất rừng của nhà nước, bà Phạm Thị Thu Hiền – Giám đốc Công ty TNHH Bảo Châu – đã bán 200ha đất rừng tại tiểu khu 1537 thuộc xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức cho bà Đỗ Thanh Vân – ở phường 10, quận Gò Vấp, TP.HCM – và một số cá nhân với giá 26 tỷ đồng. Mới nhận được 8,1 tỷ đồng, bà Hiền đã bỏ trốn ra nước ngoài.

Sau một thời gian bị truy nã ráo riết, mới đây Phạm Thị Thu Hiền đã đến Công an tỉnh Đăk Nông đầu thú. Tại khu vực dự án của 2 đơn vị này, rừng tự nhiên đã bị phá với diện tích lớn do không được quản lý, bảo vệ.

Từ chủ trương kêu gọi đầu tư, chỉ trong vài năm, hàng nghìn hécta rừng ở Đăk Nông đã bị “cạo trọc” không thương tiếc, bị các DN và cá nhân mua bán lòng vòng.

Ông Đỗ Ngọc Duyên – Giám đốc Sở NNPTNT Đăk Nông – thừa nhận, mục đích của nhiều DN là lấy đất trồng cao su chứ không phải bảo vệ rừng, một số DN không có năng lực tài chính nên chưa xong thủ tục đã bán lại kiếm lời. Đây là hạn chế lớn làm giảm hiệu quả kêu gọi đầu tư, làm mất rừng, mất đất với diện tích lớn.

Từ kêu gọi đầu tư, chỉ trong vài năm, hàng nghìn hécta rừng ở Đăk Nông đã bị “cạo trọc” không thương tiếc.

Theo Dan Viet

Nhiều tiêu cực do bất cập của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004

VOV.VN – Bất cập rõ nét nhất của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 là việc xử lý lâm tặc xâm hại rừng cộng đồng với nhiều biểu hiện tiêu cực.

Sau 10 năm, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 và những chính sách liên quan đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số quy định hiện không còn phù hợp với thực tế, qua đó làm nảy sinh nhiều tiêu cực. Đây là kết quả nghiên cứu gần đây do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, Đại học Nông Lâm Huế phối hợp với Đại học Tây Nguyên và Mạng lưới Đất rừng (FORLAND) thực hiện tại tỉnh Đắk Lắk.

anh2_CPPT

Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế và bất cập trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng những chính sách liên quan-Ảnh Công Bắc

Nghiên cứu được thực hiện ở 4 buôn gần rừng, thuộc xã Ea Sol, huyện Ea H’leo và xã Yang Mao, huyện Krông Bông. Ở 4 buôn này, bất cập rõ nét nhất là trong việc xử lý lâm tặc xâm hại rừng cộng đồng, với nhiều biểu hiện tiêu cực.

Ông Nay Pá, dân tộc Ja Rai, đại diện cho cộng đồng buôn Taly, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo nói: “Ở buôn, nhiều lúc muốn thông báo cho kiểm lâm hoặc người của UBND xã đến bắt giữ xe vi phạm, xâm hại rừng cộng đồng và các loại rừng khác nhưng không có ai đến. Sau khi xe đã đi rồi thì mới có người tới. Ở buôn cũng không có công cụ hỗ trợ nào khác nên không dám giữ xe người ta lâu. Trong khi đó, từ ủy ban về buôn Taly chỉ khoảng 3km”.

anh1_BWWE

Ông Nay Pá nêu biểu hiện tiêu cực khi cộng đồng phát hiện xe chở gỗ trái phép- Ảnh Công Bắc

Cùng với việc xử lý vi phạm không quyết liệt, có dấu hiệu tiêu cực, việc giao quyền cho cộng đồng cũng không phù hợp với thực tế. Trong khi đời sống kinh tế của các buôn còn khó khăn, cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng lại không cụ thể nên không khuyến khích được người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm. Ở một số cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, vì bà con còn đói nghèo, thiếu đất sản xuất, nên đã xảy ra tình trạng phát rừng làm rẫy.

anh3_LAUT

Ông Nay Pá nêu biểu hiện tiêu cực khi cộng đồng phát hiện xe chở gỗ trái phép-Ảnh Công Bắc

Anh Y Phối, dân tộc Ê Đê, ở buôn Hàng Năm, xã Yang Mao, huyện Krông Bông cho biết: “Buôn của tôi nằm chân núi Chư Yang Sin. Buôn làng tôi thật sự còn nghèo. Ông bà tôi ngày xưa có nhiều đất, nhưng bây giờ, đối những người vừa tách hộ như tôi lại không còn đất để canh tác. Tôi vẫn biết Luật của nhà nước đề ra quản lý và bảo vệ rừng nhưng mà tình hình hiện tại khiến tôi gặp khó khăn, thiếu thốn, không đủ điều kiện để nuôi nấng con cái, gia đình. Tôi phải làm ít để có lúa, tôi xâm lấn đất rừng của lâm trường cũng là để trồng lúa khô”.

