Monthly Archives: Tháng Mười 2014

Hàng ngàn ha rừng ở Đắk Nông bị xóa sổ: Trách nhiệm không riêng chủ rừng

Từ 2004 đến 2011, UBND tỉnh Đắk Nông đã giao hàng chục ngàn héc ta đất rừng cho 39 doanh nghiệp tư nhân để trồng cao su, trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình giao rừng, cơ quan chức năng không thực hiện việc thẩm định nên đã giao rừng cho các doanh nghiệp yếu năng lực, sau khi giao buông lỏng quản lý nên đã có hàng ngàn héc ta rừng bị tàn phá…

Đó là kết luận về việc quản lý sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng và một số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2004-2011 vừa được Thanh tra Chính phủ công bố ngày 15/10. Từ kết luận này cho thấy, việc hàng ngàn héc ta rừng ở Đắk Nông bị xóa sổ có trách nhiệm của Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc các sở TNMT, NN-PTNT…

Năm 2008, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho Công ty Kiến Trúc Mới (trụ sở tại TP Hồ Chí Minh) do bà Nguyễn Thị Hồng Hà làm Giám đốc thuê 1.678ha đất rừng tại các tiểu khu 1534 và 1528 thuộc địa bàn xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức để thực hiện dự án trồng cao su, trồng rừng và bảo vệ rừng. Sau đó, Công ty Kiến Trúc Mới đã ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Vinh Hiển (có trụ sở tại tỉnh Bình Phước) do ông Hồ Hữu Hiển làm Giám đốc để thực hiện việc khai hoang đất rừng mặc dù chưa có giấy phép, hồ sơ thiết kế khai hoang và chưa được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Sau khi ký hợp đồng, Công ty TNHH MTV Vinh Hiển đã thuê người cho xe ủi, máy cưa tiến hành việc khai hoang, đốn hạ trái phép 70ha rừng theo sự chỉ dẫn của ông Chu Văn Lam, Phó Ban quản lý dự án Công ty Kiến Trúc Mới. Điều đáng nói, trong tổng số 70ha rừng bị đốn hạ có tới 38ha thuộc diện tích rừng phải khoanh nuôi bảo vệ, cấm khai thác, gây thiệt hại gần 9 tỷ đồng.

Ngày 15/10, TAND tỉnh Đắk Nông đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ hủy hoại rừng nói trên. Tại phiên tòa, Hồ Hữu Hiển một mực kêu oan vì cho rằng mình chỉ làm theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công ty Kiến Trúc Mới nhưng cơ quan chức năng không xử lý trách nhiệm đối với lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ, HĐXX tuyên phạt Hồ Hữu Hiển 7 năm tù, Chu Văn Lam 4 năm tù về tội hủy hoại rừng. Ngoài ra, tòa cũng buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền thiệt hại gần 9 tỷ đồng.

Trao đổi với ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, ông Duyên thừa nhận: “Mục đích của nhiều DN là lấy đất trồng cao su chứ không phải bảo vệ rừng. Một số DN không có năng lực tài chính nên chưa xong thủ tục đã bán lại kiếm lời. Đây là hạn chế lớn, làm giảm hiệu quả kêu gọi đầu tư, làm mất rừng, mất đất với diện tích lớn”.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, từ năm 2004 đến nay, có hơn 27.000ha đất rừng bị lấn chiếm, chặt phá. Tuy nhiên, lực lượng chức năng mới chỉ xử lý được khoảng 12,7% tổng diện tích đất rừng bị phá. Bên cạnh đó, các hành vi như khai thác, vận chuyển, tiêu thụ gỗ trái phép trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp.

Cơ quan Công an khám nghiệm hiện trường một vụ doanh nghiệp phá rừng - Ảnh Văn Thành

Cơ quan Công an khám nghiệm hiện trường một vụ doanh nghiệp phá rừng – Ảnh Văn Thành

Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thủy điện băm nát rừng

Theo Thanh tra Chính phủ, hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông quy hoạch 75 dự án thủy điện. Một lượng lớn đất rừng đã được huy động cho các dự án thủy điện làm thay đổi môi trường sống, cạn kiệt nguồn gen. Trong khi đó, tiến độ thực hiện các dự án chậm, nhiều dự án tạm dừng ảnh hưởng đến tình hình ổn định, phát triển kinh tế xã hội. Khi triển khai dự án, một lượng lớn gỗ và tài nguyên rừng bị thất thoát, hao hụt. Hầu hết các dự án ít quan tâm đến ổn định cuộc sống cho người dân gây khiếu nại, tố cáo kéo dài.

Văn Thành/cand.com.vn

Cuộc chiến bảo vệ rừng ngày càng khốc liệt

Chiều 22.10, Phó cục trưởng phụ trách Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) Đỗ Trọng Kim đã trả lời Báo Thanh Niên xung quanh công tác bảo vệ rừng.

Hàng trăm phách gỗ kiền kiền được phát hiện trong rừng giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng vào ngày 11.10 - Ảnh: C.T.V

Hàng trăm phách gỗ kiền kiền được phát hiện trong rừng giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng vào ngày 11.10 – Ảnh: C.T.V

Ông Kim cho biết từ năm 2009 đến nay, trên cả nước, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 33.938 vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, gây thiệt hại trên 8.000 ha rừng. Bình quân mỗi năm mất 1.575 ha rừng. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá đều giảm qua từng năm nhưng ở một số nơi vẫn diễn ra khá nghiêm trọng.

Thưa ông, rừng bị tàn phá có phải là do lực lượng kiểm lâm còn mỏng lại chưa được trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ trong khi thực thi công vụ? Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc để xảy ra các vụ chặt phá rừng trên địa bàn như thế nào?

