Hội thảo “Tham vấn cộng đồng thu thập thông tin phục vụ cho tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp định VPA/FLEGT”

Được sự hỗ trợ tài chính của Liên minh Châu Âu (EU) và Tổ chức ICCO (Hà Lan) và với sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM), Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung phối hợp với UBND xã Hương Giang và UBND huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức Hội thảo “Tham vấn cộng đồng thu thập thông tin phục vụ cho tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp định VPA/FLEGT” vào ngày 17/9/2014. Hoạt động này nằm trong chuỗi các hoạt động Hội thảo Tham vấn cộng đồng nhằm thu thập thông tin từ nhóm cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tại 04 tỉnh bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam.
Mục tiêu của Hội thảo tham vấn nhằm (i) Cung cấp thông tin liên quan đến tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp VPA/FLEGT và những lợi ích khi tham gia vào Hiệp định VPA/FLEGT, (ii) Tạo ra tiếng nói chung giữa chính quyền địa phương, cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào rừng và các cơ sở chế biến gỗ để ghi nhận và tìm hướng giải quyết những khó khăn vướng mắc trong việc làm hồ sơ, thủ tục chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp (LD). Ngoài ra những thông tin thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ (TLAS).
Hội thảo tham vấn có sự tham gia của hơn 30 đại biểu đến từ nhóm hộ trồng rừng, nhóm hộ quản lý bảo vệ rừng, các cơ sở chế biến gỗ và các cơ quan liên quan trên địa bàn xã Hương Giang.
Phát biểu khai mạc tại Hội thảo tham vấn, Ông Nguyễn Minh Luận – Phó Chủ tịch UBND xã Hương Giang đã cung cấp một số vấn đề cơ bản khi tham gia vào tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp định VPA/FLEGT cụ thể: Chương trình hành động FLEGT hoàn toàn mới đối với cán bộ và người dân địa phương, nhiều thủ tục giấy tờ phức tạp về xác định nguồn gốc gỗ hợp pháp, đời sống của người dân sống phụ thuộc vào rừng còn gặp nhiều khó khăn, cơ chế hưởng lợi từ rừng chưa được nhà nước quan tâm, các cơ sở chế biến gỗ còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ rừng tự nhiên mà vẫn chưa chú ý đến nguyên liệu từ gỗ rừng trồng.

Ông Nguyễn Minh Luận – PCT UBND xã Hương Giang phát biểu khai mạc hội thảo tham vấn-FLEGT
Ông Nguyễn Minh Luận – PCT UBND xã Hương Giang phát biểu khai mạc hội thảo tham vấn-FLEGT

Thông qua Hội thảo tham vấn, Ông Trần Nam Thắng – Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM)  và Ông Ngô Tùng Đức (Giảng viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế) đã giới thiệu về tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp định VPA/FLEGT giữa Liên Minh Châu Âu (EU) và Chính phủ Việt Nam – Những lợi ích, khó khăn và thách thức khi tham gia vào tiến trình này và Nguyên tắc I và IV trong Dự thảo 6.3 về quy định khai thác gỗ trong nước và quy định chế biến gỗ.

Cũng thông qua Hội thảo, có rất nhiều thông tin được ghi nhận theo chiều hướng tích cực cho tiến trìnhVPA/FLEGT như: hơn 95% người dân có sổ đỏ, 100% các cơ sở chế biến gỗ có giấy phép kinh doanh. Chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho người dân làm các thủ tục khi có nhu cầu khai thác gỗ. Tuy nhiên, các hộ trồng rừng thường bán gỗ cho các tư thương và giao việc làm hồ sơ thủ tục cho các tư thương nên người dân đã không lưu giữ hồ sơ khi bán gỗ và sản phẩm gỗ. Đây là một trong những vấn đề vướng mắc khi làm hồ sơ, thủ tục chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp sau này.