Ở khía cạnh khác, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra có dấu hiệu mập mờ khi một số doanh nghiệp được chính quyền tạo điều kiện để liên kết với người dân, cộng đồng để phát triển rừng, nhưng doanh nghiệp đã không thực hiện theo cam kết, khiến người dân lo lắng.

Ông Nay Nhoen, dân tộc Ja Rai, ở buôn Chăm, xã Ea Sol, huyện Ea H’leo cho biết: “Công ty Hoàng Việt (Đắk Lắk) đã liên kết với buôn, hứa với buôn nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Năm 2014, công ty này trồng rừng mà không thông báo cho bà con trong buôn. Công ty trồng cây trong rẫy của bà con nhưng thuê người ở Phú Bổn chứ không thuê đồng bào buôn Chăm. Mặt khác, công ty cam kết, bà con góp 1ha là 4 triệu, 4 triệu là ngày công đi trồng và chăm sóc rừng. Sau này chia tỷ lệ phần trăm lợi nhuận. Hai bên đã thỏa thuận, cam kết với nhau nhưng công ty đã không thực hiện cam kết.”

Song song với việc nêu ra những tồn tại, hạn chế và bất cập trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề mà cơ chế, chính sách còn bỏ ngỏ. Điển hình như việc, làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng thông qua một đơn vị chuyên trách, song hành với cộng đồng, cầm tay chỉ việc.

Tiến sĩ Cao Thị Lý, Bộ môn Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên phân tích: “Điều quan trọng đối với cộng đồng là phải làm sao có những người song hành, đơn vị song hành. Thực ra, ban bảo vệ phát triển rừng hiện nay đến xã thì chỉ có kiểm lâm địa bàn, xã đội, công an, tất cả đều tập trung cho bảo vệ rừng. Quản lý rừng bền vững mà chỉ bảo vệ rừng là chưa đủ, mà cần làm thế nào để cộng đồng hiểu và sử dụng rừng bền vững, làm thế nào để phát triển rừng. Đây là những câu chuyện còn bỏ ngỏ, chính sách rất cần.”

Tổng hợp thông tin từ các địa phương được lấy mẫu tại Đắk Lắk, nhóm nghiên cứu cho rằng điểm cốt lõi trong bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng là vấn đề hưởng lợi. Trách nhiệm giữ rừng phải gắn với lợi ích kinh tế từ rừng. Đây là vấn đề quan trọng nhất mà Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các chính sách liên quan cần phải được sửa đổi cho phù hợp, đồng bộ trong thời gian tới./.

Công Bắc/VOV- Tây Nguyên

Truyền thông vận động chính sách

Trong hai ngày 6-7/08/2014 tại Tam Đảo, Tổ chức Oxfam Anh đã tổ chức lớp tập huấn truyền thông cho các liên minh vận động chính sách. Đây là khóa tập huấn lần 2 trong chuỗi hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho các liên minh. Theo chia sẻ của Bà Điệp Hoa- chuyên gia truyền thông của tổ chức Oxfam Anh khóa tập huấn này chủ yếu tập trung vào ba mục tiêu chính như sau: (i) cung cấp các kiến thức cơ bản về truyền thông có nhạy cảm giới, (ii) nâng cao kỹ năng tổ chức họp báo và viết thông cáo báo chí và (iii) sử dụng mạng xã hội trong truyền thông vận động chính sách.

Lớp tập huấn có sự tham gia của gần 30 học viên là đại diện của tổ chức Oxfam và đại diện của 5 liên minh vận động chính sách: liên minh đất rừng (FORLAND), liên minh đất đai (LANDA), liên minh y tế, liên minh nước sạch, liên minh nông nghiệp.

