Monthly Archives: Tháng Một 2015

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020

2 Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020. Mục tiêu của Đề án là nâng tổng diện tích rừng ven biển đến năm 2020 lên 356.753 ha, độ che phủ rừng ven biển lên 19,5%.

Mục tiêu chung của Đề án là phát huy chức năng phòng hộ của rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ hệ thống đê biển, cơ sở hạ tầng, bảo tồn đa dạng sinh học; góp phần phát triển kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh quốc gia.
Cụ thể, Đề án đặt mục tiêu bảo vệ diện tích rừng ven biển hiện có 310.695 ha; trồng mới 46.058 ha, nâng tổng diện tích rừng ven biển đến năm 2020 lên 356.753 ha và độ che phủ rừng ven biển từ 16,9% (năm 2014) lên 19,5% vào năm 2020.
Để đạt được mục tiêu trên, Đề án sẽ thực hiện 5 giải pháp về: đất đai; đầu tư; khoa học và công nghệ; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao năng lực; hoàn thiện cơ chế chính sách.
Trong đó, sẽ rà soát, thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng trái phép diện tích thuộc hành lang an toàn bảo vệ đê biển hoặc diện tích đất đã giao thuộc quy hoạch phát triển lâm nghiệp nhưng sử dụng không đúng mục đích để trồng lại rừng.
Cùng với đó là đẩy mạnh việc giao, khoán bảo vệ rừng cho các thành phần kinh tế, cộng đồng và các hộ gia đình để bảo vệ và phát triển rừng ven biển; khuyến khích các hình thức liên kết với dân để phát triển rừng như thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để trồng rừng ven biển theo quy hoạch kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, nông lâm kết hợp, du lịch sinh thái…

Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/

Rừng nguyên sinh Tây Yên Tử sắp… tử

Một thân cây vừa bị chặt hạ.

Một thân cây vừa bị chặt hạ.

Nhiều khu rừng nguyên sinh nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (nằm trên địa bàn xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang) đang bị lâm tặc chặt phá nghiêm trọng, một số cánh rừng đã tan hoang. Sự việc trên diễn ra trong một thời gian dài nhưng các lực lượng chức năng vẫn chưa có biện pháp giải quyết triệt để.

Theo dấu chân lâm tặc
Rừng nguyên sinh Khe Rỗ có diện tích 7.100ha, là khu rừng quan trọng nhất của khu bảo tồn Tây Yên Tử (rộng 16.400ha). Trong rừng, hiện vẫn còn nhiều loại động thực vật quý hiếm như gấu, sơn dương, báo,.. lim, lát, sến, trầm hương…
Chúng tôi được anh Nông Văn K – người dân tộc Tày – dẫn đường lên rừng Khe Rỗ. Hiện tại, các địa danh của rừng Khe Rỗ như Khau O, Khau Chon, Khau Mu – theo như anh lời K nói – thì “lâm tặc chúng chặt hết cây gỗ to rồi, phá ác lắm, vài năm nữa đến cây con cũng bị chặt hết thôi”.
Chúng tôi chọn con đường mòn ven suối để lên khu Khau Chon – nơi vẫn còn giữ được vẻ đẹp tự nhiên đặc trưng vốn có của rừng Khe Rỗ với nhiều cây gỗ lim nguyên sinh cao lớn. Đi một đoạn, chúng tôi gặp một thân cây lim vừa bị chặt hạ với nhiều mùn cưa còn vương vãi trên mặt đất, từ lớp gỗ mới tỏa ra mùi thơm của nhựa cây. Sau khi “viếng thăm” vài thân cây đã bị “khai tử”, chúng tôi quyết định chuyển sang khu Khau Mu – một khu rừng bị lâm tặc tàn phá dữ dội nhất. Để lên được Khau Mu, chúng tôi buộc phải đi vòng qua thôn Nà Ó, xã An Lạc.
Mới đến đầu bìa rừng, chúng tôi bắt gặp hơn chục xe máy, xe đạp để bên một gốc cây cổ thụ. Anh K cho biết: “Xe của đám phá rừng đó, hôm nay chủ nhật nên chúng tranh thủ làm mạnh, cẩn thận khi chụp ảnh kẻo bị phát hiện”. Đi một đoạn đường rừng, chúng tôi gặp một thân cây lim vừa bị chặt hạ, gỗ đã bị xẻ ra làm ván, lâm tặc chỉ lấy phần thân sát gốc, phần thân giáp ngọn bị để lại. Khi tôi đang lúi húi quay phim chụp hình, anh K ra tín hiệu thông báo có người đến gần. Một nhóm 4 – 5 người mang theo cơm, nước, hai tay không một tấc sắt tiến lại, họ nói lên rừng tìm ong mật đem về nuôi. Qua lời anh K, tôi mới biết, đó chính là một đám lâm tặc, toàn bộ dao, rìu, cưa tay đã được họ cất giấu trong rừng, khi lên đến nơi mới lấy ra để đốn gỗ.
Khi nhóm lâm tặc vừa đi, chúng tôi lại thấy xuất hiện một nhóm 6 người khác, tay cầm bao tải quấn quanh một vật gì đó vác trên vai. Anh K nói nhỏ: “Họ dùng bao tải quấn lấy dao, búa, rìu, cưa tay để qua mặt kiểm lâm, nếu bị phát hiện, tịch thu, họ sẽ mua cái khác. Đi đêm, họ mới dùng đến cưa máy”.
Con đường mòn dẫn vào rừng Khau Mu nhẵn bóng vết chân trâu kéo gỗ, rồi những vết gỗ vuông vắn in sâu vào lòng đất. Bên đường, thỉnh thoảng, chúng tôi lại bắt gặp một thân cây gỗ nhỏ bị chặt ngang lưng, tóe nhựa sống. Những cây gỗ này sẽ được dùng làm đòn tay, đòn bẩy, đường ray chuyển gỗ ra bìa rừng hoặc cũng có khi lâm tặc thấy “chướng tai, gai mắt” vung búa “khai tử” bừa.