Nhóm cộng đồng trồng rừng chia sẽ những khó khăn, trong việc chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp TLAS-FLEGT
Nhóm cộng đồng trồng rừng chia sẽ những khó khăn, trong việc chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp TLAS-FLEGT

Bên cạnh đó, cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào rừng, chính quyền địa phương cũng đã đưa ra những khó khăn, vướng mắc chẳng hạn như người dân phát triển rừng trồng một cách tự phát, không có quy hoạch cụ thể. Việc khai thác rừng trồng khó khăn do không có đường vận chuyển nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra; người dân thường bị tư thương ép giá; là khu vực thường xảy ra bão, lũ lụt nên người dân trồng rừng thường phải bán gỗ giá thấp sau khi thiên tai đi qua.
Nhóm cơ sở chế biến gỗ đại đa số là các cơ sở có quy mô nhỏ nên chưa thực hiện tốt các nguyên tắc về bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ, an toàn lao động hay bảo hiểm cho người lao động.
Sau những thông tin thu thập được từ cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào rừng, cơ sở chế biến gỗ, và chính quyền địa phương xã Hương Giang, nhóm Tư vấn và Dự án đã tiến hành báo cáo kết quả và kiểm tra xác nhận thông tin thông qua cuộc tham vấn với UBND huyện Nam Đông.

Căn cứ vào những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự hội thảo tham vấn, Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung có trách nhiệm tổng hợp và hoàn chỉnh các ý kiến nhằm đóng góp vào nội dung Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ (TLAS) trong tiến trình đàm phán và thực thi Hiệp đinh VPA/FLEGT dự kiến được ký kết và thực hiện từ tháng 10/2014./.

Đoàn Quốc Tuấn/Dự án FLEGT

Advertisements

Cân nhắc kỹ khi chuyển rừng khộp sang trồng cao su

QĐND – Trong giai đoạn 2009-2011, khi giá mủ cao su đạt mức cao kỷ lục (110-120 triệu đồng/tấn mủ quy khô), trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc đã xảy ra tình trạng phát triển cao su ồ ạt, vượt quy hoạch, thậm chí trồng cao su cả trên diện tích đất chuyển đổi từ rừng khộp. Theo thống kê của ngành nông nghiệp, đến nay toàn tỉnh Đắc Lắc đã trồng hơn 4.440ha cao su trên đất rừng khộp. Trong đó, huyện Ea Súp trồng 3.526ha, vượt 280%; huyện Buôn Đôn trồng 920ha, vượt gần 100% so với quy hoạch phát triển cao su giai đoạn 2009-2015. Diện tích cao su trồng trên đất chuyển đổi từ rừng khộp vượt quy hoạch chủ yếu là cao su tiểu điền do các hộ nông dân trồng tự phát. Hậu quả, sau 5-7 năm kiến thiết cơ bản, cây cao su trồng trên đất chuyển đổi từ rừng khộp phát triển chậm, còi cọc, không cho mủ, hoặc cho mủ với năng suất và chất lượng thấp, khiến cả doanh nghiệp lẫn người nông dân lâm vào cảnh nợ nần và bế tắc. Hơn 4.440ha cao su đã trồng đang đứng trước tình trạng sản xuất thua lỗ, phải chuyển đổi, nhất là từ năm 2013 đến nay, khi giá mủ cao su trên thị trường đang ở mức thấp hơn giá thành sản xuất. Hiện nay, hầu hết diện tích cao su trồng trên đất rừng khộp ở tỉnh Đắc Lắc đều lâm vào cảnh tiêu điều. Nông dân bỏ bê vườn cao su, không chăm sóc, không cạo mủ. Nhiều hộ đã và đang phải chặt bỏ vườn cao su, chuyển đổi sang trồng cây nông sản ngắn ngày.

Được biết, trước khi chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su ở Đắc Lắc, đã có nhiều cuộc hội thảo nhằm bàn luận về hiệu quả kinh tế. Tại các hội thảo này, nhiều nhà khoa học đã đưa ra những luận cứ cho rằng, không nên trồng cao su trên đất rừng khộp. Bởi điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nơi phân bố rừng khộp khá khắc nghiệt, tầng đất mỏng; dễ ngập úng trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển, sinh trưởng của cây cao su. Hơn nữa, cây cao su trồng trên tầng đất canh tác mỏng, chủ yếu lại là đất pha cát, sỏi, nên dễ đổ ngã.