Hiện nay, biên chế lực lượng kiểm lâm còn thiếu so với quy định, nhất là đội ngũ kiểm lâm phụ trách địa bàn và đội ngũ kiểm lâm làm công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Cả nước vẫn còn 562 xã có rừng chưa có kiểm lâm phụ trách địa bàn nên nhiều khi không thể kiểm soát hết tình hình. Lực lượng kiểm lâm được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ trong thi hành công vụ nhưng thiếu hướng dẫn các trường hợp được sử dụng, nhất là trong các trường hợp nổ súng, dẫn đến đối tượng vi phạm coi thường và manh động chống người thi hành công vụ. Nhiều trường hợp công chức kiểm lâm sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để đấu tranh bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản nhà nước và sự an toàn tính mạng bản thân nhưng chưa có cơ chế đảm bảo quyền hợp pháp. Trong khi đó, lâm tặc rất manh động chống đối, lăng mạ, tập trung đông người hành hung lực lượng thực thi công vụ, cướp lại tài sản, đốt phá tài sản nhà nước, tang vật vi phạm, khống chế lực lượng kiểm lâm. Chỉ tính từ đầu năm 2014 tới nay, trên cả nước xảy ra 38 vụ lâm tặc tấn công kiểm lâm, làm 1 người chết và 34 người khác bị thương.

Thực tế, nhiều chủ rừng (chủ yếu là các công ty lâm nghiệp) thiếu tinh thần trách nhiệm, thậm chí làm ngơ khi để xảy ra tình trạng rừng bị phá trong khi vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là cấp cơ sở, chưa thể hiện được vai trò quản lý nhà nước trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương.

Nhưng thưa ông, tại một số địa phương đã xuất hiện tình trạng một số kiểm lâm biến chất, câu kết với lâm tặc phá rừng đang khiến dư luận đặc biệt quan ngại?

Đúng là một bộ phận công chức kiểm lâm thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức phấn đấu kém, ngại khó, ngại khổ không nhiệt tình với công việc, không kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, đã bị lôi kéo, mua chuộc. Chúng tôi rất đau lòng về những vụ việc như thế này.

Tuy nhiên, đây không phải là hiện tượng phổ biến. Để bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm phải đánh đổi không chỉ công sức, trí tuệ, mồ hôi mà phải trả giá cả bằng xương máu. Nhiều năm qua đã có biết bao tấm gương hy sinh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ kiểm lâm để bảo vệ rừng.

Chúng ta cần làm gì để tăng cường sức mạnh của lực lượng kiểm lâm, đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ rừng?

Cuộc chiến bảo vệ rừng ngày càng khốc liệt, đòi hỏi chúng tôi luôn phải nỗ lực làm tròn trọng trách được giao. Chúng tôi đang rất quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, xử lý nghiêm minh đối với những kiểm lâm vi phạm, kiên quyết loại bỏ những kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc hoặc trực tiếp tham gia phá rừng.

Chúng tôi đã tham mưu với Bộ NN-PTNT đề nghị tăng cường thêm 3.000 kiểm lâm, phấn đấu tiến tới 1 kiểm lâm chỉ phải quản lý 1.000 ha rừng và 100% các xã có rừng đều có kiểm lâm địa bàn; có những chính sách cho lực lượng kiểm lâm ở vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện cho anh em có cuộc sống ổn định, yên tâm công tác; tăng cường đầu tư trang thiết bị, đặc biệt là các công cụ hỗ trợ để kiểm lâm có đủ sức mạnh khi thực thi nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, chúng tôi đã và đang khuyến khích, động viên người dân địa phương tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng bằng việc ký cam kết, xây dựng hương ước về bảo vệ rừng; có cơ chế chính sách về chia sẻ lợi ích trong công tác quản lý bảo vệ rừng, gắn trách nhiệm và quyền lợi của người dân và cộng đồng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng như việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Xin cảm ơn ông!

