Hàng ngàn ha rừng ở Đắk Nông bị xóa sổ: Trách nhiệm không riêng chủ rừng

Từ 2004 đến 2011, UBND tỉnh Đắk Nông đã giao hàng chục ngàn héc ta đất rừng cho 39 doanh nghiệp tư nhân để trồng cao su, trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình giao rừng, cơ quan chức năng không thực hiện việc thẩm định nên đã giao rừng cho các doanh nghiệp yếu năng lực, sau khi giao buông lỏng quản lý nên đã có hàng ngàn héc ta rừng bị tàn phá…

Đó là kết luận về việc quản lý sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng và một số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2004-2011 vừa được Thanh tra Chính phủ công bố ngày 15/10. Từ kết luận này cho thấy, việc hàng ngàn héc ta rừng ở Đắk Nông bị xóa sổ có trách nhiệm của Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc các sở TNMT, NN-PTNT…

Năm 2008, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho Công ty Kiến Trúc Mới (trụ sở tại TP Hồ Chí Minh) do bà Nguyễn Thị Hồng Hà làm Giám đốc thuê 1.678ha đất rừng tại các tiểu khu 1534 và 1528 thuộc địa bàn xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức để thực hiện dự án trồng cao su, trồng rừng và bảo vệ rừng. Sau đó, Công ty Kiến Trúc Mới đã ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Vinh Hiển (có trụ sở tại tỉnh Bình Phước) do ông Hồ Hữu Hiển làm Giám đốc để thực hiện việc khai hoang đất rừng mặc dù chưa có giấy phép, hồ sơ thiết kế khai hoang và chưa được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Sau khi ký hợp đồng, Công ty TNHH MTV Vinh Hiển đã thuê người cho xe ủi, máy cưa tiến hành việc khai hoang, đốn hạ trái phép 70ha rừng theo sự chỉ dẫn của ông Chu Văn Lam, Phó Ban quản lý dự án Công ty Kiến Trúc Mới. Điều đáng nói, trong tổng số 70ha rừng bị đốn hạ có tới 38ha thuộc diện tích rừng phải khoanh nuôi bảo vệ, cấm khai thác, gây thiệt hại gần 9 tỷ đồng.

Ngày 15/10, TAND tỉnh Đắk Nông đã đưa ra xét xử sơ thẩm vụ hủy hoại rừng nói trên. Tại phiên tòa, Hồ Hữu Hiển một mực kêu oan vì cho rằng mình chỉ làm theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công ty Kiến Trúc Mới nhưng cơ quan chức năng không xử lý trách nhiệm đối với lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ, HĐXX tuyên phạt Hồ Hữu Hiển 7 năm tù, Chu Văn Lam 4 năm tù về tội hủy hoại rừng. Ngoài ra, tòa cũng buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền thiệt hại gần 9 tỷ đồng.

Trao đổi với ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, ông Duyên thừa nhận: “Mục đích của nhiều DN là lấy đất trồng cao su chứ không phải bảo vệ rừng. Một số DN không có năng lực tài chính nên chưa xong thủ tục đã bán lại kiếm lời. Đây là hạn chế lớn, làm giảm hiệu quả kêu gọi đầu tư, làm mất rừng, mất đất với diện tích lớn”.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, từ năm 2004 đến nay, có hơn 27.000ha đất rừng bị lấn chiếm, chặt phá. Tuy nhiên, lực lượng chức năng mới chỉ xử lý được khoảng 12,7% tổng diện tích đất rừng bị phá. Bên cạnh đó, các hành vi như khai thác, vận chuyển, tiêu thụ gỗ trái phép trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp.

Cơ quan Công an khám nghiệm hiện trường một vụ doanh nghiệp phá rừng - Ảnh Văn Thành
Cơ quan Công an khám nghiệm hiện trường một vụ doanh nghiệp phá rừng – Ảnh Văn Thành

Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Theo Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng nhưng các doanh nghiệp này năng lực yếu cả về tài chính và kỹ thuật. Cho thuê diện tích đất, rừng lớn nhưng không cho thuê rừng, không thông qua đấu giá rừng, trong khi đó tiền thuê đất phải hàng chục năm sau mới phải nộp gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Thậm chí, UBND tỉnh Đắk Nông tạm giao đất, rừng cho 5 doanh nghiệp nhưng không có quyết định cho thuê đất, cho thuê rừng, không có dự án đầu tư. Bên cạnh đó, nhiều dự án thu hồi đất trong đó có người dân làm ăn, sinh sống ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định canh, tái định cư cho người dân, để xảy ra tình trạng bất ổn, bức xúc cho người dân. “Trong một thời gian dài, việc quản lý đất rừng bộc lộ nhiều tồn tại bất cập gây mất rừng với tình trạng trầm trọng”, Thanh tra Chính phủ kết luận.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, những tồn tại trên trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh Đắk Nông, Giám đốc Sở NN-PTNT, Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Sở Tài chính, chủ rừng và các cá nhân, tập thể liên quan. Do vậy, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất đai và bảo vệ, phát triển rừng. Thu hồi các quyết định giao đất rừng sai quy định, thu hồi hơn 40 tỷ đồng tiền thuê đất của các doanh nghiệp. Đồng thời, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra những sai phạm trong kết luận, có hình thức xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thủy điện băm nát rừng

Theo Thanh tra Chính phủ, hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông quy hoạch 75 dự án thủy điện. Một lượng lớn đất rừng đã được huy động cho các dự án thủy điện làm thay đổi môi trường sống, cạn kiệt nguồn gen. Trong khi đó, tiến độ thực hiện các dự án chậm, nhiều dự án tạm dừng ảnh hưởng đến tình hình ổn định, phát triển kinh tế xã hội. Khi triển khai dự án, một lượng lớn gỗ và tài nguyên rừng bị thất thoát, hao hụt. Hầu hết các dự án ít quan tâm đến ổn định cuộc sống cho người dân gây khiếu nại, tố cáo kéo dài.

Văn Thành/cand.com.vn

Advertisements

Cuộc chiến bảo vệ rừng ngày càng khốc liệt

Chiều 22.10, Phó cục trưởng phụ trách Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) Đỗ Trọng Kim đã trả lời Báo Thanh Niên xung quanh công tác bảo vệ rừng.

Hàng trăm phách gỗ kiền kiền được phát hiện trong rừng giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng vào ngày 11.10 - Ảnh: C.T.V
Hàng trăm phách gỗ kiền kiền được phát hiện trong rừng giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng vào ngày 11.10 – Ảnh: C.T.V

Ông Kim cho biết từ năm 2009 đến nay, trên cả nước, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 33.938 vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, gây thiệt hại trên 8.000 ha rừng. Bình quân mỗi năm mất 1.575 ha rừng. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá đều giảm qua từng năm nhưng ở một số nơi vẫn diễn ra khá nghiêm trọng.

Thưa ông, rừng bị tàn phá có phải là do lực lượng kiểm lâm còn mỏng lại chưa được trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ trong khi thực thi công vụ? Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc để xảy ra các vụ chặt phá rừng trên địa bàn như thế nào?

Hiện nay, biên chế lực lượng kiểm lâm còn thiếu so với quy định, nhất là đội ngũ kiểm lâm phụ trách địa bàn và đội ngũ kiểm lâm làm công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Cả nước vẫn còn 562 xã có rừng chưa có kiểm lâm phụ trách địa bàn nên nhiều khi không thể kiểm soát hết tình hình. Lực lượng kiểm lâm được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ trong thi hành công vụ nhưng thiếu hướng dẫn các trường hợp được sử dụng, nhất là trong các trường hợp nổ súng, dẫn đến đối tượng vi phạm coi thường và manh động chống người thi hành công vụ. Nhiều trường hợp công chức kiểm lâm sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để đấu tranh bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản nhà nước và sự an toàn tính mạng bản thân nhưng chưa có cơ chế đảm bảo quyền hợp pháp. Trong khi đó, lâm tặc rất manh động chống đối, lăng mạ, tập trung đông người hành hung lực lượng thực thi công vụ, cướp lại tài sản, đốt phá tài sản nhà nước, tang vật vi phạm, khống chế lực lượng kiểm lâm. Chỉ tính từ đầu năm 2014 tới nay, trên cả nước xảy ra 38 vụ lâm tặc tấn công kiểm lâm, làm 1 người chết và 34 người khác bị thương.

Thực tế, nhiều chủ rừng (chủ yếu là các công ty lâm nghiệp) thiếu tinh thần trách nhiệm, thậm chí làm ngơ khi để xảy ra tình trạng rừng bị phá trong khi vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là cấp cơ sở, chưa thể hiện được vai trò quản lý nhà nước trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương.