Anh Blog

Học viên thực hành giới-Ảnh FORLAND

 Nội dung của khóa tập huấn được xây dựng dựa trên phương pháp có sự tham gia, học viên là trung tâm của lớp học và giảng viên chỉ có vai trò thúc đẩy và khơi gợi các nội dung liên quan. Giới và truyền thông là một nội dung khá quan trọng và các liên minh cần phải lưu ý trong quá trình vận động chính sách.Thông qua các trò chơi, chuyên gia của Oxfam đã truyền tải được các nội dung liên quan một cách sinh động: phân biệt giới và giới tính, định kiến giới, khuôn mẫu giới và lưu ý trong quá trình truyền thông có nhạy cảm giới.

Bà Điệp Hoa khẳng định rằng “ Bản thân của mỗi liên minh là một thương hiệu”, tuy nhiên xây dựng một thương hiệu vững mạnh cần có sự tham gia của mỗi thành viên tham gia liên minh. Một thương hiệu mạnh phản ánh sự khác biệt, tính độc đáo và giúp tổ chức định vị và phản ánh vị thế của tổ chức, thúc đẩy hành động trong tổ chức (các nhân viên sẽ tự hào hơn khi xây dựng thương hiệu này), xây dựng lòng tin (bên trong và bên ngoài tổ chức), huy động sự ủng hộ của xã hội và tạo ra mối quan hệ bền vững. Hoạt động của các liên minh là sử dụng các câu chuyện hay chứng cứ thực tiễn huy động sự đồng thuận của xã hội để tác động đến những người ra quyết định hay hoạch định chính sách do đó thương hiệu mạnh là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công của liên minh.

Thời gian còn lại của khóa tập huấn, giảng viên và học viên chủ yếu tập trung vào các kỹ năng liên quan đến truyền thông: viết thông cáo báo chí, tổ chức họp báo và sử dụng mạng xã hội vào hoạt động vận động chính sách. Các học viên lớp học tiến hành viết thông cáo báo chí cho các hoạt động thực tế của các liên minh, thông qua phần bài tập này thì cán bộ truyền thông của các liên minh cũng rút ra được cho bản thân mình những lỗi thường gặp và cách xử lý đối với các trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó, thông qua nội dung chia sẻ của Ông Lương Thế Huy- Tổ chức iSEE, mạng xã hội là một công cụ vô cùng quyền lực để tiến hành các hoạt động vận động chính sách. Mỗi liên minh có thể lựa chọn một hình thức phù hợp để huy động sự đồng thuận của xã hội đối với vấn đề minh đang theo đuổi. Tuy nhiên truyền thông online cũng cần có sự nhạy cảm và lườn trước được những thách thức và rủi ro có thể xảy ra khi mục tiêu của hoạt động truyền thông bị đại bộ phận xã hội vận hành theo một hướng khác.

Mỗi liên minh nên xây dựng một chiến lược truyền thông rõ ràng, có định hướng và khẳng định giá trị thương hiệu của liên minh thông qua chất lượng của các sản phẩm mà liên minh “bán ra” thị trường.

FORLAND

Hội thảo “ Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật Bảo về và phát triển rừng(BV&PTR) 2004 tại tỉnh Đak Lak”

Ngày 08/08/2014 tại thành phố Buôn Mê Thuộc, Liên minh đất rừng (FORLAND) đã phối hợp với Trường Đại học Tây Nguyên tổ chức hội thảo: “Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật BV&PTR 2004”. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ dự án “Tham vấn cộng đồng về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 ” của FORLAND do Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD)- Đại học Nông Lâm chịu trách nhiệm triển khai với sự hỗ trợ tài chính của tổ chức Oxfam Anh.

Anh hoi thao-blog

Ông Lân- Điều phối viên Liên minh FORLAND phát biểu khai mạc hội thảo- Ảnh FORLAND

Ông Lê Văn Lân, Điều phối viên liên minh FORLAND, chia sẻ về mục tiêu của hội thảo: (i) Báo cáo kết quả tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật BV&PTR 2004 tại tỉnh Đăk Lăk và (ii) Ghi nhận các khuyến nghị của hội thảo về sửa đổi/điều chỉnh Luật BV&PTR 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng.

Hội thảo có sự tham gia của 29 đại biểu đến từ các đơn vị và tổ chức khác nhau, trong đó có 04 đại diện đến từ CRD – tổ chức điều phối liên minh, 02 chuyên gia của Trường Đại học Tây Nguyên, 06 đại biểu đến từ các cấp chính quyền của tỉnh Đak Lak và chính quyền hai huyện Krông Bông và Ea H’Leo và 17 đại diện đến từ cộng đồng nơi dự án tiến hành nghiên cứu và một số tổ chức khác.

