Tọa đàm: Tình hình thực hiện chính sách pháp luật về quản lý sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014

Trong nhiều thập kỷ qua, nông lâm trường quốc doanh (NLTQD) được xem là một trong những lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế xã hội ở vùng biên giới, vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, dưới áp lực phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập quốc tế, việc quản lý, sử dụng đất rừng của các NLTQD có nhiều bất cập dẫn đến tài nguyên rừng bị suy giảm về quy mô diện tích và chất lượng, hiệu quả kinh doanh thấp, đất đai bị tranh chấp, lấn chiếm, buông lỏng trong quản lý đất đai. Nhiều NLTQD hoạt động hết sức khó khăn và phải giải thể.
Đến năm 2003, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 về việc sắp xếp, đối mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị định 200/2004/NĐ-CP 2004 về sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh và Nghị định 170/2004/NĐ-CP 2004 về sắp xếp đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ chính trị sau 10 năm thực hiện thì kết quả về sắp xếp, đổi mới và phát triển NLTQD không đạt được như mục tiêu mong đợi. Tiến trình rà soát, sắp xếp, đổi mới và phát triển NLTQD diễn ra chậm chạp và gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc; đặc biệt là vấn đề rà soát, đánh giá và giải quyết các tranh chấp đất đai do các NLTQD quản lý. Mâu thuẫn tranh chấp đất rừng giữa người dân địa phương với các NLTQD ngày càng nhiều và diễn biến càng phức tạp ảnh hưởng đến ổn định xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái vùng miền núi, vùng biên giới. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW và sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 118/2014/NĐ-CP về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề đất đai NLTQD và với chức năng nhiệm vụ của mình, Liên minh Đất rừng (FORLAND) đã cử chuyên gia tham gia vào các đoàn giám sát tối cao của Ủy ban thường vụ Quốc hội về “Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014” theo Nghị quyết 820/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 17. 10. 2014. Trên cơ sở kết quả tham gia đoàn giám sát của chuyên gia FORLAND tại các tỉnh Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, sáng ngày 23. 4. 2015, tại Hà Nội, FORLAND đã kết hợp với VUSTA tổ chức tọa đàm bàn tròn về chủ đề: “Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014”.
Tọa đàm có sự tham gia của 14 đại biểu là các chuyên gia đầu ngành về đất đai và lâm nghiệp như GS, TSKH Đặng Hùng Võ, TS. Vũ Long, TS. Đoàn Diễm, các tổ chức quốc tế và trong nước như Forest Trend, VUSTA, các tổ chức thành viên trong FORLAND cũng như đoàn chuyên gia nghiên cứu về kinh tế-chính trị của Oxfam Anh.
Trên cơ sở kết quả tọa đàm, FORLAND đã tổng hợp một số ý kiến của chuyên gia góp ý cho báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội như sau:
– Báo cáo cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa việc giám sát của Quốc hội về đất đai NLTQD với việc ban hành NQ 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 118 của Chính phủ. Có thể nói NQ 30 của Bộ Chính trị đã có tổng kết một cách đầy đủ về những hạn chế, bất hợp hợp lý trong việc quản lý, sử dụng đất đai của các NLTQD trong 10 năm qua. Vậy kết quả giám sát của QH có thể sẽ lặp lại kết quả tổng kết NQ 28 của Bộ Chính trị nếu không chỉ ra được những điểm khác biệt hơn, mới hơn.
– Cần xác định rõ mục tiêu quản lý và sử dụng đất rừng một cách hiệu quả và bền vững hay là mục tiêu để cho các NLTQD tồn tại và phát triển trong khi cộng đồng bản địa đang thiếu đất rừng để phát triển sản xuất. Nếu hướng đến mục tiêu bền vững thì Nhà nước cần phải kiên quyết bắt buộc các NLTQD thuê đất thuê rừng. Nếu được như vậy thì rất nhiều NLTQD có thể sẽ tự động trả lại đất rừng cho Nhà nước vì không đủ tiền thuê do năng lực quản lý yếu kém. Như vậy Nhà nước sẽ có được một quỹ đất rừng rất lớn để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuấht. Cần xem người dân, cộng đồng quản lý sử dụng đất rừng có hiệu quả hơn các NLTQD đang quản lý hay không kể cả rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
– Để tránh lập lại vết xe cũ của việc thực hiện NQ 28/NQ-TW, Quốc hội, Chính phủ phải chỉ ra thật cụ thể là nguồn kinh phí là bao nhiêu và được lấy từ đâu để thực hiện rà soát, sắp xếp đổi mới Công ty Nông lâm nghiệp, đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau cho các công ty này sau rà soát. Nếu hướng dẫn một cách chung chung để thực hiện việc rà soát đất đai từ các NLTQD thì sẽ không bao giờ thực hiện được, nhất là đối với các tỉnh nghèo nguồn thu không đủ bù chi.
– Cân nhắc việc khuyến nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh lại khoản a, điều 135, Luật Đất đai sửa đổi 2013 về việc chỉ giao rừng tự nhiên cho các tổ chức gây khó khăn cho địa phương thực hiện chủ trương của Nghị quyết 30/NQ-TW giao đất sản xuất cho người dân và mâu thuẫn và trái ngược với Luật BV&PTR 2004 đang hiện hành quy định giao đất có rừng tự nhiên cho hộ gia đình không thu tiền. Khuyến nghị Quốc hội xem xét đưa Luật BV&PTR 2004 vào chương trình sửa đổi Luật càng sớm càng tốt để có sự thống nhất và tương thích về nội dung với Hiến pháp 2014, Luật đất đai 2014 và các bộ luật khác có liên quan,
– Báo cáo cần cấu trúc lại theo hướng ngắn gọn và súc tích hơn, ví dụ chỉ đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014 đúng như tiêu đề tọa đàm thay vì đánh giá cả giai đoạn trước năm 2004, các số liệu nên được đưa vào bảng biểu, cần có tài liệu tham khảo, trích dẫn…
Ngoài ra, các chuyên gia khuyến nghị FORLAND nên có thêm các nghiên cứu sâu hơn về tình hình tranh chấp đất đai, giao khoán đất rừng của các NLTQD nhằm có thêm những bằng chứng cụ thể khuyến nghị cho Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan về tình hình thực hiện chính sách pháp luật trong thời gian qua. FORLAND tổ chức thêm một số cuộc tòa đàm ở phạm vi rộng hơn, có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, CSOs và của đại biểu Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội và Các cơ quan chính phủ để có các kiến nghị xác đáng về những tồn tại, bất cập và giải pháp trong thực hiện chính sách quản lý sử dụng đất đai của các NLTQD giai đoạn 2004 – 2014 và những năm tiếp theo.