Nhưng thưa ông, tại một số địa phương đã xuất hiện tình trạng một số kiểm lâm biến chất, câu kết với lâm tặc phá rừng đang khiến dư luận đặc biệt quan ngại?

Đúng là một bộ phận công chức kiểm lâm thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức phấn đấu kém, ngại khó, ngại khổ không nhiệt tình với công việc, không kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, đã bị lôi kéo, mua chuộc. Chúng tôi rất đau lòng về những vụ việc như thế này.

Tuy nhiên, đây không phải là hiện tượng phổ biến. Để bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm phải đánh đổi không chỉ công sức, trí tuệ, mồ hôi mà phải trả giá cả bằng xương máu. Nhiều năm qua đã có biết bao tấm gương hy sinh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ kiểm lâm để bảo vệ rừng.

Chúng ta cần làm gì để tăng cường sức mạnh của lực lượng kiểm lâm, đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ rừng?

Cuộc chiến bảo vệ rừng ngày càng khốc liệt, đòi hỏi chúng tôi luôn phải nỗ lực làm tròn trọng trách được giao. Chúng tôi đang rất quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, xử lý nghiêm minh đối với những kiểm lâm vi phạm, kiên quyết loại bỏ những kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc hoặc trực tiếp tham gia phá rừng.

Chúng tôi đã tham mưu với Bộ NN-PTNT đề nghị tăng cường thêm 3.000 kiểm lâm, phấn đấu tiến tới 1 kiểm lâm chỉ phải quản lý 1.000 ha rừng và 100% các xã có rừng đều có kiểm lâm địa bàn; có những chính sách cho lực lượng kiểm lâm ở vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện cho anh em có cuộc sống ổn định, yên tâm công tác; tăng cường đầu tư trang thiết bị, đặc biệt là các công cụ hỗ trợ để kiểm lâm có đủ sức mạnh khi thực thi nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, chúng tôi đã và đang khuyến khích, động viên người dân địa phương tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng bằng việc ký cam kết, xây dựng hương ước về bảo vệ rừng; có cơ chế chính sách về chia sẻ lợi ích trong công tác quản lý bảo vệ rừng, gắn trách nhiệm và quyền lợi của người dân và cộng đồng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng như việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Xin cảm ơn ông!

Quang Duẩn/thanhnien.com.vn

Nghèo khó giữa rừng

Một ngôi làng cách biệt đầu nguồn suối Pa Ay-Ảnh Bình Nguyên
Một ngôi làng cách biệt đầu nguồn suối Pa Ay-Ảnh Bình Nguyên

