Luật Bảo vệ và Phát triển rừng: Cần sửa gì, đổi gì?

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay. Do vậy, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật là việc làm cần thiết và cần được thúc đẩy sớm.

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 03/12/2004 với 8 chương, 88 điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng (sau đây gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Bên cạnh những thành tựu được thừa nhận cả về mặt lập pháp và thực tiễn áp dụng, Luật vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản.

Thứ nhất, Luật vẫn mang tính chất khung, thiếu cụ thể. Điều này dẫn đến việc phải ban hành khoảng gần 100 văn bản dưới luật để quy định chi tiết, tạo ra một lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn và chồng chéo.

Thứ hai, tính minh bạch, tính khả thi của Luật chưa cao, thể hiện ở việc chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng. Việc phân chia rừng thành ba loại theo mục đích sử dụng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) và theo đó hình thành hệ thống tổ chức quản lý rừng theo từng loại rừng một cách cứng nhắc đã gây khó khăn trong việc tổ chức quản lý cũng như khai thác tiềm năng, lợi thế của rừng; các quy định về khai thác rừng cũng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cơ chế, chính sách hưởng lợi chưa rõ ràng; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính chưa phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp; thiếu các quy định về phát triển chế biến và thương mại lâm sản, hệ thống cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp ở các cấp.

Thứ ba, có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và một số luật chuyên ngành như Luật Đất đai và Luật Đa dạng Sinh học, đặc biệt có một số điểm chưa phù hợp hoặc thiếu cụ thể khi đối chiếu với một số công ước quốc tế liên quan như Công ước CITES, Ramsar, Công ước về Đa dạng sinh học.

Cuối cùng, Luật chưa tạo được hệ thống quản lý phù hợp và hiệu quả cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động bảo vệ rừng.Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay. Do vậy, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật là việc làm cần thiết và cần được thúc đẩy sớm.

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 03/12/2004 với 8 chương, 88 điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng (sau đây gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Bên cạnh những thành tựu được thừa nhận cả về mặt lập pháp và thực tiễn áp dụng, Luật vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản.

Thứ nhất, Luật vẫn mang tính chất khung, thiếu cụ thể. Điều này dẫn đến việc phải ban hành khoảng gần 100 văn bản dưới luật để quy định chi tiết, tạo ra một lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn và chồng chéo.

Thứ hai, tính minh bạch, tính khả thi của Luật chưa cao, thể hiện ở việc chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng. Việc phân chia rừng thành ba loại theo mục đích sử dụng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) và theo đó hình thành hệ thống tổ chức quản lý rừng theo từng loại rừng một cách cứng nhắc đã gây khó khăn trong việc tổ chức quản lý cũng như khai thác tiềm năng, lợi thế của rừng; các quy định về khai thác rừng cũng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cơ chế, chính sách hưởng lợi chưa rõ ràng; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính chưa phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp; thiếu các quy định về phát triển chế biến và thương mại lâm sản, hệ thống cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp ở các cấp.

Thứ ba, có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và một số luật chuyên ngành như Luật Đất đai và Luật Đa dạng Sinh học, đặc biệt có một số điểm chưa phù hợp hoặc thiếu cụ thể khi đối chiếu với một số công ước quốc tế liên quan như Công ước CITES, Ramsar, Công ước về Đa dạng sinh học.

Cuối cùng, Luật chưa tạo được hệ thống quản lý phù hợp và hiệu quả cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động bảo vệ rừng.Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay. Do vậy, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật là việc làm cần thiết và cần được thúc đẩy sớm.

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 03/12/2004 với 8 chương, 88 điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng (sau đây gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. Bên cạnh những thành tựu được thừa nhận cả về mặt lập pháp và thực tiễn áp dụng, Luật vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản.

Thứ nhất, Luật vẫn mang tính chất khung, thiếu cụ thể. Điều này dẫn đến việc phải ban hành khoảng gần 100 văn bản dưới luật để quy định chi tiết, tạo ra một lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn và chồng chéo.

Thứ hai, tính minh bạch, tính khả thi của Luật chưa cao, thể hiện ở việc chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng. Việc phân chia rừng thành ba loại theo mục đích sử dụng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) và theo đó hình thành hệ thống tổ chức quản lý rừng theo từng loại rừng một cách cứng nhắc đã gây khó khăn trong việc tổ chức quản lý cũng như khai thác tiềm năng, lợi thế của rừng; các quy định về khai thác rừng cũng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cơ chế, chính sách hưởng lợi chưa rõ ràng; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính chưa phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp; thiếu các quy định về phát triển chế biến và thương mại lâm sản, hệ thống cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp ở các cấp.