Quang Duẩn/thanhnien.com.vn

Nghèo khó giữa rừng

Một ngôi làng cách biệt đầu nguồn suối Pa Ay-Ảnh Bình Nguyên

Một ngôi làng cách biệt đầu nguồn suối Pa Ay-Ảnh Bình Nguyên

Đơn độc giữa rừng
Hơn 5 năm về trước, từ một nguồn tin của cán bộ huyện A Lưới về một ngôi làng không tên gọi đơn độc giữa rừng, chúng tôi đã cất công lặn lội đi tìm ngôi làng. Sau chặng đường hơn 70 km từ Huế lên A Luới, thêm khoảng 35km đường Hồ Chí Minh nữa, chúng tôi gặp suối Pa Ay. Từ đây, có thể nhìn thấy ngôi làng không tên gọi với những căn nhà sàn xiêu vẹo tựa lưng vào dãy núi A Sàng mới được chính quyền xã Hồng Thuỷ, huyện A Lưới phát hiện và cho “nhập cư” vào địa giới hành chính của mình. Mùa đông ở Trường Sơn mưa rền rĩ và lạnh cắt da. Lối mòn hơn 10 km như sợi chỉ  dẫn vào làng vào làng vừa trơn nhẫy, vừa bị  bị nước xói thành vô số hố hục khiến hành trình của chúng tôi phải kéo dài thêm gần cả ngày đường. Thấy khách lạ, mấy đứa trẻ  phóng nhanh vào nhà báo tin cho người lớn. Ông Hồ Văn Pê 60 tuổi – một trong những người đầu tiên đến Pa Ay lập làng, cho biết trước đây gia đình sống ở bản Ađên, xã Bắc Sơn. Do cuộc sống khó khăn nên khoảng năm 1984 ông tìm đến vùng đất này phát rẫy rồi ở lại luôn. Sau ông Pê, dân các xã khác cũng lần lượt tìm đến làm rẫy, dựng nhà, hình thành ngôi làng bên suối Pa Ay. Do địa thế hiểm trở, heo hút nên sau gần 30 năm, các cấp chính quyền ở A Lưới mới biết có sự tồn tại của ngôi làng và lập hồ sơ đưa vào danh sách quản lý hành chính địa phương.
Ông Hồ Văn Tích, cán bộ lâm nghiệp xã Hồng Thủy lúc bấy giờ dẫn đường cho chúng tôi đi, nói rằng ngôi làng không có tên nhưng do đồng bào sống đầu suối Pa Ay nên khi được chính quyền phát hiện thì gọi luôn là làng Pa Ay. Dân làng sống tự cung tự cấp, không thuộc sự quản lý của ai và cũng không có trưởng làng. Mỗi khi có việc cần thì người dân vẫn giúp đỡ và chia sẻ cho nhau. Tại thời điểm ấy, làng Pa Ay có 68 hộ, với trên 200 nhân khẩu chủ yếu là người Pa Cô và người Cơ Tu  sống tách biệt với thế giới bên ngoài và đối diện với muôn vàn khó khăn rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng và chính quyền các cấp.
Trở về quá… quá khứ  
Trong hành trình khó nhọc tìm kiếm kế sinh nhai trên dãy Trường Sơn, nhiều hộ dân tộc Pa Cô, Cơ Tu… đã chọn vùng đất màu mỡ ở khu vực suối Pa Ay làm nơi dừng chân sinh sống. Tuy vậy, do tập tục canh tác lạc hậu nên sau mấy chục năm  sống tách biệt ở vùng đất sát biên giới Việt – Lào, dân các ngôi làng vẫn ở trong vòng lẩn quẩn của đói nghèo, lạc hậu…
Nhớ lại hơn 5 năm trước khi tìm đến ngôi làng Pa Ay, chúng tôi gặp anh Hồ Văn Du cứ vò đầu bứt tai vì không có thứ gì để đãi khách dưới xuôi. Thường thì khoảng 10 ngày đến nửa tháng, gia đình anh gùi ngô ra xã ABung (Quảng Trị) để bán, thế nhưng đã hơn một tháng rồi vợ con anh chưa có thứ gì để mang đi bán cả! Cuộc sống khó khăn, mưu sinh nhọc nhằn nên dân làng nhà nào cũng có từ 7 đến 10 người con. Gia đình chị Hồ Văn Thịnh và chị Kăn Nguôi là một ví dụ, chị Nguôi chưa đầy 30 tuổi nhưng đã có 7 đứa con sàn sàn bằng nhau, đứa lớn nhất chỉ mới 10 tuổi, đứa bé nhất một tuổi. Bố mẹ đi vắng, cả bảy đứa ngồi co ro bên đống lửa sàn nhà. Ngôi nhà sàn không có vách che trống toang hoác.
Ông Hồ Văn Pê nói rằng ở làng của ông “mần chi có chuyện đi học!”. 68 hộ dân với hơn 200 nhân khẩu ở ngôi làng đàu suối Pa Ay cứ thế sống biệt lập giữa rừng suốt một thời gian dài cho đến khi được chính quyền phát hiện, vận động đưa về sống trong khu TĐC. Khu TĐC có đầy đủ điều kiện sinh hoạt lại gần đường Hồ Chí Minh, thuận tiện cho việc buôn bán trao đổi nông sản nhưng ở đó chưa được bao lâu, các hộ dân Pa Ay lại lặng lẽ vượt rừng tìm về làng tềnh toàng heo hút vì thiếu đất sản xuất, chăn thả.
Từ con đèo Pe Ke trên tuyến đường Hồ Chí Minh trông xuống sẽ gặp khu TĐC Pa Ay. Làng Pa Ay mới (bao gồm cả khu TĐC) có trên 100 hộ dân với gần 500 nhân khẩu nhưng theo lời của ông Hồ Bá Bình, Chủ tịch UBND xã Hồng Thủy thì gần 60% hộ dân của làng nằm trong danh sách hộ nghèo. Khi rời những ngôi làng đơn độc về làng mới, các hộ dân chỉ được cấp 1.000 m2 đất/hộ, không đủ để sản xuất, chăn thả. Thiếu đất buộc các hộ dân cứ lần lượt rời làng mới tìm về làng cũ để canh tác rồi ở lại luôn. Tháng 10 là tháng mà Trường Sơn bắt đầu có những cơn mưa dằng dai mù mịt núi rừng. Lặn lội tìm về ngôi làng đầu con suối Pa Ay trong màn mưa bạc xám, chúng tôi gặp lại những khuôn mặt người dân đã từng gặp nhiều năm trước bên bếp lửa teo tóp giữa rừng sâu. Mưa dầm dề không vào rừng hay lên rẫy được, già trẻ lớn bé chỉ biết ngồi bó gối bên lửa, mơ về cuộc sống đủ đầy hơn nhưng mơ ước ấy lại thêm một lần xa ngái vì chính những người dân thiếu đất đã buộc phải ngược các lối mòn dựng đứng trở về với quá khứ nhọc nhằn tại các ngôi làng cách trở, hun hút giữa rừng sâu.