Đơn độc giữa rừng
Hơn 5 năm về trước, từ một nguồn tin của cán bộ huyện A Lưới về một ngôi làng không tên gọi đơn độc giữa rừng, chúng tôi đã cất công lặn lội đi tìm ngôi làng. Sau chặng đường hơn 70 km từ Huế lên A Luới, thêm khoảng 35km đường Hồ Chí Minh nữa, chúng tôi gặp suối Pa Ay. Từ đây, có thể nhìn thấy ngôi làng không tên gọi với những căn nhà sàn xiêu vẹo tựa lưng vào dãy núi A Sàng mới được chính quyền xã Hồng Thuỷ, huyện A Lưới phát hiện và cho “nhập cư” vào địa giới hành chính của mình. Mùa đông ở Trường Sơn mưa rền rĩ và lạnh cắt da. Lối mòn hơn 10 km như sợi chỉ  dẫn vào làng vào làng vừa trơn nhẫy, vừa bị  bị nước xói thành vô số hố hục khiến hành trình của chúng tôi phải kéo dài thêm gần cả ngày đường. Thấy khách lạ, mấy đứa trẻ  phóng nhanh vào nhà báo tin cho người lớn. Ông Hồ Văn Pê 60 tuổi – một trong những người đầu tiên đến Pa Ay lập làng, cho biết trước đây gia đình sống ở bản Ađên, xã Bắc Sơn. Do cuộc sống khó khăn nên khoảng năm 1984 ông tìm đến vùng đất này phát rẫy rồi ở lại luôn. Sau ông Pê, dân các xã khác cũng lần lượt tìm đến làm rẫy, dựng nhà, hình thành ngôi làng bên suối Pa Ay. Do địa thế hiểm trở, heo hút nên sau gần 30 năm, các cấp chính quyền ở A Lưới mới biết có sự tồn tại của ngôi làng và lập hồ sơ đưa vào danh sách quản lý hành chính địa phương.
Ông Hồ Văn Tích, cán bộ lâm nghiệp xã Hồng Thủy lúc bấy giờ dẫn đường cho chúng tôi đi, nói rằng ngôi làng không có tên nhưng do đồng bào sống đầu suối Pa Ay nên khi được chính quyền phát hiện thì gọi luôn là làng Pa Ay. Dân làng sống tự cung tự cấp, không thuộc sự quản lý của ai và cũng không có trưởng làng. Mỗi khi có việc cần thì người dân vẫn giúp đỡ và chia sẻ cho nhau. Tại thời điểm ấy, làng Pa Ay có 68 hộ, với trên 200 nhân khẩu chủ yếu là người Pa Cô và người Cơ Tu  sống tách biệt với thế giới bên ngoài và đối diện với muôn vàn khó khăn rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng và chính quyền các cấp.
Trở về quá… quá khứ  
Trong hành trình khó nhọc tìm kiếm kế sinh nhai trên dãy Trường Sơn, nhiều hộ dân tộc Pa Cô, Cơ Tu… đã chọn vùng đất màu mỡ ở khu vực suối Pa Ay làm nơi dừng chân sinh sống. Tuy vậy, do tập tục canh tác lạc hậu nên sau mấy chục năm  sống tách biệt ở vùng đất sát biên giới Việt – Lào, dân các ngôi làng vẫn ở trong vòng lẩn quẩn của đói nghèo, lạc hậu…
Nhớ lại hơn 5 năm trước khi tìm đến ngôi làng Pa Ay, chúng tôi gặp anh Hồ Văn Du cứ vò đầu bứt tai vì không có thứ gì để đãi khách dưới xuôi. Thường thì khoảng 10 ngày đến nửa tháng, gia đình anh gùi ngô ra xã ABung (Quảng Trị) để bán, thế nhưng đã hơn một tháng rồi vợ con anh chưa có thứ gì để mang đi bán cả! Cuộc sống khó khăn, mưu sinh nhọc nhằn nên dân làng nhà nào cũng có từ 7 đến 10 người con. Gia đình chị Hồ Văn Thịnh và chị Kăn Nguôi là một ví dụ, chị Nguôi chưa đầy 30 tuổi nhưng đã có 7 đứa con sàn sàn bằng nhau, đứa lớn nhất chỉ mới 10 tuổi, đứa bé nhất một tuổi. Bố mẹ đi vắng, cả bảy đứa ngồi co ro bên đống lửa sàn nhà. Ngôi nhà sàn không có vách che trống toang hoác.
Ông Hồ Văn Pê nói rằng ở làng của ông “mần chi có chuyện đi học!”. 68 hộ dân với hơn 200 nhân khẩu ở ngôi làng đàu suối Pa Ay cứ thế sống biệt lập giữa rừng suốt một thời gian dài cho đến khi được chính quyền phát hiện, vận động đưa về sống trong khu TĐC. Khu TĐC có đầy đủ điều kiện sinh hoạt lại gần đường Hồ Chí Minh, thuận tiện cho việc buôn bán trao đổi nông sản nhưng ở đó chưa được bao lâu, các hộ dân Pa Ay lại lặng lẽ vượt rừng tìm về làng tềnh toàng heo hút vì thiếu đất sản xuất, chăn thả.
Từ con đèo Pe Ke trên tuyến đường Hồ Chí Minh trông xuống sẽ gặp khu TĐC Pa Ay. Làng Pa Ay mới (bao gồm cả khu TĐC) có trên 100 hộ dân với gần 500 nhân khẩu nhưng theo lời của ông Hồ Bá Bình, Chủ tịch UBND xã Hồng Thủy thì gần 60% hộ dân của làng nằm trong danh sách hộ nghèo. Khi rời những ngôi làng đơn độc về làng mới, các hộ dân chỉ được cấp 1.000 m2 đất/hộ, không đủ để sản xuất, chăn thả. Thiếu đất buộc các hộ dân cứ lần lượt rời làng mới tìm về làng cũ để canh tác rồi ở lại luôn. Tháng 10 là tháng mà Trường Sơn bắt đầu có những cơn mưa dằng dai mù mịt núi rừng. Lặn lội tìm về ngôi làng đầu con suối Pa Ay trong màn mưa bạc xám, chúng tôi gặp lại những khuôn mặt người dân đã từng gặp nhiều năm trước bên bếp lửa teo tóp giữa rừng sâu. Mưa dầm dề không vào rừng hay lên rẫy được, già trẻ lớn bé chỉ biết ngồi bó gối bên lửa, mơ về cuộc sống đủ đầy hơn nhưng mơ ước ấy lại thêm một lần xa ngái vì chính những người dân thiếu đất đã buộc phải ngược các lối mòn dựng đứng trở về với quá khứ nhọc nhằn tại các ngôi làng cách trở, hun hút giữa rừng sâu.