Thứ ba, có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và một số luật chuyên ngành như Luật Đất đai và Luật Đa dạng Sinh học, đặc biệt có một số điểm chưa phù hợp hoặc thiếu cụ thể khi đối chiếu với một số công ước quốc tế liên quan như Công ước CITES, Ramsar, Công ước về Đa dạng sinh học.

Cuối cùng, Luật chưa tạo được hệ thống quản lý phù hợp và hiệu quả cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan trong hoạt động bảo vệ rừng.

Ảnh minh họa: Hoàng Chiên/ThienNhien.net
Ảnh minh họa: Hoàng Chiên/ThienNhien.net

Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, “Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004”(*) đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung Luật với những nội dung cụ thể như sau:

Về tên Luật và phạm vi điều chỉnh, Báo cáo đề nghị lấy tên là Luật Lâm nghiệp và Luật này sẽ điều chỉnh các hoạt động lâm nghiệp như một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ như: các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, chế biến, thương mại lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng.

Về kết cấu Luật, cần cấu trúc lại theo các hoạt động chủ yếu trong lâm nghiệp như: quản lý rừng; bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển rừng, sử dụng rừng; đầu tư, tài chính về rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; chế biến, thương mại lâm sản và hợp tác quốc tế; quản lý nhà nước về lâm nghiệp; điều khoản thi hành.

Về nội dung Luật, cần sửa đổi, bổ sung các nội dung về định nghĩa rừng; phân loại rừng; quy hoạch; giao, cho thuê rừng; bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng. Cụ thể:

Định nghĩa về rừng cần được chỉnh sửa theo hướng phù hợp với điều kiện Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, đồng thời bổ sung các tiêu chí xác định rừng trồng cho các loại rừng khác nhau.

Về phân loại rừng, nên chia thành hai loại: (i) Rừng sản xuất hay rừng kinh tế, gồm toàn bộ diện tích rừng sản xuất, rừng phòng hộ xung yếu và ít xung yếu hiện nay; và (ii) Rừng bảo vệ, bảo tồn, bao gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ rất xung yếu hiện nay. Việc phân loại này tương đối phù hợp với cách phân loại rừng của quốc tế, tạo thuận lợi cho tổ chức quản lý và tạo điều kiện mở rộng rừng kinh tế. Đặc biệt, cần điều chỉnh phân loại rừng đặc dụng để thống nhất với Luật Đa dạng sinh học và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, cần bãi bỏ quy định trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của UBND cấp xã để phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bên cạnh đó, bổ sung các quy định về vai trò của cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp trong việc lập, quyết định quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, xác lập các khu rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đồng thời, nhấn mạnh sự phối hợp giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ngành Tài nguyên và Môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, kiểm kê, thống kê rừng và đất lâm nghiệp.

Về quy định giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, cần thực hiện theo nguyên tắc tiến hành đồng thời tương ứng với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Ngoài ra, thể chế hóa quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng để liên doanh, liên kết trong bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời bổ sung một số quy định như: sự tham gia của cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp khi chuyển mục đích sử dụng rừng, chuyển đổi đất có rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác phải có kế hoạch trồng rừng mới cùng loại với rừng bị chuyển đổi hoặc phải đảm bảo các tiêu chí đối với rừng trồng mới.

Về thống kê, kiểm kê rừng, cần quy định thực hiện kiểm kê rừng 10 năm một lần, đồng thời quy định cơ quan công bố kết quả thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; xem xét lại quy định cấp xã báo cáo theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Ngoài ra, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ kinh phí cho các chủ rừng thực hiện thống kê, kiểm kê rừng.

Về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, cần quy định trách nhiệm của chủ rừng trong xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng. Thêm vào đó, cần bổ sung quy định bảo tồn đa dạng sinh học ở rừng phòng hộ, các khu rừng có giá trị bảo tồn cao trong các khu rừng sản xuất, xây dựng và bảo tồn các hành lang đa dạng sinh học.