Hội thảo đã chia sẻ các báo cáo tham luận: Ông Hoàng Mạnh Quân- Giám đốc Trung tâm CRD, đã giới thiệu về Liên minh FORLAND và tuyên bố lý do tổ chức hội thảo. Theo ông Quân, Liên minh FORLAND được hình thành với mục tiêu góp phần cho người dân miền núi và đồng bào DTTS được tiếp cận công bằng, quản lý, sử dụng hiệu quả và hưởng lợi bền vững từ rừng và đất rừng để ổn định phát triển sinh kế, hoạt động như là cầu nối giữa cộng đồng, người dân với các cơ quan hoạch định chính sách. Bà Cao Thị Lý trình bày báo cáo “Kết quả tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật BV&PTR 2004 tại tỉnh Đăk Lăk”. Theo báo cáo, trong quá trình khảo sát nhóm nghiên cứu đã phát hiện 13 vấn đề cần chú trọng chẳng hạn: (i) Giao rừng không gắn liền với giao đất, (ii) Hưởng lợi từ rừng được giao của người dân còn hạn chế, (iii) chế hỗ trợ cộng đồng nhận rừng trong các hoạt động bảo vệ rừng còn thiếu, (iv) Hiện tượng người dân từ nơi khác tác động vào rừng cộng đồng vẫn còn diễn ra, …

Một trong những kết quả của nhóm nghiên cứu là xây dựng được 09 câu chuyện từ thực tế, tuy nhiên do thời gian có hạn nên tại hội thảo chỉ chọn 05 câu chuyện điển hình để chia sẻ với các đại biểu.

Sau phần trình bày chung của nhóm nghiên cứu và các câu chuyện thực tế của cộng đồng , toàn thể hội thảo đã thảo luận một cách sôi nổi về các phát hiện mà nhóm đã thu thập và tổng hợp từ thực tế. Theo ông Nguyễn Lân – PCT UBND huyện Krông Bông, các phát hiện của nhóm nghiên cứu là vô cùng lý thú và đã tập hợp lại một cách có hệ thống để kiến nghị đến Tổng cục lâm nghiệp. Cơ chế hưởng lợi của người dân không có nên dẫn đến khó khăn trong quá trình bảo vệ rừng được giao.

“Cần định nghĩa lại vùng đệm, đầu tư cho người dân ở vườn quốc gia để người dân có thể phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở vùng này” là ý kiến của ông Nguyễn Văn Xuân – PCT Hội nông dân tỉnh Đak lak . Ông Xuân chia sẻ thêm, cần phải xác định lại chủ thể nhận rừng để có sự phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa người giữ rừng và người sử dụng rừng, thay đổi các chính sách về GĐGR và khoán rừng cho phù hợp, mở rộng việc chi trả tiền cho người dân để trồng rừng trong đất bị hoang hóa.

Theo ông Võ Minh Quân – Chi cục lâm nghiệp tỉnh Đak Lak: “Rừng nghèo giao cho người nghèo” không có đầu tư, không có hỗ trợ thì không thể bảo vệ rừng. Không xác định được chủ thể cộng đồng ,khái niệm cộng đồng rất mập mờ dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình bảo vệ và hưởng lợi.

Căn cứ vào những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự hội thảo, Liên minh FORLAND có trách nhiệm tổng hợp và hoàn chỉnh các kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập, giải quyết những khó khăn trong thực thi Luật BVPTR 2004 đối với hộ gia đình và cộng đồng để đệ trình các cấp quản lý nhà nước liên quan đến Luật BV&PTR 2004.

FORLAND

Thủy điện mới trồng lại được 6,3% diện tích rừng trồng bù

Tính đến thời điểm hiện tại, các dự án thủy điện trên địa bàn cả nước mới thực hiện trồng rừng thay thế được 1.248,92 ha trong tổng số diện tích phải trồng bù rừng là 19.792 ha (đạt 6,3%).
10dt_LKFS

Ảnh: Thanh Hương

Với vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng, theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, các nhà máy thủy điện phải chi trả dịch vụ môi trường rừng để góp phần bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện, với mức chi trả 20 đồng/kWh điện thương phẩm và việc chi trả thực hiện ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.