Gỗ rừng sẽ trở thành… rơm
Trên đỉnh Khau Mu, hiện tượng lâm tặc phá rừng diễn ra khá gay gắt, những cây gỗ có giá trị kinh tế lớn đã bị chặt hạ gần như không còn. Nhìn những thân cây bị “khai tử” một cách vô tội vạ, chúng tôi hết sức đau lòng. Khi đốn hạ một thân cây, lâm tặc chỉ chọn lấy đoạn gỗ có giá trị kinh tế cao nhất cho… đỡ mất công mang vác. Nhiều khi xảy ra trường hợp, lúc chọn cây để chặt tưởng nhầm chất gỗ còn tốt, nhưng khi hạ xuống thấy không vừa ý, lâm tặc sẽ để lại, mặc cho thời gian vùi dập.
Một cây gỗ đủ tiêu chuẩn bao gồm các yếu tố: Đẹp, thẳng, không bị côn trùng đục thân, gỗ bên trong không bị nứt… Nếu không đạt các tiêu chuẩn trên, gỗ cho dù đã được đẽo gọt vẫn bị bỏ lại trong rừng. Tuy nhiên, một thân cây gỗ cho dù có đạt tiêu chuẩn bao nhiêu đi chăng nữa, lâm tặc cũng chỉ chọn lấy phần gỗ sát gốc cứng rắn dài 2 – 3m, phần gỗ giáp ngọn cây sẽ bị bỏ lại. Thậm chí, để tránh “đau lưng mỏi gối”, lâm tặc không cúi thấp người chặt sát gốc cây mà đứng thẳng, vung búa chặt vào khoảng giữa thân cây cách mặt đất từ 80cm đến gần 1m. Lâm tặc đi rồi sẽ để lại một gốc cây sừng sừng giữa rừng.
Nếu chọn được một thân cây gỗ ưng ý đám lâm tặc sẽ dùng cưa, rìu chặt hạ. Cả một thân cây dài hơn chục mét, nhiều khi khúc gỗ lâm tặc ưng ý chỉ dài 60 – 80 cm. Đoạn gỗ trên sẽ được đẽo gọt loại bỏ toàn bộ phần gỗ mềm bên ngoài cho dễ vận chuyển.

Đường đi của gỗ
Những cây gỗ tốt như lim, sến có chiều dài 3 – 4m sẽ được giữ nguyên, chỉ đẽo gọt bớt phần vỏ gỗ bên ngoài. Những cây gỗ như trên khá nặng, cần phải huy động nhiều người hoặc dùng thêm sức trâu để kéo. Khi đã ra khỏi rừng, giá gỗ sẽ lên đến hàng chục triệu đồng khi bán cho con buôn.
Để thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ ra khỏi rừng, lâm tặc thực hiện chiêu bài sẻ gỗ ra làm nhiều đoạn. Một khúc gỗ nếu cắt ngắn hơn 3m được sẻ thành ván gỗ ngay trong rừng, những khúc gỗ ngắn hơn được sẻ làm con tiện, khung cửa sổ. Những cây gỗ to, ván lớn được vận chuyển trong đêm, những loại gỗ nhỏ như con tiện, khung cửa sổ sẽ được bịt hai đầu bằng bao bì rồi cho lên xe máy chở về giữa ban ngày. Một đôi tấm ván làm cửa, vai giường gỗ loại tốt có giá không dưới 1 triệu đồng.
Gỗ khai thác bên Khau Chon, để tránh bị kiểm lâm phát hiện, sẽ được vận chuyển qua Khau Mu, rồi chuyển dần xuống các hộ dân ven rừng thuộc thôn Nà Ó. Gỗ rừng được tập kết tại các địa điểm trong thôn Nà Ó và được các đầu nậu chuyển qua các thôn Biểng, Cò Noọc, Đồng Bây, Đồng Bài, Đồng Dương… Khi đã về các thôn, số gỗ trên trở thành gỗ hợp pháp, được chế tác thành giường cột, kèo, xà nhà, tủ, khung cửa sổ… với giá trị kinh tế cao.