Về phát triển rừng, sử dụng rừng, cần bổ sung một số quy định, như: cơ cấu cây trồng rừng hoặc nguyên tắc chọn loài cây trồng cho phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất; phương thức, quy trình kỹ thuật khi tiến hành cải tạo rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, kiểm tra giám sát việc cải tạo rừng. Quy định về chứng chỉ rừng, khai thác gỗ rừng tự nhiên là rừng sản xuất theo phương án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Ngoài những nội dung nêu trên, cần bổ sung quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo hướng minh bạch hóa quyền quản lý, quyền kinh doanh, quyền hưởng lợi và trách nhiệm của chủ rừng; bổ sung nội dung chế biến và thương mại lâm sản theo hướng đưa chế biến và thương mại lâm sản trở thành mũi nhọn kinh tế của ngành lâm nghiệp; bổ sung quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương theo hướng tập trung về một đầu mối nhưng phân định rõ cơ quan chịu trách nhiệm bảo vệ rừng, bảo tồn rừng, phát triển rừng, chế biến và thương mại lâm sản; quy định thống nhất hệ thống tổ chức quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.

Liên quan đến lĩnh vực đầu tư, tài chính, cần quy định rõ các hạng mục được ngân sách nhà nước đầu tư, hỗ trợ đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư; mức đầu tư trồng rừng được xây dựng theo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật; phân biệt rõ hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động công ích. Nhà nước cần có chính sách miễn giảm thuế, tiền thuê đất cho người kinh doanh rừng trồng, đặc biệt đối với trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn; sửa đổi chính sách thuế tài nguyên rừng theo hướng nguồn thu từ thuế tài nguyên rừng chủ yếu để bảo vệ, tái tạo lại rừng; bổ sung các quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng như: dịch vụ bảo vệ đất, bảo vệ và duy trì nguồn nước, kinh doanh du lịch sinh thái, hấp thụ và lưu giữ các bon.

Cùng chung mối quan tâm về vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, từ tháng 8/2013-11/2014, Liên minh đất rừng (FORLAND) đã tiến hành Nghiên cứu “Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 tại tỉnh Đắk Lắk , Hòa Bình và Thừa Thiên Huế”. Kết quả nghiên cứu này dự kiến sẽ được chia sẻ và tham vấn ý kiến đóng góp của các chuyên gia lâm nghiệp tại Hội thảo quốc gia do FORLAND tổ chức vào ngày 25/11/2014 tới.Trước đó, từ tháng 12/2013-4/2014, Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VNGO-FLEGT) cũng thực hiện Nghiên cứu “Những vấn đề về thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng dân cư”.Cả hai nghiên cứu của FORLAND và VNGO-LFEGT đều lựa chọn cách tiếp cận từ góc nhìn cộng đồng thông qua tham vấn trực tiếp và thu thập thông tin thứ cấp từ địa phương. Các nghiên cứu đã phản ánh những bất cập trong công tác giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư cũng như về khoán bảo vệ rừng, qua đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó, Nghiên cứu của VNGO-FLEGT đã đề xuất xây dựng một Chương riêng trong Luật về những quy định liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng dân cư bao gồm địa vị pháp lý của hộ gia đình và cộng đồng dân cư trong lâm nghiệp, nghĩa vụ đối với quản lý rừng; quyền sử dụng tài nguyên rừng và tham gia các dịch vụ môi trường rừng; quyền về sử dụng đất gắn với sử dụng rừng; cơ chế xử phạt, khen thưởng, vay vốn, chia sẻ lợi ích; giám sát…

TS. Phạm Xuân Phương, Viện Quản lý Rừng Bền vững và Chứng chỉ rừng

Thiennhien.net

Advertisements

Cán bộ dành đất do người dân khai hoang?

Theo chủ trương của nhà nước, người dân vào rừng khai hoang, trồng cây, đến khi thu hoạch thì bị cán bộ xã đòi chia phần
Sáng 14-11, Thường trực Tỉnh ủy và chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có buổi tiếp xúc, đối thoại với người dân 2 thôn Trung Mỹ và Kim Thành, xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành về việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn. Động thái này diễn ra sau khi nhiều người dân khiếu nại tập thể lên UBND tỉnh vì cho rằng đất lâm nghiệp của họ đã bị cán bộ địa phương giành.

Tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Đức On, Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Hành, cho biết những năm gần đây, 43 hộ dân ở 2 thôn Trung Mỹ và Kim Thành có nhiều đơn khiếu nại về đất đai gửi đến cơ quan chức năng của tỉnh. Theo đó, những người này yêu cầu chính quyền địa phương cho khai thác cây keo mà họ đã trồng đang tới giai đoạn khai thác, đồng thời đòi lại đất mà họ đã khai hoang sau năm 1975. Người dân cũng nghi ngờ cán bộ xã thu gom đất rừng để thực hiện dự án trồng rừng với một doanh nghiệp nhưng không thông báo cho dân biết.