Bình Nguyên/daidoanket.vn

10 năm tỉnh nợ đất dân

Sau hơn 10 năm, 850 hộ dân xã Dương Hòa (thị xã Hương Thủy, tỉnh TT-Huế) với gần 4.000 nhân khẩu nhượng đất cho dự án hồ Tả Trạch để đến vùng đất khác tái định cư (TĐC), cuộc sống của họ phải lay lắt từng ngày do tỉnh này nợ cả nghìn ha đất lâm nghiệp của dân.

 Khổ nơi tái định cư

Từ năm 2003, khi lấy đất thực hiện dự án hồ Tả Trạch, 850 hộ dân xã Dương Hòa phải TĐC trên vùng đất mới.

Theo quy định giai đoạn đó, những hộ dân di dời đến nơi ở mới được tỉnh TT-Huế cấp tối thiểu 1 ha đất trồng hoa màu, riêng đất rừng thì thực hiện chủ trương “đất đổi đất”, người dân không được đền bù diện tích đất rừng. Thế nhưng, sau hơn 10 năm về TĐC, người dân dài cổ chờ đợi vẫn chưa được cấp đất theo chủ trương của tỉnh này.

Theo thống kê của Ban Kinh tế và ngân sách HĐND tỉnh TT-Huế, đến thời điểm hiện tại, tỉnh vẫn nợ hàng trăm người dân đã nhượng đất cho công trình hồ Tả Trạch tổng cộng 1.012ha đất sản xuất vì chủ trương “đất đổi đất” không được thực hiện.

Người dân bị ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch, được bố trí TĐC tới các vùng như Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành (xã Bình Thành, thị xã Hương Trà); Bến Ván, Phúc Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Sòng (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy). Ghi nhận ở những vùng TĐC này mới thấy hết những khó khăn của người dân.

Tại xã Bình Thành, có 220 hộ dân ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch được bố trí TĐC tại ba thôn Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành, sau mười năm lên ở vùng đất mới, hàng trăm hộ dân này vẫn khổ cực với bài toán thiếu đất sản xuất.

Bà Nguyễn Thị Bùi (60 tuổi, thôn Bình Dương), bức xúc: “Gia đình tui đã vì chủ trương chung mà di dời đến nơi ở mới. Đến đây cứ nghĩ là cuộc sống được ổn định chứ ai ngờ còn khổ hơn nơi cũ nhiều bởi thiếu đất sản xuất”.

Theo bà Bùi, khi di dời, gia đình bà đã bàn giao 3,6 ha đất lâm nghiệp cho dự án hồ Tả Trạch, đó là nguồn sinh kế chính của gia đình.

4-18-43-35_3

Bà Nguyễn Thị Bùi nói: “Mười năm nay, vợ chồng tui ngày mô cũng trông chờ tỉnh sớm trả đất để trồng rừng, đảm bảo cuộc sống”-Ảnh Duy Phiên

 Ở vùng đất Dương Hòa cũ bà con chủ yếu sống dựa vào sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, đến nơi ở mới do không có đất nên nhiều gia đình con cái li tán, bà con lay lắt đi làm thuê, cuốc mướn nhiều nơi để kiếm sống.

Theo những hộ dân, khi chính quyền về vận động di dời, họ được nhà nước bồi thường tiền cây cối, nhà cửa, tài sản gắn với đất vườn. Còn đối với đất lâm nghiệp, tỉnh hứa sẽ thực hiện chủ trương “đất đổi đất” nên người dân đồng ý di dời vì nghĩ đến nơi ở mới sẽ có đất sản xuất. Sau một thời gian chờ đợi, không thấy chủ trương “đất đổi đất” thực hiện, người dân đã “đội đơn” đi nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.

Cùng chung cảnh ngộ với những hộ gia đình ở khu TĐC của xã Bình Thành là hàng trăm hộ dân khác ở các khu TĐC ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch như Bến Ván, Phúc Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Sòng (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy). Bà Hồ Thị Lư (thôn Phúc Lộc, xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc), cho biết: “Từ khi lên đây TĐC gia đình chúng tôi được cấp chỉ vỏn vẹn 4 sào đất. Ở vùng đất cũ, cả nhà có 5 ha rừng, cho thu nhập cả trăm triệu. Giờ ở đây thiếu đất, không biết làm gì có cái ăn”.

Nhượng đất để… làm thuê

Một nghịch lý dễ thấy là trong khi người dân thiếu đất sản xuất thì đa phần diện tích đất lâm nghiệp ở các địa phương lại giao cho các tổ chức sử dụng và quản lý.

Người dân TĐC ở Bình Thành thiếu đất sản xuất trầm trọng-Ảnh Duy Phiên

Người dân TĐC ở Bình Thành thiếu đất sản xuất trầm trọng-Ảnh Duy Phiên

Tại xã Bình Thành – địa phương có nhiều hộ TĐC từ dự án hồ Tả Trạch, theo thống kê của UBND xã này, Bình Thành có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 4.600 ha, trong khi đó diện tích cấp cho các hộ sử dụng chỉ có hơn 600 ha. Gần 4.000 ha đất còn lại chủ yếu được giao cho công ty, đơn vị như Cty Giống cây trồng vật nuôi TT-Huế, Ban quản lý rừng đầu nguồn sông Hương…

Ông Hồ Văn Sanh – Chủ tịch UBND xã Bình Thành, cho biết: “Vấn đề thiếu đất sản xuất đối với các hộ dân TĐC đã diễn ra trong nhiều năm qua. Nhiều lần, qua các cuộc tiếp xúc cử tri, bà con phản ánh, địa phương đã kiến nghị lên cấp trên để xin soát xét, điều tiết quỹ đất cấp cho dân sản xuất nhưng vẫn chưa được đáp ứng”.