Kiểm lâm: Biết cũng không làm được gì
Nhằm tăng cường việc bảo vệ rừng nguyên sinh Khe Rỗ, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử đã thành lập tổ bảo vệ rừng xã An Lạc đặt trạm gác ngay tại khu Khau Chon. Việc tuyển chọn nhân sự được giao cho UBND xã, ban quản lý cấp kinh phí hoạt động cho tổ bảo vệ rừng. Để thuận lợi cho việc tuần tra canh gác rừng, lực lượng bảo vệ được tuyển chọn ngay từ chính những người dân trong xã An Lạc vốn thông thạo mọi ngõ ngách trong rừng. Tuy nhiên, chính việc tuyển chọn lực lượng bảo vệ rừng từ người dân trong xã đã bộc lộ ra nhiều hạn chế. Người bảo vệ, kẻ phá rừng cùng sinh ra, lớn lên trên một mảnh đất – vốn đã quen biết nhau từ thuở ấu thơ – sẽ nảy sinh tâm lý cả nể lẫn nhau, gây khó khăn cho việc trông coi, bảo vệ rừng.
Tổ bảo vệ rừng xã An Lạc không nằm trong biên chế thuộc lực lượng kiểm lâm chính quy, tất cả đều hợp đồng thời vụ theo năm nên không có sự ràng buộc. Theo đó, 17 người trong tổ bảo vệ đảm nhận trông coi 2.162ha rừng với mức kinh phí được nhận là 100.000 đồng/1ha rừng/năm; nếu chia bình quân, mỗi người chỉ đạt mức thu nhập chưa đến 2 triệu đồng/tháng.
Bên cạnh việc thành lập tổ bảo vệ rừng trong khu Khau Chon, ban quản lý đã lập trạm kiểm lâm Biểng ngay lối vào xã An Lạc. Trước hiện trạng trên, dư luận đặt ra câu hỏi: “Trạm kiểm lâm nằm ngay lối vào xã, muốn tẩu tán gỗ ra ngoài buộc phải qua trạm kiểm lâm này. Vậy gỗ rừng lọt ra bằng cách nào?”. Hiện tại trạm kiểm lâm Biểng có 4 người trong đó có 3 biên chế, 1 hợp đồng đảm nhận việc trông coi toàn bộ khu Khau Mu và một phần khu Khau Chon – tính ra vẫn mỏng và yếu trong việc quản lý bảo vệ hàng ngàn hécta rừng Khe Rỗ. Hơn nữa các đối tượng khai thác gỗ thường lợi dụng lúc kiểm lâm đi tuần tra để lủi vào rừng chạy trốn nên việc truy quét là hết sức khó khăn. Khi kiểm lâm đến cửa rừng, sẽ có “gián điệp” gọi điện báo tin cho các đối tượng phá gỗ trong rừng biết phương hướng đối phó.

Ông Phạm Bằng Giang – Phó trưởng Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử – cho biết: “Chúng tôi đã tăng cường lực lượng nhằm ngăn chặn việc phá rừng. Cách đây không lâu đã lập biên bản xử phạt và thu hồi 3 cưa máy. Trong thời gian tới, ban quản lý sẽ kiên quyết xử lý những trường hợp cố tình vi phạm”. Ông Giang cho biết thêm: “Trạm kiểm lâm Biểng chỉ là trạm của rừng, không phải trạm kiểm soát, nên trong trường hợp bình thường không thể dừng các phương tiện vận tải để kiểm tra việc vận chuyển gỗ, chỉ khi có thông tin báo về thì mới được phép dừng xe kiểm tra”.

Lô Giang/laodong.com.vn

Hoạt động “Xây dựng Mô hình Quản trị rừng bền vững – SFM dựa vào cộng đồng” tại thôn Tân Hối, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

