Monthly Archives: Tháng Tư 2015

Tọa đàm: Tình hình thực hiện chính sách pháp luật về quản lý sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014

Trong nhiều thập kỷ qua, nông lâm trường quốc doanh (NLTQD) được xem là một trong những lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế xã hội ở vùng biên giới, vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, dưới áp lực phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập quốc tế, việc quản lý, sử dụng đất rừng của các NLTQD có nhiều bất cập dẫn đến tài nguyên rừng bị suy giảm về quy mô diện tích và chất lượng, hiệu quả kinh doanh thấp, đất đai bị tranh chấp, lấn chiếm, buông lỏng trong quản lý đất đai. Nhiều NLTQD hoạt động hết sức khó khăn và phải giải thể.
Đến năm 2003, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 về việc sắp xếp, đối mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị định 200/2004/NĐ-CP 2004 về sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh và Nghị định 170/2004/NĐ-CP 2004 về sắp xếp đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ chính trị sau 10 năm thực hiện thì kết quả về sắp xếp, đổi mới và phát triển NLTQD không đạt được như mục tiêu mong đợi. Tiến trình rà soát, sắp xếp, đổi mới và phát triển NLTQD diễn ra chậm chạp và gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc; đặc biệt là vấn đề rà soát, đánh giá và giải quyết các tranh chấp đất đai do các NLTQD quản lý. Mâu thuẫn tranh chấp đất rừng giữa người dân địa phương với các NLTQD ngày càng nhiều và diễn biến càng phức tạp ảnh hưởng đến ổn định xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái vùng miền núi, vùng biên giới. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW và sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 118/2014/NĐ-CP về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề đất đai NLTQD và với chức năng nhiệm vụ của mình, Liên minh Đất rừng (FORLAND) đã cử chuyên gia tham gia vào các đoàn giám sát tối cao của Ủy ban thường vụ Quốc hội về “Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014” theo Nghị quyết 820/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 17. 10. 2014. Trên cơ sở kết quả tham gia đoàn giám sát của chuyên gia FORLAND tại các tỉnh Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, sáng ngày 23. 4. 2015, tại Hà Nội, FORLAND đã kết hợp với VUSTA tổ chức tọa đàm bàn tròn về chủ đề: “Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014”.
Tọa đàm có sự tham gia của 14 đại biểu là các chuyên gia đầu ngành về đất đai và lâm nghiệp như GS, TSKH Đặng Hùng Võ, TS. Vũ Long, TS. Đoàn Diễm, các tổ chức quốc tế và trong nước như Forest Trend, VUSTA, các tổ chức thành viên trong FORLAND cũng như đoàn chuyên gia nghiên cứu về kinh tế-chính trị của Oxfam Anh.
Trên cơ sở kết quả tọa đàm, FORLAND đã tổng hợp một số ý kiến của chuyên gia góp ý cho báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội như sau:
– Báo cáo cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa việc giám sát của Quốc hội về đất đai NLTQD với việc ban hành NQ 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 118 của Chính phủ. Có thể nói NQ 30 của Bộ Chính trị đã có tổng kết một cách đầy đủ về những hạn chế, bất hợp hợp lý trong việc quản lý, sử dụng đất đai của các NLTQD trong 10 năm qua. Vậy kết quả giám sát của QH có thể sẽ lặp lại kết quả tổng kết NQ 28 của Bộ Chính trị nếu không chỉ ra được những điểm khác biệt hơn, mới hơn.
– Cần xác định rõ mục tiêu quản lý và sử dụng đất rừng một cách hiệu quả và bền vững hay là mục tiêu để cho các NLTQD tồn tại và phát triển trong khi cộng đồng bản địa đang thiếu đất rừng để phát triển sản xuất. Nếu hướng đến mục tiêu bền vững thì Nhà nước cần phải kiên quyết bắt buộc các NLTQD thuê đất thuê rừng. Nếu được như vậy thì rất nhiều NLTQD có thể sẽ tự động trả lại đất rừng cho Nhà nước vì không đủ tiền thuê do năng lực quản lý yếu kém. Như vậy Nhà nước sẽ có được một quỹ đất rừng rất lớn để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuấht. Cần xem người dân, cộng đồng quản lý sử dụng đất rừng có hiệu quả hơn các NLTQD đang quản lý hay không kể cả rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
– Để tránh lập lại vết xe cũ của việc thực hiện NQ 28/NQ-TW, Quốc hội, Chính phủ phải chỉ ra thật cụ thể là nguồn kinh phí là bao nhiêu và được lấy từ đâu để thực hiện rà soát, sắp xếp đổi mới Công ty Nông lâm nghiệp, đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau cho các công ty này sau rà soát. Nếu hướng dẫn một cách chung chung để thực hiện việc rà soát đất đai từ các NLTQD thì sẽ không bao giờ thực hiện được, nhất là đối với các tỉnh nghèo nguồn thu không đủ bù chi.
– Cân nhắc việc khuyến nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh lại khoản a, điều 135, Luật Đất đai sửa đổi 2013 về việc chỉ giao rừng tự nhiên cho các tổ chức gây khó khăn cho địa phương thực hiện chủ trương của Nghị quyết 30/NQ-TW giao đất sản xuất cho người dân và mâu thuẫn và trái ngược với Luật BV&PTR 2004 đang hiện hành quy định giao đất có rừng tự nhiên cho hộ gia đình không thu tiền. Khuyến nghị Quốc hội xem xét đưa Luật BV&PTR 2004 vào chương trình sửa đổi Luật càng sớm càng tốt để có sự thống nhất và tương thích về nội dung với Hiến pháp 2014, Luật đất đai 2014 và các bộ luật khác có liên quan,
– Báo cáo cần cấu trúc lại theo hướng ngắn gọn và súc tích hơn, ví dụ chỉ đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004 – 2014 đúng như tiêu đề tọa đàm thay vì đánh giá cả giai đoạn trước năm 2004, các số liệu nên được đưa vào bảng biểu, cần có tài liệu tham khảo, trích dẫn…
Ngoài ra, các chuyên gia khuyến nghị FORLAND nên có thêm các nghiên cứu sâu hơn về tình hình tranh chấp đất đai, giao khoán đất rừng của các NLTQD nhằm có thêm những bằng chứng cụ thể khuyến nghị cho Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan về tình hình thực hiện chính sách pháp luật trong thời gian qua. FORLAND tổ chức thêm một số cuộc tòa đàm ở phạm vi rộng hơn, có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, CSOs và của đại biểu Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội và Các cơ quan chính phủ để có các kiến nghị xác đáng về những tồn tại, bất cập và giải pháp trong thực hiện chính sách quản lý sử dụng đất đai của các NLTQD giai đoạn 2004 – 2014 và những năm tiếp theo.