Việc hàng trăm hộ dân di dời TĐC ảnh hưởng từ lòng hồ Tả Trạch với chủ trương “đất đổi đất” không thực hiện đã biến nhiều hộ dân từ những người là chủ đất rừng, chủ cả cơ ngơi trang trại giờ trở thành những người làm thuê kiếm sống qua ngày. Nhiều hộ gia đình con cái li tán.

Theo thống kê, có gần 90% hộ TĐC ở đây phải đi làm thuê, sống nhờ vào khai thác lâm sản phụ vì thiếu đất trồng trọt. Anh Nguyễn Chiến (45 tuổi, thôn Hòa Bình), cho biết: “Từ khi lên TĐC đến nay, gia đình tui lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau, tui phải làm bóc tách vỏ cây tràm còn vợ thì đi sang các xã khác trồng rừng thuê”.

Trước đây, anh Chiến ở vùng đất cũ Dương Hòa có hơn 2 ha đất lâm nghiệp trồng keo lá tràm và một ít diện tích đất trồng hoa màu. Những diện tích đất đó là nguồn sinh kế chính cho cả gia đình. “Dù chừng đó đất, mỗi năm tui thu ít cũng được vài chục triệu, mình làm chủ, tự làm tự ăn cũng đủ song”, anh Chiến buồn bã kể.

Duy Phiên/nongnghiep.vn

Chùm ảnh thực địa- Tham vấn Luật BV&PTR 2004 ở Thừa Thiên Huế

Ngày 16/10/2014, Tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đoàn nghiên cứu của Liên minh đất rừng đã tổ chức đợt tham vấn cộng đồng về Luật BV&PTR 2004 tại xã Hương Sơn, huyện Nam Đông

Dưới đây là hình cảnh cập nhật ngày đầu tiên làm việc của đoàn nghiên cứu:

8

Tang vật bị Nhóm bảo vệ rừng tịch thu trong quá trình tuần tra-Ảnh FORLAND

17 16 15 13 12 11 10 9 7 6 5 3 2 1

Đăk Nông: Còn 40% số hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Tỉnh ủy Đăk Nông vừa mở đợt khảo sát tại 21 thôn, bản vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh nhằm tìm hiểu, nắm bắt việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước và thực tế đời sống của đồng bào. Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù đã có nhiều chuyển biến nhưng tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn rất cao. Tỉnh ủy Đăk Nông vừa mở đợt khảo sát tại 21 thôn, bản vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh nhằm tìm hiểu, nắm bắt việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước và thực tế đời sống của đồng bào. Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù đã có nhiều chuyển biến nhưng tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn rất cao.

Cụ thể, tại vùng đồng bào DTTS di cư đến, tỷ lệ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 40%; vùng đồng bào DTTS tại chỗ hộ nghèo chiếm 14,4%, hộ cận nghèo chiếm 25,8%… Nguyên nhân được xác định do thiếu đất sản xuất, đất ở, thiếu việc làm, đặc biệt trình độ dân trí, nhất là vùng đồng bào di cư từ phía Bắc vào rất thấp…

Theo Dan Viet

Thực hiện Luật Đất đai: Bảo đảm quyền cho người phụ nữ – Bài 1: Hủ tục và pháp lý (11/10/2014)

Định kiến giới và luật tục được xem là rào cản nặng nề đối với phụ nữ trong việc đảm bảo quyền được hưởng trong đất đai. Bên cạnh đó chính quyền cơ sở cũng như ngành chức năng không mấy quan tâm đến việc ghi cả tên vợ và chồng.  

Đất do UBND xã cấp nhưng 10 năm nay anh Nhân vẫn chưa làm xong sổ đỏ- Ảnh Lan Hương

Đất do UBND xã cấp nhưng 10 năm nay anh Nhân vẫn chưa làm xong sổ đỏ- Ảnh Lan Hương