Một trong những chiến lược của Liên minh Châu Âu (EU) đưa ra trong chương trình FLEGT là hỗ trợ các hoạt động nhằm cải thiện sinh kế cho cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và giảm tình trạng khai thác gỗ trái phép, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý rừng tại các địa phương. Tuy nhiên, hiện trạng quản trị rừng ở Việt Nam đặc biệt ở khu vực miền Trung còn rất hạn chế, người dân địa phương còn thiếu kỹ thuật, chiến lược để xây dựng và phát triển kinh tế từ tài nguyên rừng và đất rừng.
Nhằm cải thiện và nâng cao năng lực cho cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng, Dự án FLEGT khu vực miền Trung phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) và Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành xây dựng thí điểm 01 “Mô hình Quản trị rừng bền vững – SFM” dựa vào cộng đồng tại xã Hồng Bắc, huyện A Lưới – Tỉnh Thừa Thiên Huế.
Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương xã Hồng Bắc và Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới, vào ngày 08/01/201, Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM) triển khai Hội thảo Lập kế hoạch “Xây dựng Mô hình Quản trị rừng bền vững dựa vào cộng đồng” nhằm hỗ trợ cộng đồng xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, quy chế hoạt động và kế hoạch phát triển sinh kế dựa vào tài nguyên rừng với sự tham gia của hơn 15 thành viên chủ chốt của 2 nhóm cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng tại thôn Tân Hối, xã Hồng Bắc.
Nhóm cộng đồng quản trị rừng thôn Tân Hối, xã Hồng Bắc với 100% là người dân tộc Pacô, thu nhập chủ yếu của người dân phụ thuộc vào rừng và sản xuất nông nghiệp. Năm 2011, UBND huyện A Lưới, UBND xã Hồng Bắc và Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới đã tiến hành giao cho cộng đồng thôn Tân Hối quản lý và bảo vệ diện tích hơn 157ha rừng, nhưng đa số diện tích rừng được giao ở trạng thái rừng nghèo. Với nỗ lực của cộng đồng thôn kết hợp với chính quyền xã và Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới nhóm đã thành lập ban quản lý với 29 hộ tham gia và chia ra 2 nhóm làm công tác tuần tra bảo vệ rừng. Theo đánh giá sơ bộ của Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới, cộng đồng thôn Tân Hối đã làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, các thành viên trong nhóm đã ý thức được những lợi ích từ rừng mang lại cho người dân trong thôn. Để thực hiện hoạt động quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả tại địa phương, cần có sự hỗ trợ về kỹ thuật và hướng dẫn chỉ đạo, phương pháp thực hiện của các cơ quan ban ngành chức năng có liên quan để giúp người dân làm tốt công tác tuần tra bảo vệ rừng và phát triển sinh kế.
Mục tiêu của hoạt động xây dựng mô hình nhằm: (1) Cung cấp các thông tin về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng nhằm giải quyết các trường hợp xâm lấn, khai thác rừng thuộc phạm vị quản lý của cộng đồng;(2) Cung cấp thông tin, cơ sở để hướng dẫn người dân lập, thiết kế và thực hiện kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng, thiết lập và xây dựng quỹ bảo vệ rừng cộng đồng và (3) Cung cấp kỹ năng và kiến thức cho quản lý bảo vệ, xây dựng, làm giàu rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý. Hỗ trợ người dân trong việc phát triển kinh tế dựa vào rừng thông qua hoạt động sinh kế như (trồng trọt, chăn nuôi, nông lâm kết hợp).

Hình 1: TS. Trần Nam Thắng – Phó Giám đốc Trung tâm CORENARM  Giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của hoạt động xây dựng mô hình

Hình 1: TS. Trần Nam Thắng – Phó Giám đốc Trung tâm CORENARM
Giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của hoạt động xây dựng mô hình

Phát biểu tại buổi làm việc với các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương, TS. Trần Nam Thắng – Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM) đã giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của hoạt động xây dựng mô hình giai đoạn 2014-2017 thông qua các nội dung: Thống nhất cách tổ chức thực hiện và phối hợp với các cơ quan liên quan; Chọn lựa mô hình dựa trên các tiêu chí; Tiến hành khảo sát thực địa tại địa phương; Điều tra hiện trạng kinh tế xã hội để xác định nhu cầu hỗ trợ; Xây dựng qui chế và kế hoạch hoạt động của mô hình; Xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng; Các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực; Xây dựng mô hình sinh kế cộng đồng; Tính bền vững của mô hình (PES, REDD+, Du lịch sinh thái, …) và chia sẻ bài học kinh nghiệm về quản trị rừng cộng đồng hiệu quả,….và kế hoạch duy trì các hoạt động sinh kế sau khi kết thúc dự án.
Thông qua hoạt động triển khai xây dựng kế hoạch quản lý bền vững, Ông Trần Đình Thiện – Phó Hạt trưởng Hạt kiểm Lâm huyện A Lưới đã giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và hỗ trợ người dân lập kế hoạch quản lý bảo vệ rừng hàng năm và 5 năm cho cộng đồng, đồng thời thống nhất lại ranh giới rừng được giao thông qua bản đồ giao rừng, phân chia lô khoảnh và mục đích sử dụng của từng diện tích.

Hình 2: Ông Trần Đình Thiện – Phó Hạt trưởng Hạt kiểm Lâm huyện A Lưới  Giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và hỗ trợ người dân lập kế hoạch  quản lý bảo vệ rừng hàng năm và 5 năm

Hình 2: Ông Trần Đình Thiện – Phó Hạt trưởng Hạt kiểm Lâm huyện A Lưới
Giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và hỗ trợ người dân lập kế hoạch
quản lý bảo vệ rừng hàng năm và 5 năm

Bên cạnh mục đích nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng bền vững, Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung còn hỗ trợ cộng đồng, người dân phát triển sinh kế thông qua xây dựng nguồn quỹ bảo vệ phát triển rừng. Để quản lý quỹ một cách hiệu quả, bền vững và hỗ trợ tối đa phát triển sinh kế cho cộng đồng, Ông Nguyễn Văn Hoàng – Trung tâm CORENARM đã giới thiệu phương pháp xây dựng quy chế quản lý và sử dụng quỹ và các quy ước liên quan khác trong cộng đồng cũng như cách thức sử dụng nguồn quỹ hợp lý.