Đến nay, cả nước có 38 tỉnh, thành phố lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, trong đó có 36 tỉnh đã thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và 30 quỹ đã từng bước ổn định tổ chức đi vào hoạt động.

Liên quan vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng, ông Lê Trọng Quảng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu đề nghị nâng mức chi trả này lên 30 – 40 đồng/kWh để bà con ở miền núi yên tâm giữ rừng, tạo điều kiện cho việc đảm bảo nước hồ thủy điện, cấp nhiều điện cho miền xuôi.

Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hệ thống Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã chủ động ký kết với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (các nhà máy thủy điện, cung ứng nước sạch và du lịch có sử dụng môi trường rừng) được 281 hợp đồng (thời điểm ngày 30/3/2014), với số tiền dịch vụ môi trường rừng đã thu được của năm 2011 và 2012 là 1.172 tỷ đồng, năm 2013 đạt 1.068 tỷ đồng, kế hoạch năm 2014 thu 1.150 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Xuân Tiến, Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng cho biết, trên địa bàn tỉnh có quy hoạch 83 công trình thủy điện vừa và nhỏ, qua khảo sát đã đề nghị loại bỏ 46 dự án vì thấy không hiệu quả, liên quan đến việc lấy nhiều đất rừng trồng. Trong số còn lại, có 10 dự án đã hoạt động, 10 dự án đang triển khai thi công, 9 dự án có chủ trương đầu tư và 8 dự án đang tiếp tục rà soát xem hiệu quả ra sao.

Theo ông Tiến, quan điểm của tỉnh là nếu dự án tác động đến đất rừng, không có hiệu quả thì kiên quyết loại bỏ, trừ những dự án ở vùng quá sâu và quá xa.

Theo ông Đặng Huy Cường, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương), cả nước hiện có 284 công trình thủy điện, với tổng công suất lắp máy 14.698 MW đang vận hành phát điện; 204 dự án (6.146,56 MW) đang thi công xây dựng, dự kiến từ nay đến năm 2017 sẽ vận hành phát điện; 250 dự án (3.049,20 MW) đang nghiên cứu đầu tư. Còn lại 78 dự án (800,58 MW) chưa nghiên cứu đầu tư, chưa có nhà đầu tư đăng ký, chủ yếu có quy mô nhỏ, đang được tiếp tục rà soát về hiệu quả kinh tế và các điều kiện khác có liên quan.

Bộ Công thương cũng cho hay, theo báo cáo của UBND các tỉnh, hầu hết chủ đầu tư các dự án phải lập và thực hiện phương án trồng rừng thay thế theo Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ chưa thực hiện hoặc đang lập phương án để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là chủ đầu tư dự án chưa được hướng dẫn việc lập phương án, do quỹ đất của địa phương hạn chế hoặc đã có chủ trương, nhưng còn lúng túng giữa trách nhiệm và nghĩa vụ của địa phương và chủ đầu tư dự án trong việc bố trí đất thực hiện trồng rừng về loại cây trồng, chế độ chăm sóc, bảo vệ; về đơn giá trồng rừng (với trường hợp chủ đầu tư không trực tiếp trồng rừng thay thế).

Theo Thanh Hương
baodautu.vn

Gia Lai: Rừng mất, dân nghèo do thực hiện sai chủ trương?

VOV.VN – Trong sáu tháng đầu năm 2014, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra hơn 600 vụ vi phạm luật Bảo vệ – Phát triển rừng.

Ngày 6/8, Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên cùng đại diện các bộ, ban ngành Trung ương đã có buổi làm việc về giám sát công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Gia Lai. Nhiều vấn đề nóng liên quan đã được nêu ra, mổ xẻ để tìm nguyên nhân.

Trong sáu tháng đầu năm 2014, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra hơn 600 vụ vi phạm luật Bảo vệ – Phát triển rừng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính gần 530 vụ và xử lý hình sự 18 vụ. Qua đó, tịch thu khoảng 420 mét khối tròn, 815 mét khối gỗ xẻ từ nhóm 1 đến nhóm 5, thu giữ gần 100 chiếc xe các loại dùng để vận chuyển gỗ. Tổng số tiền thu, nộp vào Kho bạc Nhà nước gần 10 tỷ 300 triệu đồng

chay2_JDUT

Rừng ở Gia Lai đang bị xâm phạm nghiêm trọng. (Ảnh: Tiền Phong)

Đáng chú ý, mặc dù tại Gia Lai không còn chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên, nhưng hiện vẫn còn rất nhiều cơ sở chế biến gỗ được cấp phép hoạt động, nhiều cơ sở nằm ở trong hoặc sát với rừng tự nhiên. Đây là một bất cập, khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn.

Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp nêu thực tế qua quá trình giám sát tại địa phương: “Gia Lai là tỉnh có nhiều cơ sở chế biến nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên. Tới 276 cơ sở chế biến lấy gỗ từ rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên. Trong khi đó, trồng rừng của tỉnh Gia Lai là thấp nhất trong 5 tỉnh. Rừng tự nhiên thì đóng cửa rồi, chế biến lâm sản bây giờ không trồng rừng sản xuất thì lấy gỗ ở đâu ra. Đây là câu chuyện bất cập.”

Một vấn đề quan trọng khác được đoàn giám sát của Ban chỉ đạo Tây Nguyên và đại điện các bộ, ngành nêu ra đó là công tác chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã không đi đúng hướng. Theo chủ trương của Chính Phủ, hai mục tiêu chính của chuyển đổi rừng nghèo để phục vụ tạo sinh kế và tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là người dân bản địa. Tuy nhiên, cả hai mục tiêu này đều chưa thực hiện được. Việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai hiện nay mới chủ yếu phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp tư nhân. Đây là vấn đề cần phải được xem lại.

Anh_1_Ong_Tran_Viet_Hung_LRMM

Ông Trần Việt Hùng – Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng Gia Lai nên học tập kinh nghiệm trồng rừng của Kon Tum-Công Bắc/VOV

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng vụ nông nghiệp nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương nói: “35-36 nghìn ha rừng chuyển đổi mà chỉ giải quyết việc làm cho 986 lao động người đồng bào dân tộc tại chỗ là quá ít. Trong kiểm tra giám sát theo yêu cầu của thường trực Ban bí thư về chuyển rừng nghèo sang trồng cao su, chúng tôi rất không đồng tình là toàn bộ diện tích chuyển rừng nghèo sang trồng cao su là giao cho các doanh nghiệp ở Đồng Nai, Bình Dương và các doanh nghiệp tư nhân họ vào làm mà không gắn với việc giải quyết đất ở, đất sản xuất và tranh chấp đất ở, đất sản xuất giữa đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với các công ty này rất nhiều.”

Không chỉ có vấn đề trong quản lý – bảo vệ rừng và chuyển đổi rừng sang trồng cao su, Gia Lai còn yếu kém trong công tác phát triển rừng, khi suốt hơn 1 năm nay, tỉnh không trồng rừng phòng hộ, với lý do là thiếu kinh phí.

Sau khi nắm bắt tình hình tại địa phương, ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng, Gia Lai nên học tập kinh nghiệm trồng rừng của Kon Tum, tỉnh liền kề, có điều kiện kinh tế eo hẹp hơn: “UBND tỉnh Kon Tum trồng rừng sản xuất với mức 43,7 triệu đồng/ha, trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với mức 36,3 triệu đồng/ha. Họ triển khai từ tháng 3 và tháng 6 năm 2013. Chính mức này đã làm cho việc giao khoán rừng và trồng rừng ở các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp và giao rừng cho cộng đồng tốt hơn. Rồi, người dân trước đây từ chỗ lấn chiếm đất rừng, nhưng nay có chính sách này, người ta quay lại hợp tác với công ty lâm nghiệp để góp phần trồng rừng.”

Đối với việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, ông Trần Việt Hùng đề nghị UBND tỉnh Gia Lai rà soát lại để giải quyết những tồn tại, đảm bảo chủ trương chuyển đổi rừng nghèo của Chính phủ đạt các mục tiêu đề ra là phục vụ tạo sinh kế, phát triển đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Về vấn đề đã xác định được các đầu nậu gỗ nhưng không thể xử lý, đây là điều bất cập khi tỉnh có cả một hệ thống các cơ quan chức năng có đủ thẩm quyền. Đây là bất cập lớn mà Gia Lai cần khắc phục trong thời gian tới./.