Tài liệu buổi tọa đàm

Một số hình ảnh buổi tọa đàm

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên mạng lưới, chia sẻ tại hội thảo
Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên mạng lưới, chia sẻ tại hội thảo
Ông Ngô Văn Hồng- Đại diện của tổ chức CIRD chia sẻ tại buổi tọa đàm
Ông Ngô Văn Hồng- Đại diện của tổ chức CIRD chia sẻ tại buổi tọa đàm
Ông Lê Công Lương- Đại diện VUSTA chia sẻ ý kiến tại buổi tọa đàm
Ông Lê Công Lương- Đại diện VUSTA chia sẻ ý kiến tại buổi tọa đàm

FORLAND

Advertisements

Thông báo: Tuyển tư vấn cho lớp tập huấn ” Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong vận động chính sách”

Trong khuôn khổ hoạt động của mạng lưới năm 2015, FORLAND mong muốn trang bị cho các tổ chức thành viên những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quản lý mâu thuẫn/xung đột trong vận động chính sách. Để đáp ứng mục tiêu này, FORLAND đang tìm kiếm tư vấn cho  lớp tập huấn với chủ đề “Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong hoạt động vận động chính sách”.

Kế hoạch thực hiện lớp tập huấn: 28-29/05/2015

Hạn nộp hồ sơ: Các tư vấn viên quan tâm xin gửi hồ sơ  trước 17h00 ngày 15/05/2015 đến địa chỉ sau:

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên FORLAND

Địa chỉ: Trung tâm Phát triển nông thôn Miền Trung- 102 Phùng Hưng, Tp Huế

Email: levanlan007@gmail.com

Điện thoại: 01202 555 932

Hồ sơ bao gồm:(1) Đề xuất kỹ thuật, (ii) Đề xuất tài chính và (iii) CV của tư vấn viên

Chi tiết về khóa tập huấn xin xem TOR đính kèm

TOR- Giảng viên Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong VĐCS

FORLAND

Bất cập quy hoạch ba loại rừng ở Bắc Cạn

Việc quy hoạch ba loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) của tỉnh Bắc Cạn đang bộc lộ những bất hợp lý, làm nhân dân bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Bà Phương Thị Thanh( bên phải) chỉ ra những bất cập trong quy hoạch ở Bắc Cạn
Bà Phương Thị Thanh( bên phải) chỉ ra những bất cập trong quy hoạch ở Bắc Cạn

Thời gian vừa qua, việc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Cạn(Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn) khai thác rừng đầu nguồn để trồng rừng mới đã làm nhân dân xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới bức xúc. Nguyên do, sau khi rừng bị khai thác trắng thì môi trường, môi sinh bị ảnh hưởng, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân dần cạn kiệt. Lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn giải thích: “Khu vực khai thác trắng đã được quy hoạch là rừng sản xuất nên công ty có quyền khai thác để trồng rừng mới”. Giải thích và việc làm của Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn không sai, nhưng nó không phù hợp thực tế.