Trong định hướng phát triển hơn 26.000ha cao su giai đoạn 2009-2020, Đắc Lắc quy hoạch trồng 7.886ha cao su trên đất chuyển đổi từ rừng khộp. Thiết nghĩ, từ thực trạng trên, chúng tôi cho rằng UBND tỉnh Đắc Lắc cần sớm xem xét lại, loại bỏ quy hoạch trồng cao su trên đất chuyển đổi từ rừng khộp, bởi không những không có hiệu quả kinh tế mà còn gây nhiều hệ lụy về môi trường sinh thái, mất rừng tự nhiên. Mặt khác, với hơn 4.440ha cao su đã trồng mà không đạt hiệu quả kinh tế, cần hỗ trợ để doanh nghiệp và nông dân chuyển đổi sang cây trồng phù hợp.

BÌNH ĐỊNH/qdnd.vn

Rừng và đất rừng ở Đắk Lắk vẫn bị chặt phá, lấn chiếm trái phép

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Sỹ Huynh/TTXVN)
Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Sỹ Huynh/TTXVN)

Ông Hoàng Trọng Hải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho biết tỉnh đã tăng cường nhân lực cho lực lượng kiểm lâm, tăng thêm các trạm kiểm soát tại các địa bàn trọng điểm, nhưng tình trạng rừng, đất rừng vẫn bị chặt phá, lấn chiếm trái phép ngày càng gia tăng.
Chỉ riêng từ đầu năm đến nay, tỉnh đã phát hiện, xử lý trên 147 vụ vi phạm lâm luật. Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng từ năm 2009 đến nay tăng lên trên 13.300 vụ, lực lượng chức năng đã tịch thu gần 19.500m3 gỗ các loại. Trong đó, chỉ có 137 vụ khởi tố hình sự, với 78 đối tượng, số vụ còn lại là xử lý hành chính.
Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 trở lại đây là trên 26.500ha, trong khi đó các ngành chức năng của tỉnh mới thu hồi được gần 2.000ha để trồng lại rừng.
Các địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh như Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; thành lập các đoàn kiểm tra thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, nhất là tăng cường kiểm tra tại các điểm nóng ở Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea H’Leo.
Tuy nhiên, theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tình hình khai thác, chế biến, vận chuyển gỗ trái phép vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi trong tỉnh. Thậm chí, trên địa bàn vẫn còn tồn tại một số “điểm nóng” và các đối tượng khai thác gỗ trái phép, nhất là gỗ quý hiếm trong các vườn quốc gia, vùng biên giới, các đường dây khai thác, vận chuyển lâm sản tại các địa bàn thuộc các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’Leo, Krông Bông, Ma Đ’rắk.
Việc điều tra, thống kê phân loại các đối tượng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ, sang nhượng đất rừng trái phép đã được thực hiện nhưng chưa xử lý, giải quyết triệt để.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các chủ rừng quản lý rừng, đất lâm nghiệp còn lỏng lẻo, sử dụng đất đai kém hiệu quả, lãng phí. Nhiều chủ rừng thiếu sự phối hợp tổ chức bảo vệ rừng, không kiểm tra, kiểm soát hết lâm phần quản lý, thiếu sự phối hợp và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng hữu hiệu. Thậm chí, một số nơi còn bao che, “làm ngơ” cho lâm tặc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng.

Các xã, huyện chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm, chưa quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Ở những “điểm nóng” về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, chính quyền địa phương thiếu kiên quyết xử lý, một bộ phận cán bộ kiểm lâm có những biểu hiện tiêu cực, chưa nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Thời gian tới, ngoài việc tiếp tục thực hiện hiệu quả các Chỉ thị số 12, 08, Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, tỉnh Đắk Lắk còn tiếp tục thống kê, rà soát lại diện tích rừng bị phá, bị lấn chiếm và triển khai lập kế hoạch phá bỏ hoa màu, lán trại, trồng lại rừng đối với diện tích rừng bị phá, lấn chiếm, kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng xâm hại trái phép tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật.
Tỉnh cũng mở các đợt kiểm tra, truy quét lâm tặc, những tụ điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, chế biến, mua bán, sử dụng, vận chuyển trái phép lâm sản, săn bắt, tàng trữ, sử dụng động vật hoang dã.
Tỉnh cũng tiếp tục điều tra, thống kê, lập danh sách các đối tượng khai thác lâm sản trái phép để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý, tuyên truyền vận động ký cam kết chuyển đổi ngành nghề, không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng./.