Bình Nguyên/daidoanket.vn

10 năm tỉnh nợ đất dân

Sau hơn 10 năm, 850 hộ dân xã Dương Hòa (thị xã Hương Thủy, tỉnh TT-Huế) với gần 4.000 nhân khẩu nhượng đất cho dự án hồ Tả Trạch để đến vùng đất khác tái định cư (TĐC), cuộc sống của họ phải lay lắt từng ngày do tỉnh này nợ cả nghìn ha đất lâm nghiệp của dân.

 Khổ nơi tái định cư

Từ năm 2003, khi lấy đất thực hiện dự án hồ Tả Trạch, 850 hộ dân xã Dương Hòa phải TĐC trên vùng đất mới.

Theo quy định giai đoạn đó, những hộ dân di dời đến nơi ở mới được tỉnh TT-Huế cấp tối thiểu 1 ha đất trồng hoa màu, riêng đất rừng thì thực hiện chủ trương “đất đổi đất”, người dân không được đền bù diện tích đất rừng. Thế nhưng, sau hơn 10 năm về TĐC, người dân dài cổ chờ đợi vẫn chưa được cấp đất theo chủ trương của tỉnh này.

Theo thống kê của Ban Kinh tế và ngân sách HĐND tỉnh TT-Huế, đến thời điểm hiện tại, tỉnh vẫn nợ hàng trăm người dân đã nhượng đất cho công trình hồ Tả Trạch tổng cộng 1.012ha đất sản xuất vì chủ trương “đất đổi đất” không được thực hiện.

Người dân bị ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch, được bố trí TĐC tới các vùng như Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành (xã Bình Thành, thị xã Hương Trà); Bến Ván, Phúc Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Sòng (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy). Ghi nhận ở những vùng TĐC này mới thấy hết những khó khăn của người dân.

Tại xã Bình Thành, có 220 hộ dân ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch được bố trí TĐC tại ba thôn Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành, sau mười năm lên ở vùng đất mới, hàng trăm hộ dân này vẫn khổ cực với bài toán thiếu đất sản xuất.

Bà Nguyễn Thị Bùi (60 tuổi, thôn Bình Dương), bức xúc: “Gia đình tui đã vì chủ trương chung mà di dời đến nơi ở mới. Đến đây cứ nghĩ là cuộc sống được ổn định chứ ai ngờ còn khổ hơn nơi cũ nhiều bởi thiếu đất sản xuất”.

Theo bà Bùi, khi di dời, gia đình bà đã bàn giao 3,6 ha đất lâm nghiệp cho dự án hồ Tả Trạch, đó là nguồn sinh kế chính của gia đình.

4-18-43-35_3
Bà Nguyễn Thị Bùi nói: “Mười năm nay, vợ chồng tui ngày mô cũng trông chờ tỉnh sớm trả đất để trồng rừng, đảm bảo cuộc sống”-Ảnh Duy Phiên

 Ở vùng đất Dương Hòa cũ bà con chủ yếu sống dựa vào sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, đến nơi ở mới do không có đất nên nhiều gia đình con cái li tán, bà con lay lắt đi làm thuê, cuốc mướn nhiều nơi để kiếm sống.

Theo những hộ dân, khi chính quyền về vận động di dời, họ được nhà nước bồi thường tiền cây cối, nhà cửa, tài sản gắn với đất vườn. Còn đối với đất lâm nghiệp, tỉnh hứa sẽ thực hiện chủ trương “đất đổi đất” nên người dân đồng ý di dời vì nghĩ đến nơi ở mới sẽ có đất sản xuất. Sau một thời gian chờ đợi, không thấy chủ trương “đất đổi đất” thực hiện, người dân đã “đội đơn” đi nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.