Đàn ông mới là chủ hộ!
100% người dân trong bản đều là đồng bào dân tộc Vân Kiều nhưng hơn 10 năm nay, Bản Cu Pua, xã Đak Rông, huyện Đak Rông – Quảng Trị được xem là bản “văn minh” nhất của huyện vì không có tệ nạn xã hội, nghiện hút và uống rượu. Tuy nhiên, luật tục đã trở thành rào cản chính trong việc được hưởng đất đai của người phụ nữ. Đối với các gia đình thiểu số Vân Kiều ở Bản Cu Pua, luật tục đã trở thành rào cản chính trong giải quyết các vụ ly hôn. Khi xảy ra ly hôn, đất đai luôn thuộc về người chồng mặc dù phụ nữ có tên hoặc chưa có tên trong GCNQSDĐ và gần như không xảy ra bất kỳ một tranh chấp, kiện tụng nào sau khi ly hôn. Hầu hết những phụ nữ này đều quay trở về nhà mẹ đẻ với hai bàn tay trắng bởi suy nghĩ rằng, đất đai đó là của ông bà, tổ tiên để lại nên phần đất này thuộc về người chồng. Người chồng chỉ mang chút lễ (con gà hoặc con lợn) đến gặp nhà ngoại để xin phép cho vợ chồng ly hôn.
Được xem là một trưởng thôn gương mẫu, đóng vai trò đặc biệt trong việc xây dựng thôn bản Cu Pua hơn 10 năm thực hiện nếp sống văn minh không rượu bia, song khi trao đổi với phóng viên xung quanh vấn đề  quyền được đứng tên trong sổ đỏ của phụ nữ, anh Hồ Ê Nót thẳng thắn đưa ra quan điểm: Chỉ có đàn ông mới là chủ hộ và mới được đứng tên trong sổ đỏ. “Từ xưa tới nay nếu giữa hai vợ chồng xảy ra tranh chấp thì chỉ có tài sản mới mang ra phân chia, còn đất đai tuyệt đối không bao giờ xảy ra tranh chấp vì dù ở nhà bố mẹ đẻ hay nhà chồng thì đất đai không dành để chia cho phụ nữ” – anh Hồ Ê Nót nói.
Nằm cheo leo trên đỉnh núi, cuộc sống người dân bản Chân Rò, xã Đak Rông gặp khá nhiều khó khăn và thiếu thốn. Người dân muốn đi chợ hay giao thương phải đi đò vượt qua con sông ĐakRông. Tuy nhiên, vào mùa mưa lũ cuộc sống người dân gần như bị chia cắt bên ngoài, bởi nước sông ĐakRông lên cao. Dù không được biết đến quy định của pháp luật nhưng khi được hỏi, chị  Hồ Thị Lệ giãi bày: “Tôi cũng muốn được đứng tên trong sổ đỏ lắm, vì vợ chồng nhiều khi có xô xát hay mâu thuẫn người vợ thường bị chồng đuổi ra khỏi nhà. Trong thôn cũng có nhiều người đi lấy chồng làm quần quật đến khi chồng có vợ mới thì phải ra đi tay trắng”. Và rồi chị Hồ Thị Lệ nói: “Được ghi tên trong sổ đỏ là điều ai cũng muốn nhưng không người phụ nữ nào dám đề xuất vì sợ chồng đánh”.
Thủ tục còn nhiều phiền hà
“Quy trình làm thủ tục sổ đỏ gian nan, vất vả lắm, chỉ ghi tên mỗi chồng là chủ hộ mà đợi 3 năm vẫn chưa làm xong, giờ ghi thêm vợ vào cho thêm rắc rối” – anh Nguyễn Ngọc Đông ở Tiểu khu 5, Thị trấn Ái Tử, xã Triệu Phong, huyện Triệu Phong cho biết.  Cũng theo anh Đông, gia đình nhà anh và 10 hộ dân khác cùng hoàn thiện thủ tục hồ sơ làm sổ đỏ năm 2011 nhưng đến nay vẫn chưa xong. “Lên xã hỏi thì xã bảo đã gửi hồ sơ lên huyện, lên huyện hỏi thì được trả lời là vì làm tập trung nên trong số 11 bộ hồ sơ thì có 2 bộ hồ sơ thiếu phải làm lại nên các hộ còn lại cũng phải đợi rồi cấp cùng lúc” – anh Đông kể.
Tương tự, gia đình anh Đặng Nhân được UBND xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong cấp đất năm 2004. Hai năm sau gia đình anh được cán bộ địa chính lên đo và vợ chồng anh cũng hoàn thiện hồ sơ để làm sổ đỏ, thế nhưng đến nay sau 10 năm vợ chồng anh vẫn chưa được cấp sổ đỏ. “Là hộ đầu tiên lên đây ở, lại là đất do chính UBND xã cấp đất không hề có tranh chấp. Vậy mà sau 10 năm tôi không được cấp sổ đỏ trong khi đó nhiều hộ dân mua lại đất của người khác thì đã có sổ đỏ từ lâu. Hai vợ chồng và 3 đứa con sống chui rúc trong căn nhà hơn 10m2 muốn cất cái nhà lắm nhưng vì không có sổ nên cứ phải ở vậy” – anh Đặng Nhân  kể.
Thực tế cho thấy, người dân thường gặp khó khăn trong việc kê khai các giấy tờ cần thiết, thiếu hiểu biết về quy định cấp GCNQSDĐ, e sợ không có khả năng giao tiếp khi gặp cán bộ, người dân thấy “mệt mỏi” với các thủ tục rườm rà, dẫn tới phải “vận động” cán bộ để được giúp đỡ, để tiến độ cấp sổ nhanh hơn. Trong quá trình thực hiện thủ tục cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ, người dân còn gặp nhiều nhũng nhiễu.
Cùng với việc gặp quá nhiều phiền hà trong thủ tục thì việc quyền được hưởng trong Luật Đất đai của phụ nữ cũng gặp nhiều rào cản bởi sự thờ ơ của chính những cán bộ có trách nhiệm.
Theo ông Võ Ngọc Ánh, Phó phòng địa chính huyện Triệu Phong, ngay sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, huyện đã mời cán bộ cấp xã lên tuyên truyền về những quy định mới của Luật tuy nhiên hiện phần lớn sổ đỏ vẫn chủ yếu đứng tên chồng.
 Lan Hương/daidoanket.vn

Khánh Hòa: Dân ngang nhiên lấn chiếm đất rừng

Gần một tháng qua, nhiều hộ dân xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) đã ngang nhiên lấn chiếm trái phép khoảng 100ha đất rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Ninh Hòa quản lý nhưng ngành chức năng vẫn chưa có giải pháp xử lý. 