Tại buổi đối thoại, người dân 2 thôn Trung Mỹ và Kim Thành cho rằng thực hiện chủ trương phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhiều người đã vào rừng khai hoang, trồng cây keo. Khi đó, không ai tranh chấp nhưng đến lúc thu hoạch thì cán bộ xã đương chức và cả nghỉ hưu đến đòi chia phần vì cho rằng đất này là của họ. Theo người dân địa phương, nhiều cán bộ xã được cấp đất rừng trên phần đất mà người dân đã khai hoang. Bà Nguyễn Thị Nhung (thôn Kim Thành) bức xúc: “Trong khi cán bộ xã mỗi người được cấp 30-40 ha đất rừng, vì sao chúng tôi khai hoang lại không được cấp?”.

Ông Nguyễn Đức On cho biết UBND huyện Nghĩa Hành đã tổ chức 2 cuộc đối thoại để giải quyết khiếu nại của người dân. Huyện đã thu hồi 228 ha đất giao không đúng đối tượng trong năm 2002, đồng thời lập phương án giao cho mỗi hộ dân bình quân 1 ha và niêm yết công khai. Tuy nhiên, nhiều hộ không nhận đất theo phương án của địa phương mà đòi lại phần đã khai hoang trước đây.

Tại buổi đối thoại, sau khi nghe ý kiến của người dân, ông Nguyễn Minh, quyền Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, yêu cầu cơ quan chức năng phải xác minh nguồn gốc đất của người dân khai hoang, làm rõ việc có hay không tình trạng cán bộ chia chác đất rừng của người dân. Nếu phát hiện sai phạm, phải xử lý kỷ luật, thu hồi để trả lại đất cho người dân theo đúng pháp luật.

Ông Lê Viết Chữ, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cho biết sau buổi đối thoại, UBND tỉnh sẽ thành lập đoàn thanh tra và giám sát toàn bộ vụ việc. Sau khi có kết quả sẽ giải quyết dứt điểm, không bao che cho những việc làm sai trái, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người dân.

Bài và ảnh: Tử Trực/nld.com

Chưa đề cao vai trò tham vấn của người dân

Chiều tối ngày 14/11, Hội đồng dân tộc của Quốc hội đã phối hợp với Ủy ban Dân tộc tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế – xã hội các dự án tái định cư thủy điện và hiệu quả các chính sách giao đất giao rừng đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả thực hiện hai chính sách tác động chưa tích cực tới đời sống sinh kế của đồng bào dân tộc do còn nhiều khoảng trống chính sách và chưa đề cao vai trò tham vấn của người dân trong việc thực hiện.

Đánh giá tác động kinh tế – xã hội các dự án tái định cư (TĐC) thủy điện đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), nghiên cứu chỉ ra rằng, sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định còn nhiều hạn chế và mang tính hình thức. Mặc dù các văn bản pháp lý hiện hành đều quy định bắt buộc việc thông báo cho các hộ dân trong vùng dự án về kế hoạch xây dựng công trình thủy điện, lộ trình thu hồi đất cũng như các chế độ về hỗ trợ, đền bù. Tuy nhiên, hầu hết các cuộc họp của nhà đầu tư và chính quyền với người dân chỉ mang mục đích thông báo cho các hộ biết, tiếng nói của các hộ dân rất hạn chế. Ngay cả công tác công bố thông tin cũng chưa được thực hiện hiệu quả dẫn đến tình trạng phần lớn các hộ dân, đặc biệt là các hộ DTTS không nắm được vấn đề và chính sách liên quan. Hầu hết các dự án thủy điện đều đảm bảo sự tham gia của người dân vào công tác kiểm đếm và đo đạc phần diện tích đất ruộng, nhà ở, tài sản và hoa màu. Tuy nhiên, quá trình này mới chỉ mang tính hình thức. Bên cạnh đó, các hỗ trợ hậu TĐC phần lớn vẫn mang tính ngắn hạn và ở mức thấp trong khi quá trình ổn định cuộc sống và phục hồi sản xuất lại cần các hỗ trợ dài hạn có thể lên tới 5-10 năm. Số lượng các hỗ trợ cho người dân sau khi di dời tương đối nhiều, nhưng thiếu hiệu quả do không dựa trên nhu cầu thực tế, phong tục tập quán hay kỳ vọng của người hưởng lợi. Các hỗ trợ chuyển đổi nghề hay đa dạng hóa sinh kế cho người dân còn hạn chế. Cùng với đó, quá trình bố trí dân cư không hợp lý đã gây ra một số hệ lụy về vệ sinh môi trường…