Hình 3: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Trung tâm CORENARM  Giới thiệu phương pháp xây dựng quy chế quản lý và sử dụng quỹ

Hình 3: Ông Nguyễn Văn Hoàng – Trung tâm CORENARM
Giới thiệu phương pháp xây dựng quy chế quản lý và sử dụng quỹ

Kết thúc ngày làm việc, hai nhóm cộng đồng đã xây dựng được kế hoạch quản lý bảo vệ rừng hàng năm, 05 năm và quy chế quản lý sử dụng nguồn quỹ bảo vệ phát triển rừng. Bản kế hoạch và quy chế sẽ được lãnh đạo cấp xã và huyện phê duyệt và thông qua cho cộng đồng trước khi triển khai các hoạt động tiếp theo của mô hình trong thời gian tới.

Dự án FLEGT

Phá rừng “kiểu mới”

Đi đọc trên quốc lộ 14D, đoạn từ xã Ta Bhing lên xã biên giới La Dêê (Nam Giang) trong những ngày đầu năm, dễ dàng bắt gặp cảnh khai thác, vận chuyển khối lượng lớn củi rừng, hoặc gỗ quý đường kính lớn cưa thành lát nhỏ. Phương tiện vận chuyển chính bằng thuyền máy hoặc ô tô tải. Bằng thủ đoạn triệt hạ cây rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, đối tượng đã chẻ nhỏ bán lấy củi, gặp gỗ quý thì cắt thành khúc phục vụ cho sản xuất, gia công đồ thủ công mỹ nghệ. Với hình thức khai thác rừng đơn giản này, các đối tượng hầu như không sợ kiểm tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm.

Gỗ quý cắt thành khúc nhỏ tập kết dưới lòng hồ thủy điện Sông Bung 4.

Gỗ quý cắt thành khúc nhỏ tập kết dưới lòng hồ thủy điện Sông Bung 4.

Người dân địa phương tiết lộ, vào thời điểm trước Tết Nguyên đán, một khối củi rừng bán hơn 1 triệu đồng, trong khi những khúc gỗ quý dài hơn 0,5m thì được tiêu thụ cho các cơ sở sản xuất đồ mộc ở trong tỉnh. Tình trạng lấy củi, gỗ rừng bắt đầu rầm rộ từ hơn 4 tháng nay khi thủy điện Sông Bung 4 tích nước. Nhiều đối tượng khai thác củi từ cành, ngọn cây rừng tận thu trong khu vực lòng hồ, nhưng cũng có không ít trường hợp lén lút triệt hạ thêm rừng. Ông Nguyễn Trí – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh cho biết, lực lượng kiểm lâm không thể xử lý những trường hợp chở củi được do các quy định pháp luật hiện hành không cho phép, ngoại trừ bắt quả tang họ phá rừng. Tuy vậy, theo chúng tôi, tình trạng gỗ cưa thành khúc nhỏ nằm lăn lóc trên đường, dưới sông, tập kết với khối lượng lớn là một “chiêu bài” lách luật về quản lý, bảo vệ lâm sản nên cán bộ kiểm lâm cần vào cuộc truy nguyên nguồn gốc xuất xứ gỗ, tránh tình trạng lợi dụng tận thu cành, ngọn trong ranh giới cho phép để… phá rừng.

Phóng sự ảnh: Trần Hữu/baoquangnam.com

Dùng thuyền chở củi.

Dùng thuyền chở củi.

Dọc bờ lòng hồ thủy điện Sông Bung 4, vô số những bến tập kết củi như thế này.

Dọc bờ lòng hồ thủy điện Sông Bung 4, vô số những bến tập kết củi như thế này.

Nhiều ngôi nhà ở xã Chà Vàl (Nam Giang) dọc quốc lộ 14D cất giấu gỗ trái phép.

Nhiều ngôi nhà ở xã Chà Vàl (Nam Giang) dọc quốc lộ 14D cất giấu gỗ trái phép.

Gỗ quý cưa thành đoạn dài hơn 0,5m nằm lăn lóc trên quốc lộ 14D.

Gỗ quý cưa thành đoạn dài hơn 0,5m nằm lăn lóc trên quốc lộ 14D.

Ngang nhiên chặt phá rừng phòng hộ

Cây rừng bị đốn hạ, cưa thành khúc chuẩn bị đưa đi tiêu thụ.

Cây rừng bị đốn hạ, cưa thành khúc chuẩn bị đưa đi tiêu thụ.