Ngược lại, trên địa bàn huyện Ngân Sơn, một số khu vực không có chức năng phòng hộ thì cơ quan chức năng lại phê duyệt là rừng phòng hộ. Với quy hoạch như vậy, chính quyền địa phương không dám giao đất cho dân trồng rừng, trong khi dân địa phương không có đất để trồng rừng sản xuất. Trước thực tế này, UBND huyện Ngân Sơn kiến nghị UBND tỉnh rà soát lại quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn huyện, khu vực nào đã quy hoạch là rừng phòng hộ, nhưng trên thực tế không cần thiết, thì chuyển sang quy hoạch rừng sản xuất để địa phương giao cho dân trồng rừng sản xuất, phát triển kinh tế.

Chi Cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: “Quy hoạch rừng phòng hộ phải căn cứ độ cao, độ dốc và đầu nguồn sông, suối”. Như vậy, khu vực Thanh Mai mà quy hoạch rừng sản xuất là không phù hợp thực tế, vì rừng nằm ở đầu nguồn thì đáng lẽ ra phải quy hoạch là rừng phòng hộ.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Cạn Nông Văn Chí thừa nhận: “Quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn tỉnh đến nay có một số biểu hiện không còn phù hợp thực tiễn. Điển hình là đang có hàng trăm hộ dân tộc thiểu số sinh sống trên sườn núi cao, nơi có rừng nghèo kiệt quy hoạch là rừng phòng hộ. Người dân sống ở những nơi này không có ruộng, bà con cần có đất để trồng rừng kinh tế, trồng ngô để sống thì trong phạm vi nhất định phải chuyển thành rừng sản xuất”.

 Năm 2006, tỉnh Bắc Cạn thuê tư vấn lập quy hoạch ba loại rừng, năm 2007 UBND tỉnh Bắc Cạn đã phê duyệt quy hoạch này. Thực tế cho thấy, đơn vị lập quy hoạch chưa nghiên cứu kỹ thực tế, chưa lắng nghe ý kiến của chính quyền cơ sở và nhân dân địa phương, do vậy quy hoạch ba loại rừng đã bộc lộ những bất cập, làm nhân dân nhiều nơi bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Điều này đã được chỉ ra khi Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn vừa giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất lâm trường trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2004 – 2014.

 Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn Phương Thị Thanh kiến nghị: “UBND tỉnh rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng trên địa bàn tỉnh cho phù hợp với thực tế”. Sau khi có kiến nghị này, UBND tỉnh Bắc Cạn đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm và chính quyền các địa phương trong năm 2015 phải hoàn thành rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng cho chuẩn xác, phù hợp.

Việc rà soát này là cần thiết và theo hướng, khu vực nào không cần thiết là rừng phòng thì chuyển sang rừng sản xuất để phát triển kinh tế; ngược lại, khu vực nào có độ dốc cao, đầu nguồn sông, suối mà trước đây đã quy hoạch là rừng sản xuất thì nay phải quy hoạch là rừng đầu nguồn để có phương án trồng, tái sinh, bảo vệ rừng nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ.

Thế Bình/ngaynay.vn 

Bất cập quản lý, các nông lâm trường quốc doanh kém hiệu quả

Tình trạng này diễn ra tại Gia Lai, khiến nông lâm trường làm ăn không hiệu quả, tranh chấp đất đai, phá rừng diễn ra phổ biến.

Chiều 16/4, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã làm việc với UBND tỉnh Gia Lai về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông – lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014.

Tính đến năm 2004, tỉnh Gia Lai quản lý 5 Nông trường, 33 Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và Ban quản lý rừng phòng hộ. Các đơn vị này quản lý khoảng 545,5 nghìn ha, chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, nhưng làm ăn không hiệu quả, giá trị sản xuất trên mỗi ha thấp, tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, phá rừng diễn ra phổ biến.

Theo lãnh đạo tỉnh Gia Lai, nguyên nhân là các nông lâm trường chậm thích nghi với cơ chế thị trường, yếu kém trong quản lý đất đai và thiếu nguồn lực đầu tư. Khi các lâm trường chuyển đổi thành các công ty lâm nghiệp, tình hình cũng không được cải thiện vì không có vốn, không có tài sản thế chấp để vay vốn. Lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, bình quân một người nhận 1.000ha nên khó quản lý hiệu quả.

Trong khi đó, các cơ chế, chính sách về lâm nghiệp còn hạn chế, chưa thu hút được được người dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào bảo vệ, phát triển rừng.  Tỉnh Gia Lai kiến nghị trung ương cần có các cơ chế, chính sách phù hợp hơn đối với lâm nghiệp.

Qua nắm bắt tình hình, bà Triệu Thị Nái, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Phó trưởng đoàn giám sát, cho rằng, Gia Lai cần chủ động, tích cực khắc phục những yếu kém, hạn chế. Đối với những kiến nghị của tỉnh, đoàn giám sát ghi nhận và sẽ tổng hợp để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội./.

Công Bắc/VOV- Tây Nguyên