Về chính sách giao đất giao rừng (GĐGR), hầu hết các hộ DTTS tại điểm nghiên cứu được hỏi đều chưa hiểu rõ nghĩa vụ, quyền lợi, cơ chế hưởng lợi và các chính sách hỗ trợ GĐGR và cũng không có nhiều thông tin về nguồn quỹ đất hiện có. Số hộ DTTS được GĐGR còn thấp so với nhu cầu và tiến độ chậm. Một số nơi có chú ý DTTS là đối tượng ưu tiên trong chính sách GĐGR nhưng cách thức triển khai trên thực tế là chưa ưu tiên cũng như chưa căn cứ vào nhu cầu, khả năng quản lý, tập quán sinh kế, văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS. Trong giai đoạn đầu GĐGR, chính quyền và tổ chức thường giao cho hộ có điều kiện chi trả chi phí GĐGR, hộ dám nghĩ dám làm, có năng lực trình độ, trong khi phần lớn các hộ DTTS trình độ thấp, năng lực tài chính hạn chế. Bên cạnh đó, người dân chưa được hưởng lợi nhiều từ rừng do đất, rừng giao xấu, nghèo.

Ông Danh Út- Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội: Trong giai đoạn tiếp theo, Quốc hội và Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Luật Dân tộc, chính sách dân tộc để đảm bảo thực hiện tốt tái định cư, giao đất giao rừng. Không chỉ hỗ trợ, bồi hoàn, bồi thường mà sẽ kết hợp nhiều vấn đề khác như phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc.

Lấp khoảng trống chính sách

Nhiều đại biểu tại hội thảo nhận định, các văn bản pháp lý và chính sách về di dân tái định cư đã dần được hoàn thiện, tạo ra khung pháp lý căn bản để triển khai các chương trình dự án tái định cư tốt hơn. Tuy nhiên, các chính sách này vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến đồng bào DTTS. Đặc biệt các văn bản quy định cụ thể cho các dự án thủy điện còn thiếu. Ngoại trừ một số dự án lớn như thủy điện Tuyên Quang với các quyết định cụ thể để quản lý quá trình thu hồi đất và giao đất ở, đất sản xuất cho dân tái định cư, hiện nay các chính sách riêng cho các công trình thủy điện vẫn còn thiếu. Bên cạnh đó, nguyên tắc bồi thường và hỗ trợ quản lý giá đất còn nhiều bất cập. Việc triển khai Nghị định số 69/2009/NĐ- CP còn lúng túng do không có hướng dẫn cụ thể để thực hiện cơ chế bồi thường và hỗ trợ các đối tượng bị thu hồi đất. Cơ chế “chia sẻ lợi ích” được đưa ra với mục tiêu tạo nguồn vốn để phát triển cho địa phươmg, tuy nhiên cơ chế này vẫn chưa được đưa vào luật và các văn bản pháp luật. Do vậy, các quy định liên quan đến chia sẻ lợi ích của các dự án với cộng đồng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống hậu tái định cư cần được cân nhắc để lồng ghép vào các quy định hiện hành. Ngoài ra, các yếu tố phi vật chất hoàn toàn không được đề cập đến trong chính sách đền bù như cơ hội kinh tế, tri thức bản địa,văn hóa hay liên kết thị trường.

Chính sách GĐGR hiện chưa đảm bảo sinh kế cho người dân; sinh kế cơ bản của hộ DTTS không dựa vào rừng. Quỹ đất lâm nghiệp giới hạn, dù lấy toàn bộ đất lâm nghiệp của cả nước chia cho dân số đồng bào DTTS cũng chỉ được khoảng 1,2triệu ha/người, trong khi dân số DTTS tiếp tục tăng. Như vậy GĐGR để đảm bảo phát triển sinh kế chỉ là giải pháp tình thế, ngắn hạn.

Những kiến nghị, đề xuất

Phát biểu kết luận hội thảo, ông Danh Út- Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội nhấn mạnh, nhìn vào phân tích các văn bản trong việc thực hiện chính sách vừa qua thấy rằng, kết quả thực hiện của hai chính sách tác động không mấy tích cực đến đời sống sinh kế của đồng bào DTTS. Trong đó, vấn đề cốt lõi là do tham vấn chưa tốt, vai trò tham gia của người dân trong thực hiện chính sách chưa thực hiện triệt để.