Trên địa bàn xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị), hàng chục ha rừng phòng hộ đã bị đốn hạ để trồng mới rừng sản xuất. Điều đáng nói là việc chặt phá rừng diễn ra công khai giữa ban ngày, nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa giải quyết dứt điểm.
Từ ngã tư Khe Cau (trên tuyến đường Hồ Chí Minh) đi dọc con đường mòn vào sâu khoảng bảy km là địa bàn xã Vĩnh Hà, nơi có hàng trăm ha rừng phòng hộ xanh tốt chắn gió, chắn bão được trồng từ nhiều năm nay. Bên cạnh những cánh rừng phòng hộ lâu năm, rừng tự nhiên, rừng trồng keo lai khoảng ba đến bốn năm tuổi là rừng cây hai tháng tuổi lớm chớm xanh… Đây là những cánh rừng vừa mới trồng thay thế cho rừng phòng hộ đã bị chặt phá.
Ông Hồ Nam, người dân địa phương dẫn đường đưa chúng tôi tiếp cận những cánh rừng cho biết: Nơi đây vốn là rừng phòng hộ rộng hàng chục ha nhưng vừa qua đã bị một số người chặt phá; xe công nông, xe bán tải, xe kéo vào vận chuyển gỗ đưa ra khỏi địa bàn. Số cây lớn họ chở đi tiêu thụ, cành, ngọn họ chất thành đống rồi đốt. Sau khi đốn hạ hết số cây rừng nhiều năm tuổi, những người này đã cho san ủi, đào đất và trồng mới rừng sản xuất, chủ yếu là cây tràm đen và keo lai…
Tại đây, chúng tôi nhìn thấy nhiều gốc cây to chưa được đưa lên khỏi mặt đất, đang nằm đan xen với cây trồng mới; gỗ rừng trồng được cưa xẻ tập kết ở nhiều nơi, tại bìa rừng, ven các con đường mòn… Ông Nam cho biết thêm: Khu vực rừng bị chặt trụi nằm cách Trạm Kiểm lâm Bến Quan (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh) gần 10 km. Những năm qua, một số hộ dân ở huyện Vĩnh Linh phản ánh đến cơ quan chức năng về việc một số người phá rừng tùy tiện để trồng rừng mới. Tuy nhiên, vụ việc đã không được cơ quan chức năng giải quyết một cách dứt điểm dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy chặt phá rừng vẫn tiếp diễn…
Chúng tôi được biết, vừa qua, UBND huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh đã vào hiện trường để kiểm tra thực địa nhưng vẫn chưa xác định được vị trí rừng bị chặt phá và chủ những cánh rừng là đơn vị, cá nhân nào. Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà Võ Văn Sanh cho biết, khi nhận được thông tin có người phá rừng, cán bộ xã vào kiểm tra nhưng không thấy ai, khi mình ra thì họ lại vào chặt phá…
Còn theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh: Việc rừng phòng hộ ở đây bị chặt phá là có. Tuy nhiên, rừng bị chặt phá là của ai thì đang được làm rõ, vì lực lượng kiểm lâm chỉ quản lý, bảo vệ một số khu rừng trọng yếu. Còn lại rừng được giao cho đơn vị nào làm chủ sở hữu thì đơn vị đó có trách nhiệm quản lý và bảo vệ, Hạt Kiểm lâm không quản lý nổi…
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có nhiều đơn vị quản lý rừng như: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải, Ban Quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải, xã Vĩnh Hà, Làng thanh niên lập nghiệp tây Vĩnh Linh… Song việc cắm mốc để phân định chủ rừng và loại rừng tại khu vực chưa hề được thực hiện nên khi xảy ra phá rừng khó xác định được ai là chủ rừng…
Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh Trần Hữu Hùng cho biết: Sau khi có thông tin, UBND huyện Vĩnh Linh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, báo cáo UBND huyện để có biện pháp xử lý. Theo đó, buộc các tổ chức, cá nhân chặt phá rừng phải trồng lại cây bản địa để bảo đảm chức năng phòng hộ chứ không trồng rừng sản xuất.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Hai/nhandan.com.vn

Thả nổi thuê đất rừng!

Xã Đạ Sar của huyện Lạc Dương là một trong những trọng điểm phá rừng ở tỉnh Lâm Đồng. Trên địa bàn xã Đạ Sar, có đến vài chục doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng đến thuê đất rừng để kinh doanh nông – lâm nghiệp. Hàng ngàn hécta rừng trên địa bàn xã Đạ Sar đã được huyện Lạc Dương và tỉnh Lâm Đồng cho các doanh nghiệp này thuê.

Hằng năm, ở cấp huyện, Lạc Dương cũng như các địa phương khác, cả

Ảnh Báo Lao Động

năm chỉ có một lần tổ chức một hội nghị tổng kết công tác quản lý rừng và phòng, chống cháy rừng. Mới đây, UBND huyện Lạc Dương đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng năm 2014 tại thị trấn Lạc Dương với sự tham gia đầy đủ của lãnh đạo huyện, lãnh đạo các phòng ban liên quan, lãnh đạo chính quyền và đại diện một số doanh nghiệp thuê đất thuê rừng để kinh doanh.

Điều “lạ” rất đáng quan tâm ở đây là: Đại diện UBND xã Đạ Sar cùng 23 doanh nghiệp thuê đất thuê rừng trên địa bàn xã Đạ Sar đã vắng mặt, khiến cho nhiều đại biểu tham dự hội nghị… ngỡ ngàng. Trước việc vắng mặt khá “khó hiểu” nói trên, UBND huyện Lạc Dương đã nghiêm khắc phê bình UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp và nhấn mạnh: “Trong thời gian tới, khi để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên diện tích quản lý, UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước UBND huyện Lạc Dương”.