Quang Huy/TTXVN

Vụ “Phát canh – thu tô tại U Minh Hạ”: Tùy tiện cắt xén chương trình “5 triệu hécta rừng”

 Tại dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau, thay vì người nhận đất rừng, trồng, chăm sóc được thụ hưởng từ chương trình, nhưng những cán bộ ở đây đã thực hiện không đúng quy định, dẫn đến người được hỗ trợ nhiều, kẻ ít. Đáng quan tâm, dù diện tích rừng Cà Mau lớn, nhưng qua kiểm tra, sau nhiều năm thực hiện diện tích rừng trồng theo chương trình khá khiêm tốn.
Trồng ít, thanh toán nhiều
Dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng, được Quốc hội phê chuẩn bằng Nghị quyết 08/1997/QH10 ngày 5.12.1997 và được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29.7.1998 (Dự án 661). Quá trình thanh tra ở giai đoạn 2008-2010, Thanh tra Nhà nước tỉnh Cà Mau phát hiện hàng loạt sai phạm. Trong 3 năm thực hiện, Cty TNHH MTV U Minh Hạ thực hiện trồng rừng chỉ đạt 68,6% so với phương án được duyệt. Cá biệt, năm 2009 chỉ đạt 45%. Có đến 120 hộ không trồng 123ha rừng nhưng vẫn được Cty thanh, quyết toán các loại chi phí của dự án.

4-trong-rung_TRHF
Xén bớt đất giao khoán của dân để giao khoán cho cán bộ, tổ chức, cá nhân. – Ảnh: Nhật Hồ

Dù không đạt kế hoạch trồng rừng như phương án phê duyệt, nhưng Cty hỗ trợ chi phí khảo sát, thiết kế trồng rừng năm 2008, 2009 vượt định mức đầu tư số tiền lên đến 90.129.500 đồng; hỗ trợ sai nội dung đầu tư trên 12 triệu đồng; chi phí không phát sinh thực tế trên 25 triệu đồng…
Đáng buồn là những người dân nhận đất, nhận trồng rừng lại bị Cty cắt xén, không hỗ trợ theo đúng Dự án 661 cho người dân. Cụ thể năm 2008, 2009 gần 260 hộ dân tại các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn như: Khánh Lâm, Khánh Thuận, Khánh Bình Tây Bắc đã bị những người thừa hành công vụ cắt xén bớt số tiền lý ra họ được hỗ trợ gần 80 triệu đồng. Các hộ Trương Văn Ảnh, Trần Văn Cường trồng rừng vào năm 2009 không nhận hỗ trợ cây giống, nhưng trong quyết toán lại có. Các ông Nguyễn Văn Ngon, Tăng Văn Báo, Nguyễn Văn Thọ nai lưng trồng rừng nhưng không được hỗ trợ công trồng rừng, dù danh sách quyết toán có tên các ông…
Vườn quốc gia cũng giao khoán cho cán bộ, cấp trên
Theo Thanh tra Nhà nước tỉnh, Vườn Quốc gia U Minh Hạ (VQG) giao khoán 863ha đất rừng thuộc vùng đệm cho cán bộ và các hộ dân, trong đó giao khoán cho các hộ dân 787ha, giao khoán cho cán bộ 75ha. Điều đáng nói là một số không có nhu cầu vẫn được giao khoán, để rồi có đến 32 hộ chuyển nhượng cho các hộ khác, trong đó không ít cán bộ nhận khoán xong là bán ngay để nhận khoán tiếp.
Điển hình như ông Nguyễn Việt Phước – nguyên Giám đốc VQG – năm 1996 được giao khoán một phần đất ở Tiểu khu V, sau đó chuyển nhượng. Đến năm 2006 tiếp tục nhận khoán lần thứ hai diện tích 2ha, tự sản xuất đến năm 2010 rồi cho người khác thuê.
Ông Tạ Vũ Linh, năm 2004 nhận khoán 2,7ha tại khu Minh Hà, đến năm 2006 đổi qua Tiểu khu V diện tích 3ha để cho thuê, đến năm 2009 mới trực tiếp sản xuất. Ông Hồ Văn Ràng, nhận khoán tại Tiểu khu V vào năm 1996, sản xuất một thời gian rồi trả lại VQG, sau đó nhận 2,85ha, đến năm 2009 ông đem đất này đi cầm cố. Ông Đoàn Văn Đồng, năm 1996 được giao khoán một phần đất tại Tiểu khu IV sản xuất, sau đó chuyển nhượng cho người khác rồi nhận khoán 2,7ha sản xuất…
Đối với lô đất kinh doanh của VQG, BGĐ giao khoán một cách tùy tiện cho cán bộ và cấp trên. Năm 2000 giao khoán cho một cán bộ VQG và 3 cán bộ Chi cục Kiểm lâm Cà Mau với diện tích trên 18ha. Năm 2004 giao khoán cho 3 hộ diện tích 9ha để các hộ này cho thuê lại. Năm 2005 giao khoán cho 8 hộ là cán bộ VQG với diện tích 16ha, có 3 hộ cho thuê lại…