Ông Danh Út cho rằng, đối với TĐC thủy điện: Thứ nhất, cần xem xét, bổ sung chính sách hộ TĐC về thủy điện. Thứ hai, phải có cơ chế tham vấn, phản hồi của người dân trong vấn đề thu hồi đất đai và thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề thủy điện. Thứ ba, các giá trị phi vật thể cần được đưa vào chính sách đặc thù. Thứ tư, cần có quy định liên quan đến chia sẻ lợi ích giữa cộng đồng với Nhà nước, giữa doanh nghiệp và người dân trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách này. Thứ năm, cần đưa ra cơ chế giám sát cụ thể để hỗ trợ chủ trương đầu tư, đảm bảo quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện TĐC thủy điện. Với GĐGR, cần thay đổi nhận thức về hiệu quả sinh kế của chính sách này đối với đồng bào DTTS. Các chính sách này phải phù hợp với đặc tính kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường, năng lực và trình độ phát triển của từng nhóm DTTS. Đồng thời, phải có chính sách phát triển sinh kế đa dạng, dài hạn trong thực hiện GĐGR. Hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu quỹ đất nông lâm nghiệp và rừng để có cơ sở đáng tin cậy cho công tác quy hoạch, sửa đổi và bổ sung chính sách phù hợp.

Châu Long – Diệu Linh/baocongthuong.com

Vì sao người dân Thừa Thiên – Huế không mặn mà bảo vệ rừng?

Tính đến thời điểm này, tỉnh Thừa Thiên- Huế đã bàn giao 14.131ha rừng tự nhiên cho 73 cộng đồng ở các huyện A Lưới, Nam Đông và một số địa phương khác để quản lý và bảo vệ. Tuy nhiên, vì những vướng mắc trong các quy định “giao rừng cho cộng đồng dân cư”; hoặc “giao rừng nhưng lại không giao đất”… nên hiện có rất nhiều hộ dân không còn mặn mà trong công tác giữ rừng như trước…

Được sự hỗ trợ của dự án SNV-FORHUE nên hơn 10 năm về trước, UBND huyện Nam Đông đã tiến hành bàn giao 350ha rừng tự nhiên cho 58 hộ dân ở xã Hương Lộc quản lý và bảo vệ. Thế nhưng, sau hơn một thập niên được nhận rừng thì đến nay, rất nhiều hộ dân ở địa phương này đã bỏ cuộc, không muốn tham gia bảo vệ rừng.

Theo ông La Lạc, một hộ dân ở thôn 3, xã Hương Lộc, được giao 9,6ha rừng, thì một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bà con không còn gắn bó với rừng là do người dân bỏ công sức quá nhiều nhưng hưởng lợi thì… không được bao nhiêu. Ông Lạc dẫn chứng: “Trong gần 10ha rừng được Nhà nước giao cho gia đình tui thì phần lớn đều là rừng nghèo kiệt, chỉ toàn dây leo, bụi rậm. Mặt khác, tui và 29 hộ dân khác trong thôn đã tự tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, chăm sóc rừng suốt 10 năm qua, nhưng không hề nhận được bất cứ sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các cấp chính quyền. Vì thế, 2 năm qua, gia đình tui không hề quay lại thăm cánh rừng được giao để xem cây nó phát triển chừng nào!”.

Tham gia bảo vệ rừng suốt nhiều năm qua nhưng nhiều hộ dân ở vùng cao huyện A Lưới lại không được hưởng lợi từ rừng.-Ảnh Lê Anh
Tham gia bảo vệ rừng suốt nhiều năm qua nhưng nhiều hộ dân ở vùng cao huyện A Lưới lại không được hưởng lợi từ rừng.-Ảnh Lê Anh

Theo ông Mai Yên, Phó Chủ tịch UBND xã Hương Lộc, ngoài chuyện người dân phải nhận chăm sóc, bảo vệ rừng nghèo thì từ năm 2001, địa phương không thể triển khai Quyết định 178 của Chính phủ về “hưởng lợi từ công tác bảo vệ rừng” để hỗ trợ cho người bảo vệ rừng, bởi có quá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, xã muốn tạo điều kiện cho người dân chuyển đổi từ rừng nghèo sang trồng rừng sản xuất, kinh tế; nhưng lại thiếu chủ trương, văn bản hướng dẫn nên rất khó thực hiện…