Công Bắc/VOV – Tây Nguyên

Nhiều vướng mắc trong quản lý rừng và đất lâm nghiệp

KTĐT – Với diện tích trên 24.000ha rừng và 9.000ha đất lâm nghiệp, rừng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái của Hà Nội.
Song, làm thế nào để quản lý rừng và đất lâm nghiệp hiệu quả, xứng với tiềm năng đang trở thành thách thức lớn đối với ngành lâm nghiệp Thủ đô.
Chậm tiến độ giao đất, giao rừng
Nhiều năm trước đây, công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn TP bị “buông lỏng” nên đã xảy ra không ít những vụ vi phạm về tranh chấp, lấn chiếm đất, rừng của người dân. Thêm nữa, tại những địa phương có rừng thường xen kẽ nhiều nhà ở dân cư, cơ quan, đơn vị, công trình… nên công tác quản lý của TP gặp không ít khó khăn, nhất là việc xác định chủ rừng. Hiện nay, hầu hết các diện tích rừng đều chưa xác định được chủ rừng, hoặc rừng có chủ nhưng “chính chủ” (người đăng ký nhận rừng) không ở địa phương do đã qua nhiều lần chuyển nhượng, mua đi bán lại mà không báo với cơ quan chức năng. Thực trạng này dẫn đến hệ lụy không ít diện tích rừng đang bị sử dụng sai mục đích, hiệu quả thấp; nguồn thu từ rừng cũng chưa xứng với tiềm năng

dta-rung

Đất rừng tại huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội cần được quan tâm bảo vệ. Ảnh: Tuấn Anh

Mặt khác, việc xử lý tài sản rừng trên đất (trữ lượng và giá trị lâm sản) theo đúng quy định phải được cơ quan có thẩm quyền xác định, đánh giá chính xác trước khi giao cho người nhận. Người nhận đất phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính (nộp tiền cho Nhà nước đối với giá trị lâm sản thực tế tồn tại trên diện tích được nhận quyền sử dụng đất) thì mới được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đó là những nguyên nhân khiến Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn TP chậm tiến độ.
Lý giải về thực trạng này, bà Mai Minh Hương – Phó Trưởng phòng Trồng trọt (Sở NN&PTNT Hà Nội) cho biết, ngay sau khi có Thông tư số 07/2011-TTLT- BNNPTNT-BTNMT của Bộ NN&PTNT và Bộ TN&MT hướng dẫn về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp, TP Hà Nội đã giao cho Sở TN&MT chủ trì và quản lý hồ sơ; Sở NN&PTNT phối hợp thực hiện đúng theo hướng dẫn của Thông tư này. Tuy nhiên, sau khi Sở TN&MT làm hồ sơ giao đất cho các đơn vị, cá nhân xong hiện vẫn chưa chuyển hồ sơ đó cho Sở NN&PTNT để hoàn thiện thủ tục giao rừng cho các đơn vị, cá nhân.
Tập trung gỡ khó
Theo đại diện Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, mặc dù UBND TP đã phân công nhiệm vụ giao đất cho Sở TN&MT và giao rừng cho Sở NN&PTNT. Tuy nhiên, việc đánh giá giá trị rừng (rừng giàu – rừng nghèo; rừng trồng – rừng tự nhiên…) lại thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Sở Tài chính nên việc giao đất, giao rừng cũng không thể thực hiện trong một sớm một chiều. Do đó, 3 cơ quan (Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, Sở Tài chính) cần phối hợp chặt chẽ với nhau thì mới thực hiện được Đề án này.
Để Đề án giao đất, giao rừng của TP đảm bảo đúng với lộ trình của Bộ NN&PTNT (Hà Nội là địa phương thuộc giai đoạn 2015 – 2017), ông Chu Phú Mỹ – Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội cho rằng, cùng với công tác phân loại rừng, phải đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ và Nhân dân hiểu được mục đích, ý nghĩa của chính sách giao đất, giao rừng.
Tại buổi làm việc với Sở NN&PTNT về vấn đề quản lý rừng và đất lâm nghiệp mới đây, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt yêu cầu Sở NN&PTNT phối hợp với Sở TN&MT khẩn trương rà soát, kiểm kê, thẩm định diện tích rừng, đất lâm nghiệp hiện có; xây dựng bản đồ chi tiết; xây dựng Đề án giao đất, giao rừng, phấn đấu hoàn thành Đề án trong năm 2015. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả quản lý rừng và đất lâm nghiệp, Phó Chủ tịch cũng yêu cầu Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cần xây dựng kế hoạch quản lý, phát triển và bảo vệ rừng trong 5 năm (có phân kỳ và dự toán kinh phí).

baomoi.com