Nhật Hồ/laodong.com

Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng 2004(BV&PTR 2004): Công bằng và bình đẳng giới trong công tác thực thi.

Luật BV&PTR được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, khóa XI ngày 3/12/2004. Đến nay, Luật đã được triển khai và vận dụng vào thực tiễn trong vòng 10 năm và cũng đã tạo ra khung pháp lý và cơ sở để các cơ quan chức năng triển khai trong hoạt động giao đất giao rừng. Tuy nhiên trong quá trình vận dụng vào thực tế, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với thực tiễn và đặc biệt là chưa chú trọng tiếng nói của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ vùng dân tộc thiêu số, phụ nữ đơn thân.. đây là nhómngười khó có khả năng đưa ra ý kiến và đóng góp vào quá trình ra quyết định liên quan đến tài nguyên đất và rừng. Thực tiễn đã cho thấy rằng, vai trò của người phụ nữ dường như đã vô tình bị làm cho mờ nhạt trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng trong khi họ là nhân tố chính tác động và chịu tác động của hoạt động quản lý và bảo vệ rừng.
Với mục tiêu xây dựng các kiến nghị đệ trình lên ban soạn thảo Luật về việc lồng ghép giới trong quá trình thưc thi Luật BV&PTR 2004, Liên minh Đất rừng( FORLAND) đã triển khai hoạt động nghiên cứu thực địa về quá trình thực thi luật. Mục tiêu của hoạt động này nhằm: (1) Cung cấp thông tin hay bằng chứng cho các quyết định để các chính sách và chương trình liên quan tới giao đất, giao rừng (GĐGR), BV&PTR đạt mục tiêu mong đợi cho cả nam và nữ; (2) Cung cấp các thông tin chi tiết về người chịu tác động, người hưởng lợi hay khách hàng để việc xây dựng và thực hiện các chương trình GĐGR, BV&PTR thực hiện hiệu quả, có hiệu suất cao hơn. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Dự án “Lồng ghép giới trong thực thi Luật BV&PTR 2004 và các văn bản dưới luật liên quan” được tài trợ bởi Chương trình hỗ trợ liên minh vận động chính sách- Tổ chức Oxfam Anh do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển xã hội (CSRD) và Quỹ Phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (RDPR) phối hợp triển khai.
Theo chân đoàn nghiên cứu, chúng tôi đã có cơ hội tìm đến với huyện Krong Bông, tỉnh Đak Lak để hiểu rõ hơn về công tác thực thi Luật BV&PTR 2004 và các văn bản dưới luật tại địa phương.
Tại buổi làm việc với đoàn nghiên cứu, Ông Nguyễn Quốc Hưng – Chi cục trưởng Chi Cục kiểm lâm tỉnh Đak Lak chia sẻ: “Tỉnh Đak Lak là một trong những tỉnh đi đầu về công tác giao đất giao, chúng tôi chú trọng đến công tác GĐGR từ 1993 theo Quyết định 178 của thủ tướng chính phủ và sau đó tiến hành giao theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm giao đất giao rừng cho đồng bào dân tộc tại chỗ nghèo ở Tây Nguyên được kỳ vọng sẽ mang lại bước đột phá trong công tác giao đất giao rừng (GĐGR); tăng cường công tác quản lý  bảo vệ rừng, thúc đẩy kinh tế rừng phát triển góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai thì công tác bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn gặp nhiều vướng mắc trong cơ chế: chủ thể rừng cộng đồng vẫn chưa được công nhận trong luật dân sự nên thực tế là hiện nay các diện tích giao cộng đồng vẫn chưa thể có sổ đỏ và trong trường hợp có tranh chấp xảy ra thì các cấp chức năng vẫn chưa thể có hướng giải quyết cụ thể, điều này cho thấy tính thiếu đồng bộ giữa các luật hiện nay của nhà nước ta.”
Để nhấn mạnh thêm cho những khó khăn trong quá trình giao đất giao rừng ông Nguyễn Đức Việt – Chi cục kiểm lâmcho biết thêm “hầu hết các rừng giao cho cộng đồng hay nhóm hộ là rừng nghèo và công tác hỗ trợ hậu GĐGR thì chưa được nhà nước chú trọng nên phần nào người dân cũng không mặn mà với công tác bảo vệ và sự hưởng lợi “ trước mắt” của người dân là không có nên họ tiến hành chặt phá rừng để tạo đất sản xuất hay thậm chí là bán lại cho các hộ từ nơi khác đến.”
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đak Lak thì tính đến 1/1/2014 thì đã có 10.000ha đã bị chặt phá trên tổng số 36.000ha được giao cho cộng đồng. Về cơ bản, tác dụng của Quyết định 178 và 304 đối với công tác GĐGR tại địa phương là không nhiều. Từ năm 2005 khi triển khai GĐGR theo QĐ 304, do có chế hưởng lợi cho người dân như gạo, nhà ở…nên người dân tham gia rất nhiều, tuy nhiên đến 2006 do gặp vướng về cơ chế tài chính nên không thể giải ngân cho người dân được giao đất, tiến trình giải ngân kinh phí cho người dân là rất chậm chậm chỉ đạt 6,26% kinh phí trung ương giao và đạt 13,14% kinh phí tỉnh giao.
Liên quan đến việc lồng ghép giới trong quá trình thực thi luật BV&PTR thì vẫn chưa được chú trọng nhiều. Người phụ nữ có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với xã hội, tuy nhiên khả năng ra quyết định về tài nguyên đất và rừng thì chưa thể hiện một cách rõ nét.
Người phụ nữ có nhiều cơ hội trong tiếp cận xã hội
Chị HTen Ksor – Chủ tịch Hội phụ nữ xã Yang Mao chia sẻ “Vai trò của người phụ nữ trong xã ngày được chú trọng hơn, họ tham gia nhiều hoạt động cộng đồng tự giúp đỡ nhau như “hủ gạo tình thường”, “nhóm tiết kiệm”…Trên địa bàn xã hiện nay, 90% lực lượng phụ nữ tham gia các hoạt động tạo thu nhập từ rừng, tuy nhiên trong mọi hoạt động liên quan đến GDGR thì phụ nữ thường không quan tâm và họ tự tách mình ra khỏi quá trình ra quyết định đối với các quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến rừng”. Thông qua chia sẻ của chị HTen có thể thấy rằng, người phụ nữ là đối tượng tác động khá nhiều đến rừng nhưng vai trò và tiếng nói của họ thì không được chú trọng trong quá trình giao đất giao rừng. Mọi quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất rừng được gắn với người đàn ông trong gia đình. Chỉ đối với những gia đình góa chồng thì người phụ nữ trở thành chủ hộ tuy nhiên họ cũng không tham gia vào hoạt động quản lý và bảo vệ rừng.