Bên cạnh đó, từ năm 2010, tỉnh Thừa Thiên- Huế triển khai thực hiện Đề án số 430 về việc giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình và nhóm hộ quản lý. Theo đó, đã có 160 nhóm hộ trên địa bàn tỉnh đã được giao quản lý bảo vệ trên 8.700ha rừng tự nhiên, trong đó, chỉ tính riêng huyện A Lưới đã có 120 nhóm hộ. Thế nhưng, có một nghịch lý là các chủ rừng được bàn giao rừng nhưng lại… không được giao đất. Xin nêu ví dụ điển hình, vào năm 2011, UBND huyện A Lưới đã tổ chức bàn giao cho 5 hộ gia đình và 11 nhóm hộ dân ở xã Sơn Thủy quản lý, bảo vệ 524,4ha rừng tự nhiên, trong đó có 409ha rừng phòng hộ và 114ha rừng sản xuất. Sau 3 năm nhận rừng, ngoài bản Quyết định số 2200/QĐ-UBND của UBND huyện A Lưới (cấp ngày 28/11/2011) về việc giao rừng kèm theo bản đồ, vị trí, diện tích rừng được giao… thì đến nay, các hộ dân vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, mặc dù đã hoàn tất các thủ tục theo yêu cầu…

Sau một thời gian dài đi thực tế khảo sát và nghiên cứu về công tác thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế, ông Lê Văn Lân, Trưởng nhóm tham vấn về Luật bảo vệ rừng, thuộc Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung, Trường Đại học Nông lâm Huế, cho biết: Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người dân không còn tích cực bảo vệ rừng là do các cơ quan chức năng gặp vướng mắc trong khi thực hiện các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. “Có thể nói, sau 10 năm thực hiện, những quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua từ năm 2004 đến nay đã không còn phù hợp với thực tiễn. Cụ thể như tình trạng giao rừng không gắn với giao đất; chưa có chính sách hưởng lợi phù hợp cho người bảo vệ rừng; bất cập trong chính sách đền bù, đổi đất lâm nghiệp do quy hoạch dự án thủy điện… khiến người dân không được hưởng lợi từ việc bảo vệ rừng. Thậm chí, nhiều hộ dân phải bỏ tiền túi để phục vụ công tác tuần tra, giữ rừng… Đây là hiện trạng thực tế cần các cơ quan chức năng vào cuộc xem xét để có biện pháp rà soát, bổ sung lại các chính sách lâm nghiệp. Qua đó giúp người dân yên tâm với việc bảo vệ, quản lý rừng được Nhà nước giao phó”, ông Lân khẳng định.

Lê Anh/CAND Online

Ào ạt xẻ rừng đào cao lanh

TP – Liên tục trong thời gian dài, những khoảnh rừng ở Nam Giang (Quảng Nam) bị tư nhân bạt xẻ tan hoang với mục đích tìm múc đất, cao lanh mà chính quyền địa phương vẫn bình chân như vại.

Nhận được tin báo của người dân thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang), PV Tiền Phong đã tìm đến tận nơi, chứng kiến khung cảnh rừng đầu nguồn bị chặt phá chỉ cách thị trấn chưa đầy 3km…

Rừng tan hoang: chuyện nhỏ (?)

Từ Đại Lộc đi lên thị trấn Thạnh Mỹ, cách khoảng 5km, chúng tôi bắt gặp một chiếc xe tải DongFeng màu vàng, gắn chữ TS trước kính, chở đất che bạt chạy rầm rập về xuôi. “Đó là xe chở đất, cao lanh của một đơn vị tư nhân lên bạt rừng khai thác trái phép ở Nam Giang” – một người dẫn đường cho biết.

Cách thị trấn Thạnh Mỹ chừng 3km, trên đường Hồ Chí Minh đi về hướng Đông Giang, đứng bên lề đường quan sát, có thể thấy một khoảnh rừng lớn bị xé tan hoang. Tiếng máy xúc rì rầm cả một góc rừng. Con đường mới mở lầy lội, dốc dựng đứng như oằn lên bởi xe DongFeng nới thùng chở đầy đất. Vào tận sâu trong hiện trường mới chứng kiến hết thực tế rừng bị phá nhiều đến mức kinh hoàng bởi đội quân khai thác đất tìm cao lanh. Cây cối bị đốn hạ thành đồi trọc, tầng phủ bị bóc, từng lớp đất sét được 2 xe múc liên tục đổ lên xe DongFeng. Nơi đây là rừng phòng hộ, một số là rẫy sản xuất của dân, hầu như đã bị bóc dỡ. Có nơi hố sâu hơn chục mét. Hiện trạng rừng đã thay đổi. Gần chục nhân công tập trung làm việc. Không khí khẩn trương. Tận mắt chứng kiến hiện trường cũng như theo nguồn tin của Tiền Phong, đội quân này đã khai thác đất ở đây được gần 1 năm.