Việc “phải chịu trách nhiệm” này là không sai; nhưng đâu phải đợi đến khi xảy ra “sự vắng mặt khó hiểu” này và đâu chỉ là “trong thời gian tới” thì UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp mới chịu trách nhiệm trước UBND huyện Lạc Dương? Vậy nên, yêu cầu mà UBND huyện Lạc Dương đưa ra sau đó là “UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng nêu trên nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm” xem ra chỉ là mệnh lệnh… suông.

baomoi.com

Chương trình truyền thông thay đổi hành vi (BCC) về FLEGT tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nhằm nâng cao nhận thức thông qua hoạt động giáo dục truyền thông về VPA-FLEGT tại cộng đồng địa phương, ngày 07/01/2015, Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung phối hợp với Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD) tổ chức chương trình truyền thông thay đổi hành vi về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) với 34 tham dự viên đến từ cơ quan kiểm lâm, các tổ chức xã hội, đoàn thể, nhóm cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và cơ sở chế biến gỗ nhỏ tại các xã trên địa bàn huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Mục tiêu của chương trình truyền thông nhằm: (1) Cung cấp thông tin, kiến thức cơ bản về chương trình hành động FLEGT, các qui định về gỗ hợp pháp và Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ (TLAS) và (2) Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về hạn chế tình trạng khai thác gỗ trái phép và sử dụng các sản phẩm gỗ hợp pháp.

Ông Trương Sĩ Hoài Nhân – Giám đốc Dự án FLEGT phát biểu mở đầu chương trình truyền thông

Ông Trương Sĩ Hoài Nhân – Giám đốc Dự án FLEGT
phát biểu mở đầu chương trình truyền thông

Phát biểu mở đầu chương trình truyền thông, Ông Trương Sĩ Hoài Nhân – Giám đốc dự án đã giới thiệu về những hoạt động truyền thông được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động của Dự án FLEGT – Khu vực miền Trung, đặc biệt các chương trình thay đổi hành vi về FLEGT sẽ được triển khai tại 04 tỉnh triển khai dự án nhằm giúp các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và cơ sở chế biến gỗ hiểu rõ hơn về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục truyền thông về VPA-FLEGT cũng như những lợi ích, khó khăn khi tham gia vào tiến trình đàm phán VPA-FLEGT; tác động của dự án trong việc cải thiện sinh kế cho cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và giảm tình trạng khai thác gỗ trái phép, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý rừng tại các địa phương.
Thông qua chương trình truyền thông thay đổi hành vi về FLEGT, Tư vấn của dự án gồm: ThS. Mai Quang Huy – Phó Trưởng phòng Bảo tồn Thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế và cán bộ hỗ trợ Đặng Thị Lan Anh – Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD) đã lần lượt giới thiệu các hoạt động truyền thông tổng hợp và phương pháp thực hiện thông qua nhiều hình thức truyền thông sống động và mang tính giáo dục nâng cao nhận thức về VPA-FLEGT cho cộng đồng địa phương.

Tư vấn ThS. Mai Quang Huy – Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế Giới thiệu về công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Tư vấn ThS. Mai Quang Huy – Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế
Giới thiệu về công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Nội dung truyền thông được các tư vấn sử dụng và hướng dẫn có liên quan đến các thông tin, kiến thức cơ bản về Chương trình hành động FLEGT, tiến trình đàm phán hiệp định đối tác tự nguyện (VPA), các qui định về gỗ hợp pháp và nâng cao nhận thức của họ trong việc sử dụng các sản phẩm gỗ hợp pháp và tránh tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp, và công tác tuyên truyền quản lý và bảo vệ rừng. Sau mỗi hoạt động tư vấn và cán bộ hỗ trợ sẽ đặt ra những câu hỏi liên quan đến hoạt động và đã thu hút được sự tham gia và trả lời câu hỏi từ phía tham dự viên.

Cán bộ hỗ trợ Đặng Thị Lan Anh – Trung tâm CRD Thúc đẩy tham dự viên tìm hiểu các kiến thức về chuỗi cung ứng gỗ

Cán bộ hỗ trợ Đặng Thị Lan Anh – Trung tâm CRD
Thúc đẩy tham dự viên tìm hiểu các kiến thức về chuỗi cung ứng gỗ

Các nội dung cụ thể được thực hiện như: (i) Triển lãm ảnh nghệ thuật: rừng và sinh kế của người dân địa phương, Poster về công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; (ii) Chiếu phim về chương trình hành động FLEGT; (iii) Hoạt động trò chơi chuỗi cung ứng gỗ để giúp các tham dự viên hiểu rõ: Thế nào là Gỗ hợp pháp; Chuỗi cung ứng gỗ? Hệ thống kiểm soát chuỗi cung? Vì sao phải kiểm soát chuỗi cung? (iv) Thi vẽ tranh về hậu quả của việc khai thác gỗ trái phép và hướng đến phương thức kinh doanh, sử dụng gỗ và các sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp và (v) Thi đố vui về công tác quản lý bảo vệ rừng của các nhóm cộng đồng.