Cùng chung cảnh ngộ với những hộ gia đình ở khu TĐC của xã Bình Thành là hàng trăm hộ dân khác ở các khu TĐC ảnh hưởng bởi dự án hồ Tả Trạch như Bến Ván, Phúc Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Sòng (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy). Bà Hồ Thị Lư (thôn Phúc Lộc, xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc), cho biết: “Từ khi lên đây TĐC gia đình chúng tôi được cấp chỉ vỏn vẹn 4 sào đất. Ở vùng đất cũ, cả nhà có 5 ha rừng, cho thu nhập cả trăm triệu. Giờ ở đây thiếu đất, không biết làm gì có cái ăn”.

Nhượng đất để… làm thuê

Một nghịch lý dễ thấy là trong khi người dân thiếu đất sản xuất thì đa phần diện tích đất lâm nghiệp ở các địa phương lại giao cho các tổ chức sử dụng và quản lý.

Người dân TĐC ở Bình Thành thiếu đất sản xuất trầm trọng-Ảnh Duy Phiên
Người dân TĐC ở Bình Thành thiếu đất sản xuất trầm trọng-Ảnh Duy Phiên

Tại xã Bình Thành – địa phương có nhiều hộ TĐC từ dự án hồ Tả Trạch, theo thống kê của UBND xã này, Bình Thành có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 4.600 ha, trong khi đó diện tích cấp cho các hộ sử dụng chỉ có hơn 600 ha. Gần 4.000 ha đất còn lại chủ yếu được giao cho công ty, đơn vị như Cty Giống cây trồng vật nuôi TT-Huế, Ban quản lý rừng đầu nguồn sông Hương…

Ông Hồ Văn Sanh – Chủ tịch UBND xã Bình Thành, cho biết: “Vấn đề thiếu đất sản xuất đối với các hộ dân TĐC đã diễn ra trong nhiều năm qua. Nhiều lần, qua các cuộc tiếp xúc cử tri, bà con phản ánh, địa phương đã kiến nghị lên cấp trên để xin soát xét, điều tiết quỹ đất cấp cho dân sản xuất nhưng vẫn chưa được đáp ứng”.

Việc hàng trăm hộ dân di dời TĐC ảnh hưởng từ lòng hồ Tả Trạch với chủ trương “đất đổi đất” không thực hiện đã biến nhiều hộ dân từ những người là chủ đất rừng, chủ cả cơ ngơi trang trại giờ trở thành những người làm thuê kiếm sống qua ngày. Nhiều hộ gia đình con cái li tán.

Theo thống kê, có gần 90% hộ TĐC ở đây phải đi làm thuê, sống nhờ vào khai thác lâm sản phụ vì thiếu đất trồng trọt. Anh Nguyễn Chiến (45 tuổi, thôn Hòa Bình), cho biết: “Từ khi lên TĐC đến nay, gia đình tui lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau, tui phải làm bóc tách vỏ cây tràm còn vợ thì đi sang các xã khác trồng rừng thuê”.

Trước đây, anh Chiến ở vùng đất cũ Dương Hòa có hơn 2 ha đất lâm nghiệp trồng keo lá tràm và một ít diện tích đất trồng hoa màu. Những diện tích đất đó là nguồn sinh kế chính cho cả gia đình. “Dù chừng đó đất, mỗi năm tui thu ít cũng được vài chục triệu, mình làm chủ, tự làm tự ăn cũng đủ song”, anh Chiến buồn bã kể.

Duy Phiên/nongnghiep.vn

Chùm ảnh thực địa- Tham vấn Luật BV&PTR 2004 ở Thừa Thiên Huế

Ngày 16/10/2014, Tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đoàn nghiên cứu của Liên minh đất rừng đã tổ chức đợt tham vấn cộng đồng về Luật BV&PTR 2004 tại xã Hương Sơn, huyện Nam Đông

Dưới đây là hình cảnh cập nhật ngày đầu tiên làm việc của đoàn nghiên cứu:

8
Tang vật bị Nhóm bảo vệ rừng tịch thu trong quá trình tuần tra-Ảnh FORLAND

17 16 15 13 12 11 10 9 7 6 5 3 2 1