Khi chúng tôi đi qua con đường độc đạo vào hiện trường chụp ảnh, quay phim và bị một “chim lợn” (đối tượng canh gác lực lượng chức năng) ngồi ngoài bìa rừng phát hiện, mọi hoạt động mới dừng hẳn lại. Một thanh niên dân tộc Cơ Tu phi xe máy vội vàng từ ngoài vào nói: “Mấy anh ở đâu? Bọn tui làm thuê cho anh Hùng, có chi đâu mà quay phim chụp ảnh?”. Tuy nhiên, khi PV hỏi anh làm cho Hùng nào thì thanh niên này không trả lời, rút điện thoại gọi tới tấp. Trước khi vội vàng lên xe chạy, anh ta ngoái lại: “Để em nói sếp nói chuyện với mấy anh, em chỉ làm thuê”.

Chủ tịch huyện Nam Giang Alăng Mai có vẻ không bất ngờ khi chúng tôi đề cập đến chuyện này: Họ làm trái phép đó, quản khó lắm. Sắp tới chúng tôi sẽ lập đoàn liên ngành truy quét, dứt điểm chuyện này. Vị chủ tịch huyện này cho rằng, đây là “chuyện nhỏ” nên các nhà báo có việc gì cứ gặp phó chủ tịch hoặc ban ngành huyện sẽ nắm kỹ hơn. “Họ tự thỏa thuận với dân rồi mua đất, đưa máy vào múc trộm” – ông Alăng Mai nói.

Siêu lợi nhuận, mua chuộc phóng viên

Theo tìm hiểu của chúng tôi, những ngày nắng bình thường, đội quân khai thác đất, cao lanh trái phép này xúc đi hàng ngàn khối đất, bán cho nhà máy gạch ở Đại Lộc, thu về siêu lợi nhuận. Theo tính toán, một xe DongFeng bình thường chở 15 khối đất, khi cơi nới có thể chở lên đến 18 – 20 khối.

Mỗi khối đất bán tại nhà máy trên dưới 150 ngàn đồng. Nếu là cao lanh giá còn cao hơn. Như vậy mỗi chuyến xe thu về gần 2 triệu đồng, mỗi xe chạy khoảng 15 lượt/ngày đêm. Mỗi ngày, có hàng trăm lượt xe chở đất từ Nam Giang xuống Đại Lộc. “Các anh thử tính, khai thác trái phép, không phải nộp thuế, mỗi tháng họ thu về hàng tỷ đồng ngon ơ” – người dẫn đường khẳng định.

Trở lại với chuyến thực tế vào hiện trường, khi chúng tôi vừa ra khỏi rừng thì nhận được điện thoại của một người xưng là Nguyễn Thành Trung, đề nghị gặp phóng viên để “nói chuyện, mong mấy anh nghiên cứu giúp đỡ”. Nguyễn Thành Trung chính là người đứng đầu tổ chức khai thác đất trái phép. Anh ta cũng chính là giám đốc Cty TNHH Thành Trung (nay đã giải thể) liên quan đến vụ lùm xùm quản lý đất đai ở huyện Đại Lộc. Hiện ông Bùi Đức Lợi (nguyên Trưởng phòng TN-MT huyện, đã bị kỷ luật cách chức) đã gửi đơn kiện UBND huyện Đại Lộc ra tòa.

Năm 2011, trong loạt bài viết về nạn khai thác than ở mỏ An Điềm (Đại Hưng) trên Tiền Phong, nhân vật T. chúng tôi nhắc trong bài viết về việc “bảo kê”, khai thác trái phép sau đấu giá than trên mỏ chính là Nguyễn Thành Trung. Trung về tận Hòa Vang để tìm gặp chúng tôi. Ngoài việc đề nghị, xin được “mấy anh nghiên cứu giúp đỡ”, Trung ngỏ ý muốn phóng viên nhận quà và bỏ qua sự việc. Tuy nhiên, chúng tôi đã từ chối.

Vì sao những khoảnh rừng ở Nam Giang tan hoang, vì sao gần 1 năm trời tư nhân xẻ núi lộ thiên lấy đất, tìm cao lanh, chở rầm rập về miền xuôi mà chính quyền địa phương dù biết trái phép vẫn làm ngơ?
Theo tính toán, một xe DongFeng bình thường chở 15 khối đất, khi cơi nới có thể chở lên đến 18 – 20 khối. Mỗi khối đất bán tại nhà máy trên dưới 150 ngàn đồng. Nếu là cao lanh giá còn cao hơn. Như vậy mỗi chuyến xe thu về gần 2 triệu đồng, mỗi xe chạy khoảng 15 lượt/ngày đêm.

Nam Cường/tienphong.vn