Đất rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa bị lấn chiếm, trồng bắp. Ảnh Văn Ngọc

Đất rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa bị lấn chiếm, trồng bắp. Ảnh Văn Ngọc

Theo phản ánh, sau khi BQLRPH Ninh Hòa tiến hành thu hoạch gần 200ha rừng keo tại khu rừng thuộc buôn Lác, buôn Sim, thuộc xã Ninh Tây, đơn vị sắp sửa trồng mới rừng thì có gần 60 hộ dân ở các buôn nói trên lên chiếm đất, gây khó khăn cho quản lý cũng như tiến độ trồng mới rừng. Ngay khi sự việc xảy ra, UBND thị xã Ninh Hòa đã thành lập tổ công tác đến hiện trường tìm hiểu sự việc, đồng thời mời các hộ dân lên UBND xã Ninh Tây để tuyên truyền, vận động nhưng người dân vẫn không chấp nhận, tiếp tục lấn chiếm trái phép. Khi đoàn công tác đến vận động, họ đưa ra những lý lẽ rất khó chấp nhận, thậm chí đoàn công tác còn bị người chiếm đất ngăn cản, la mắng. Còn theo cán bộ BQLRPH Ninh Hòa, những người dân chiếm đất còn dùng cả mã tấu, súng tự chế để đe dọa lực lượng bảo vệ rừng. Ông Lê Xuân Tuyên, Chủ tịch UBND xã Ninh Tây, cho biết, trong số các hộ lấn chiếm đất chỉ có 8 hộ cận nghèo, còn lại là các hộ có cuộc sống trung bình và khá. Tất cả các hộ này không thiếu đất sản xuất. Hiện chính quyền địa phương đang tuyên truyền cho dân ngưng việc chiếm đất nhưng nhiều người dân vẫn chưa chấp hành.

Việc lấn chiếm đất ngày một công khai, phức tạp nhưng hiện nay địa phương và chủ rừng chưa đưa ra giải pháp nào tối ưu. Ông Nguyễn Công Hà, Giám đốc BQLRPH Ninh Hòa, bức xúc: Phần đất bị người dân lấn chiếm đã được UBND tỉnh cấp sổ cho BQLRPH. Tình trạng người dân lấn chiếm đất ngày càng nghiêm trọng, đơn vị vẫn chưa có giải pháp nào để ngăn chặn tình hình. Còn theo ông Tống Trân, Phó Chủ tịch UBND thị xã Ninh Hòa: “Thị xã đã giao cho địa phương Ninh Tây vận động, tuyên truyền dân không được chiếm dụng đất. Còn diện tích đất bị lấn chiếm hiện đã trồng bắp, thị xã đề nghị nên để cho dân thu hoạch xong vụ mùa này. Bên cạnh đó, chủ rừng cũng nên tiến hành trồng rừng ngay tại diện tích đất đang lấn chiếm, khi người dân thu hoạch xong bắp sẽ yêu cầu họ trả lại đất”.

Văn Ngọc/SGGP.org.vn

Dự án thủy điện Sơn Trà 1, Quảng Ngãi: Đe dọa hàng ngàn ha rừng

Việc dự án (DA) Thủy điện Sơn Trà 1 (xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi) được cấp thẩm quyền tỉnh Quảng Ngãi cho phép triển khai khảo sát thiết kế, không chỉ gây lo lắng cho người dân, mà chính quyền các cấp của địa phương này cũng như ngồi trên lửa.

Cơ quan chức năng huyện Sơn Hà kiểm tra thực địa nơi xây dựng Thủy điện Sơn Trà 1-Ảnh Dân Việt

Cơ quan chức năng huyện Sơn Hà kiểm tra thực địa nơi xây dựng Thủy điện Sơn Trà 1-Ảnh Dân Việt

Cơ hội cho… lâm tặc

DA Thủy điện Sơn Trà 1 do Công ty cổ phần 30.4 làm chủ đầu tư, được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 6.2010 và được điều chỉnh vào tháng 6.2012. DA được đặt ở thượng nguồn sông Xà Lò, có công suất lắp máy là 42MW, dung tích hồ chứa gần 5,5 triệu m 3 . Theo kết quả kiểm tra thực tế của chính quyền Sơn Hà, ngoài diện tích mất vĩnh viễn khi xây dựng thủy điện này là 38,59ha (chưa tính diện tích xây dựng các tuyến đường phục vụ xây dựng công trình, đường điện 220kV dẫn về Trạm Sơn Hà) thì điều lo sợ nhất là khoảng 3.000ha rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham nằm trong khu vực này sẽ trở thành “miếng mồi” ngon cho lâm tặc khi dự án triển khai.

Theo ông Phùng Tô Long – Chánh Văn phòng UBND huyện Sơn Hà, diện tích rừng phòng hộ trên lâu nay do bị con sông Xà Lò ngăn cách với phần giáp ranh huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) nên vẫn bình yên. Thế nhưng, khi DA Thủy điện Sơn Trà 1 được triển khai thì đường giao thông sẽ được mở đến tận bìa rừng, rồi chuyện dùng thuyền băng qua con sông này để vào rừng phòng hộ trở nên quá dễ dàng. Với trữ lượng gỗ được đánh giá từ 100 – 120m 3 /ha, có tuổi đời hàng trăm năm phơi ra trước mắt như vậy chẳng khác nào đưa “mỡ đến miệng mèo” lâm tặc. Còn nhớ cách đây chưa lâu, khi con đường Di Lăng (huyện Sơn Hà) – Trà Trung (huyện Sơn Tây) thi công, hàng ngàn cây gỗ quý nằm dọc tuyến đường này đã bị lâm tặc đốn hạ trái phép.