Dự án FLEGT chụp ảnh lưu niệm với tham dự viên  chương trình truyền thông thay đổi hành vi về FLEGT

Dự án FLEGT chụp ảnh lưu niệm với tham dự viên
chương trình truyền thông thay đổi hành vi về FLEGT

Kết thúc chương trình truyền thông, các tham dự viên đều đưa ra một đánh giá chung “Chương trình truyền thông thay đổi hành vi về FLEGT là hoạt động rất hữu ích trong việc nâng cao nhận thức về sử dụng gỗ hợp pháp, ngăn chặn việc khai thác, buôn bán gỗ bất hợp pháp và thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập cho cộng đồng. Ngoài ra, FLEGT là một chương trình hoàn toàn mới đối với các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng, các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn huyện A Lưới, đặc biệt là những người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi. Vì vậy, cần có sự hỗ trợ và hướng dẫn của chính quyền địa phương, cơ quan kiểm lâm,… nhằm thực hiện tốt các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của cộng đồng tại địa phương”.

Dự án FLEGT

Cần có cơ chế tham vấn, phản hồi của người dân

Mặc dù các văn bản pháp lý hiện hành đều quy định bắt buộc việc thông báo cho các hộ dân trong vùng dự án về kế hoạch xây dựng công trình thủy điện, lộ trình thu hồi đất cũng như các chế độ về hỗ trợ, đền bù. Tuy nhiên, hầu hết các cuộc họp của nhà đầu tư và chính quyền với người dân chỉ mang mục đích thông báo cho các hộ biết còn tiếng nói của các hộ dân rất hạn chế.

Nhằm đánh giá tác động kinh tế – xã hội của các dự án tái định cư thủy điện lên các nhóm đồng bào DTTS, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy ban Dân tộc đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát, tổng hợp và phân tích 3 trường hợp điển hình tại khu tái định cư thủy điện A Vương (tỉnh Quảng Nam), Tuyên Quang và Sông Bung 4 (huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam). Tuy phạm vi khảo sát còn hẹp, song kết quả khảo sát đã cho thấy những vấn đề nổi cộm đáng quan tâm nhất là những “khoảng trống” về mặt chính sách.

Theo kết quả nghiên cứu, hầu hết các dự án thủy điện đều đảm bảo sự tham gia của người dân vào công tác kiểm đếm và đo đạc phần diện tích đất ruộng, nhà ở, tài sản và hoa màu. Tuy nhiên, quá trình này mới chỉ mang tính hình thức. Đa số người dân đều “không hài lòng” với cách thức đo đạc và kiểm kê tài sản trên đất và cho biết mức đền bù họ nhận được thấp hơn giá thị trường. Đáng chú ý, các chính sách về đền bù hiện nay chưa xét đến các tổn thất về vốn xã hội, tri thức bản địa, khả năng kết nối với các đối tác trong kinh tế của các hộ.

Theo quy định, đất của người dân nằm trong đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục…thì không được đền bù. Song trên thực tế người dân Cơ Tu thuộc diện di dời của thủy điện Sông Bung 4 và rất nhiều địa phương khác trên địa bàn cả nước thường thực hiện phương thức du canh. Các hộ dân đốt rẫy làm nương và sau một số vụ, đất được nghỉ để tự phục hồi và sau khoảng 3 đến 4 năm, các hộ sẽ quay lại canh tác. Tuy nhiên, khi kiểm kê đến những phần đất rẫy này sẽ không được bồi thường theo quy định của pháp luật, gây tổn thất lớn và bức xúc đối với người dân.

Tình trạng thiếu quỹ đất cho hoạt động nông nghiệp xảy ra ở hầu hết các khu tái định cư tại các địa bàn nghiên cứu. Và đây cũng là vấn đề gây bức xúc cho người dân khi chuyển sang nơi ở mới và khá phổ biến ở hầu hết các công trình trên phạm vi cả nước. Ở nhiều công trình, mặc dù người dân đã chuyển về nơi tái định cư được một thời gian dài, địa phương vẫn chưa thể hoàn thiện việc giao đất cho các hộ ổn định sản xuất.

Nguyên nhân của thực trạng trên do việc bồi thường và hỗ trợ quản lý giá đất còn nhiều bất cập. Cụ thể việc triển khai Nghị định số 69/2009/NĐ-CP gặp nhiều lúng túng, do không có hướng dẫn cụ thể để thực hiện cơ chế bồi thường và hỗ trợ các đối tượng bị thu hồi đất. Đáng chú ý, cơ chế phản hồi và đại diện của người dân bị thu hồi đất và tái định cư mới chỉ mang tính hình thức.

“Theo Điều 74, Luật Đất đai và Điều 3, Nghị định 34/QĐ-TTg, bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải thực hiện trên nguyên tắc dân chủ, khách quan, công khai, công bằng, kịp thời…Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được lồng ghép cụ thể và chặt chẽ vào các quy định liên quan đến từng quá trình của việc thu hồi đất như lập kế hoạch, giải phóng mặt bằng…Do đó, cần phải có cơ chế tham vấn, phản hồi của người dân trong vấn đề thu hồi đất đai và thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề thủy điện” – Báo cáo nghiên cứu đề xuất.

Lê Bảo/baomoi.com