Chị Hten cũng chia sẻ thêm “Người phụ nữ có cơ hội tham gia vào các cuộc họp phổ biến về chính sách hay các luật liên quan đến rừng hay hoạt động quản lý bảo vệ rừng, tuy nhiên họ lại không có quyền quyết định hay quyền đưa ra tiếng nói hay quyết định đối với loại tài sản này”. Người phụ nữ chỉ là “cái bóng” của người đàn ông khi được tham gia họp, riêng các hoạt động liên quan đến quyền lợi cụ thể là thù lao cho hoạt động bảo vệ rừng thì người đàn ông sẽ tham gia. Chị em phụ nữ trong xã biết cách đoàn kết đội nhóm để hỗ trợ nhau cùng phát triển kinh tế, họ xây dựng các phong trào tự giúp: tổ chức các nhóm phụ nữ thành lập quỹ tiết kiệm, phát triển phong trào hủ gạo tình thương…Vài trò cộng đồng của người phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao và giúp họ tự tin hơn trong giao tiếp.
“Kém” bình đẳng trong kiểm soát và ra quyết định đối với tài sản
Theo ông Trương Văn Thùy- Trưởng Phòng LĐ TBXH huyện Krong Bông thì hiện nay trên địa bàn huyện là 97.000 nhân khẩu với 25 dân tộc nhưng trong đó chủ yếu vẫn là dân tộc Eđê và M Nông. Chế độ mẫu hệ là truyền thống lâu đời của dân tộc bản đia trên địa bàn huyện, người phụ nữ là người làm chủ và có quyền. Lúc mới tạo lập gia đình tài sản ban đầu chủ yếu là của người phụ nữ và gia đình vợ nhưng theo luật và văn bản dưới luật thì người đàn ông lại đứng tên chủ sở hữu của các tài sản đó và người phụ nữ chỉ là người thừa kế, điều này về một khía cạnh nào đó có thể tạo ra sự mất công bằng cho  người  nữ trong việc sở hữu các tài sản bao gồm cả đất rừng. Từ đây cho thấy Luật cần có sự điều chỉnh để đảm bảo quyền của người phụ nữ  khi các dân tộc tuân theo các chế độ khác nhau như phụ hệ và  mẫu hệ.
Gắn với tài nguyên đất rừng, các hộ và cộng đồng trên địa bàn xã thực hiện hai hoạt động dưới hình thức: giao khoán bảo vệ rừng của vườn quốc gia Chư Yang Sing và hợp đồng với Công ty Lâm Nghiệp gắn liền với diện tích rừng của hộ hay nhóm hộ. Hầu hết các lợi ích từ các hoạt động gắn liền với rừng thì người phụ nữ không hề hay biết, ngay như số tiền nhận khoán bảo vệ rừng từ vườn quốc gia hay diện tích của hộ nhận khoán bảo vệ là bao nhiêu thì chỉ có đàn ông mới biết được,  trong khi các hoạt động bảo vệ này thì người phụ nữ cũng có tham gia. Thực tế trên này được thay đổi để người phụ nữ có quyền được hiện diện trong quá trình ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng cũng như hợp đồng thuê diện tích với Công ty  Lâm nghiệp, để họ cũngđược xem như là một bên cùng ký kết hợp đồng hay biên bản có liên quan đến đất rừng.
Từ những phân tích trên cho thấy rằng khoản cách giữa việc tạo ra công bằng và bình đẳng cho người phụ nữ trong quá trình thực thi Luật BV&PTR và các văn bản dưới luật là một nhiệm vụ khó khăn và thách thức. Vấn đề là phải thay đổi từ ngay việc hướng dẫn quá trình thực thi luật cần chú trọng lồng ghép yếu tố giới để đảm bảo sự bình đằng mối quan hệ giữa nam nữ trong kiểm soát và quyết định các nguồn lực nói chung và đất rừng nói riêng.

FORLAND