Lời khẩn cầu của ông Bí thư huyện

Ông Đặng Ngọc Dũng

Trong hồ sơ DA Thủy điện Sơn Trà 1, chủ đầu tư không có báo cáo đánh giá tác động môi trường được cơ quan thẩm quyền phê duyệt, cũng không cho biết trách nhiệm của chủ đầu tư khi rừng phòng hộ bị mất, việc trồng lại rừng theo quy định của Chính phủ cũng không được thể hiện trong dự án…”.
Cùng với hàng ngàn ha rừng phòng hộ đầu nguồn bị đe dọa là hậu họa ngập lụt trong mùa mưa lũ. Ông Đặng Ngọc Dũng – Bí thư Huyện ủy Sơn Hà cho biết: Nằm ở khu vực hạ lưu của con sông Xà Lò có 10/14 xã của huyện Sơn Hà, thời gian qua, hàng chục ngàn hộ dân nơi đây rất khổ sở vì chuyện ngập lụt, chạy lũ. Chỉ trong vòng 4 năm nay, 2 lần xảy ra lũ lớn làm cho hàng ngàn hộ dân Sơn Hà bị thiệt hại nặng về người và tài sản. Vừa qua, với việc hoàn thành 2 DA nằm phía trên đầu nguồn là hồ chứa thủy lợi Nước Trong và công trình Thủy điện Đăkrinh đã làm cho người dân nơi đây càng lo sợ hơn. Nếu DA Thủy điện Sơn Trà 1 được xây dựng thì vào mùa khô các hồ tích nước sẽ gây cạn kiệt nguồn nước vùng hạ lưu, còn đến mùa lũ về, các hồ chứa đồng loạt xả nước thì hậu quả gây ra không chỉ cho người dân Sơn Hà mà nhiều huyện đồng bằng phía dưới sẽ không thể lường hết được. “Đại diện cho 71.000 dân huyện Sơn Hà, tôi khẩn thiết kiến nghị lãnh đạo tỉnh tổ chức lấy ý kiến của người dân về chủ trương xây dựng các DA thủy điện, trong đó có DA Thủy điện Sơn Trà 1” – ông Dũng nói.
Được biết, đã nhiều lần, lãnh đạo UBND và Huyện ủy Sơn Hà đã có văn bản, trực tiếp trình bày trước lãnh đạo của tỉnh, với nội dung kiến nghị loại bỏ khỏi quy hoạch và không xây dựng bất kỳ thủy điện nào thêm trên địa bàn huyện này.

Dân Việt/baomoi.com

Nâng cao kỹ năng truyền thông vận động chính sách

Ngày 3 – 5/10, tại văn phòng Trung tâm phát triển Nông thôn miền Trung(Tp Huế), Liên minh Đất rừng- FORLAND đã tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao kỹ năng truyền thông vận động chính sách liên minh đất rừng” với sự tham gia của 27 học viên đến từ 7 tổ chức thành viên của FORLAND.

IMG20141004152636

Giảng viên Trần Phong chia sẻ về việc chia sẻ thu thập thông tin hiệu quả-FORLAND

FORLAND là mạng lưới kết nối các tổ chức và cá nhân ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp. Liên minh được hình thành từ năm 2012 với mục đích góp phần xây dựng và hoàn thiện các chính sách nhằm thúc đẩy quản lý và phát triển tốt hơn tài nguyên rừng và cải thiện đời sống cộng đồng có sinh kế gắn liền với đất và rừng. Với mục tiêu nhằm nâng cao kỹ năng truyền thông các tổ chức thành viên, tổ chức điều phối(Trung tâm CRD) đã lên kế hoạch để tổ chức lớp tập huấn này.

 Với sự hướng dẫn và thúc đẩy của giảng viên Trần Phong, 27 học viên của lớp tập huấn đã được tiếp cận từ kiến thức cơ bản về truyền thông, truyền thông trong vận động chính sách cho đến những kỹ năng và bí quyết làm truyền thông gây được sự thu hút, ấn tượng. Bằng phương pháp trao đổi, thảo luận nhóm và trình bày trực quan hóa với các sơ đồ minh họa dễ hiểu, học viên của lớp tập huấn đã tự xây dựng một tài liệu truyền thông bổ ích và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của tổ chức thành viên và tiến tới hoàn thiện chiến lược truyền thông cho toàn bộ liên minh. Theo đánh giá của giảng viên thì việc xây dựng thông điệp cho chiến dịch truyền thông là vô cùng khó khăn và phải mang tính sáng tạo cao, tuy nhiên với phương pháp học tập lấy hoc viên là trung tâm giảng viên Trần Phong đã hỗ trợ cho các nhóm xây dựng nhiều thông điệp hay, ý nghĩa có khả năng ứng dụng vào thực tiễn liên quan đến các chủ để về lâm nghiệp.

IMG20141005152343

Học viên nhận chứng nhận sáng tạo truyền thông cộng đồng-FORLAND

Bên cạnh đó, học viên của lớp tập huấn có cơ hội trao đổi và chia sẻ những hiểu biết của mình về các loại hình truyền thông được sử dụng trong hoạt động vận động chính sách. Điều lý thú của lớp tập huấn là tất cả các kỹ năng, định nghĩa về các nội dung liên quan đến truyền thông được các học viên xây dựng dựa trên hướng dẫn và tổng kết chia sẻ kinh nghiệm từ phía giảng viên. Với phương pháp tập huấn trực quan, sinh động của giảng viên đã giúp cho các học viên hiểu vấn đề một cách nhanh chóng và có cơ hội để vận dụng vào thực tế.

Kết thúc lớp học, Ông Hoàng Mạnh Quân- Giám đốc Trung tâm CRD chia sẻ: “Mục tiêu chung của lớp tập huấn là giúp cho các tổ chức thành viên am hiểu thêm về truyền thông vận động chính sách từ đó phục vụ tốt hơn quá trình tác động tới báo chí và tác động tới các quyết sách của cơ quan hoạch định chính sách như sứ mệnh của mạng lưới đề ra.”

Tài liệu lớp tập huấn ” Nâng cao kỹ năng truyền thông vận động chính sách”

FORLAND