Tài liệu buổi tọa đàm

Một số hình ảnh buổi tọa đàm

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên mạng lưới, chia sẻ tại hội thảo

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên mạng lưới, chia sẻ tại hội thảo

Ông Ngô Văn Hồng- Đại diện của tổ chức CIRD chia sẻ tại buổi tọa đàm

Ông Ngô Văn Hồng- Đại diện của tổ chức CIRD chia sẻ tại buổi tọa đàm

Ông Lê Công Lương- Đại diện VUSTA chia sẻ ý kiến tại buổi tọa đàm

Ông Lê Công Lương- Đại diện VUSTA chia sẻ ý kiến tại buổi tọa đàm

FORLAND

Thông báo: Tuyển tư vấn cho lớp tập huấn ” Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong vận động chính sách”

Trong khuôn khổ hoạt động của mạng lưới năm 2015, FORLAND mong muốn trang bị cho các tổ chức thành viên những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quản lý mâu thuẫn/xung đột trong vận động chính sách. Để đáp ứng mục tiêu này, FORLAND đang tìm kiếm tư vấn cho  lớp tập huấn với chủ đề “Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong hoạt động vận động chính sách”.

Kế hoạch thực hiện lớp tập huấn: 28-29/05/2015

Hạn nộp hồ sơ: Các tư vấn viên quan tâm xin gửi hồ sơ  trước 17h00 ngày 15/05/2015 đến địa chỉ sau:

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên FORLAND

Địa chỉ: Trung tâm Phát triển nông thôn Miền Trung- 102 Phùng Hưng, Tp Huế

Email: levanlan007@gmail.com

Điện thoại: 01202 555 932

Hồ sơ bao gồm:(1) Đề xuất kỹ thuật, (ii) Đề xuất tài chính và (iii) CV của tư vấn viên

Chi tiết về khóa tập huấn xin xem TOR đính kèm

TOR- Giảng viên Quản lý mâu thuẫn/xung đột trong VĐCS

FORLAND

Bất cập quy hoạch ba loại rừng ở Bắc Cạn

Việc quy hoạch ba loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) của tỉnh Bắc Cạn đang bộc lộ những bất hợp lý, làm nhân dân bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Bà Phương Thị Thanh( bên phải) chỉ ra những bất cập trong quy hoạch ở Bắc Cạn

Bà Phương Thị Thanh( bên phải) chỉ ra những bất cập trong quy hoạch ở Bắc Cạn

Thời gian vừa qua, việc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Cạn(Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn) khai thác rừng đầu nguồn để trồng rừng mới đã làm nhân dân xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới bức xúc. Nguyên do, sau khi rừng bị khai thác trắng thì môi trường, môi sinh bị ảnh hưởng, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân dần cạn kiệt. Lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn giải thích: “Khu vực khai thác trắng đã được quy hoạch là rừng sản xuất nên công ty có quyền khai thác để trồng rừng mới”. Giải thích và việc làm của Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn không sai, nhưng nó không phù hợp thực tế.

Ngược lại, trên địa bàn huyện Ngân Sơn, một số khu vực không có chức năng phòng hộ thì cơ quan chức năng lại phê duyệt là rừng phòng hộ. Với quy hoạch như vậy, chính quyền địa phương không dám giao đất cho dân trồng rừng, trong khi dân địa phương không có đất để trồng rừng sản xuất. Trước thực tế này, UBND huyện Ngân Sơn kiến nghị UBND tỉnh rà soát lại quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn huyện, khu vực nào đã quy hoạch là rừng phòng hộ, nhưng trên thực tế không cần thiết, thì chuyển sang quy hoạch rừng sản xuất để địa phương giao cho dân trồng rừng sản xuất, phát triển kinh tế.

Chi Cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: “Quy hoạch rừng phòng hộ phải căn cứ độ cao, độ dốc và đầu nguồn sông, suối”. Như vậy, khu vực Thanh Mai mà quy hoạch rừng sản xuất là không phù hợp thực tế, vì rừng nằm ở đầu nguồn thì đáng lẽ ra phải quy hoạch là rừng phòng hộ.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Cạn Nông Văn Chí thừa nhận: “Quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn tỉnh đến nay có một số biểu hiện không còn phù hợp thực tiễn. Điển hình là đang có hàng trăm hộ dân tộc thiểu số sinh sống trên sườn núi cao, nơi có rừng nghèo kiệt quy hoạch là rừng phòng hộ. Người dân sống ở những nơi này không có ruộng, bà con cần có đất để trồng rừng kinh tế, trồng ngô để sống thì trong phạm vi nhất định phải chuyển thành rừng sản xuất”.

 Năm 2006, tỉnh Bắc Cạn thuê tư vấn lập quy hoạch ba loại rừng, năm 2007 UBND tỉnh Bắc Cạn đã phê duyệt quy hoạch này. Thực tế cho thấy, đơn vị lập quy hoạch chưa nghiên cứu kỹ thực tế, chưa lắng nghe ý kiến của chính quyền cơ sở và nhân dân địa phương, do vậy quy hoạch ba loại rừng đã bộc lộ những bất cập, làm nhân dân nhiều nơi bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Điều này đã được chỉ ra khi Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn vừa giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất lâm trường trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2004 – 2014.

 Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn Phương Thị Thanh kiến nghị: “UBND tỉnh rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng trên địa bàn tỉnh cho phù hợp với thực tế”. Sau khi có kiến nghị này, UBND tỉnh Bắc Cạn đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm và chính quyền các địa phương trong năm 2015 phải hoàn thành rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng cho chuẩn xác, phù hợp.

Việc rà soát này là cần thiết và theo hướng, khu vực nào không cần thiết là rừng phòng thì chuyển sang rừng sản xuất để phát triển kinh tế; ngược lại, khu vực nào có độ dốc cao, đầu nguồn sông, suối mà trước đây đã quy hoạch là rừng sản xuất thì nay phải quy hoạch là rừng đầu nguồn để có phương án trồng, tái sinh, bảo vệ rừng nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ.

Thế Bình/ngaynay.vn 

Bất cập quản lý, các nông lâm trường quốc doanh kém hiệu quả

Tình trạng này diễn ra tại Gia Lai, khiến nông lâm trường làm ăn không hiệu quả, tranh chấp đất đai, phá rừng diễn ra phổ biến.

Chiều 16/4, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã làm việc với UBND tỉnh Gia Lai về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông – lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014.

Tính đến năm 2004, tỉnh Gia Lai quản lý 5 Nông trường, 33 Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và Ban quản lý rừng phòng hộ. Các đơn vị này quản lý khoảng 545,5 nghìn ha, chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, nhưng làm ăn không hiệu quả, giá trị sản xuất trên mỗi ha thấp, tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, phá rừng diễn ra phổ biến.

Theo lãnh đạo tỉnh Gia Lai, nguyên nhân là các nông lâm trường chậm thích nghi với cơ chế thị trường, yếu kém trong quản lý đất đai và thiếu nguồn lực đầu tư. Khi các lâm trường chuyển đổi thành các công ty lâm nghiệp, tình hình cũng không được cải thiện vì không có vốn, không có tài sản thế chấp để vay vốn. Lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, bình quân một người nhận 1.000ha nên khó quản lý hiệu quả.

Trong khi đó, các cơ chế, chính sách về lâm nghiệp còn hạn chế, chưa thu hút được được người dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào bảo vệ, phát triển rừng.  Tỉnh Gia Lai kiến nghị trung ương cần có các cơ chế, chính sách phù hợp hơn đối với lâm nghiệp.

Qua nắm bắt tình hình, bà Triệu Thị Nái, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Phó trưởng đoàn giám sát, cho rằng, Gia Lai cần chủ động, tích cực khắc phục những yếu kém, hạn chế. Đối với những kiến nghị của tỉnh, đoàn giám sát ghi nhận và sẽ tổng hợp để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội./.

Công Bắc/VOV- Tây Nguyên

Báo cáo góp ý sửa đổi, bổ sung nghị định 99/2010/NĐ-CP về Chi trả dịch vụ môi trường rừng

1- Công văn về việc góp ý sửa đỏi, bổ sụng nghị định 99/2010/NĐ-CP về Chi trả dịch vụ môi trường rừng

2- Báo cáo góp ý sửa đổi, bổ sung nghị định 99/2010/NĐ-CP về Chi trả dịch vụ môi trường rừng

FORLAND

“ Đánh giá thực hiện và đề xuất sửa đổi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”.

Trong khuôn khổ hoạt động của Liên minh Đất rừng(FORLAND) năm 2015 trong ngày 10 tháng 04 Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn quản lý tài nguyên (CORENARM) đã phối hợp Trung tâm Con người và Thiên nhiên(PanNature) tổ chức hội thảo tham vấn “ Đánh giá thực hiện và đề xuất sửa đổi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”.

Hội thảo đã có sự tham của 40 đại biểu đến từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam,Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế,  các Trung tâm và các tổ chức nghiên cứu về lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trường rừng như Trung tâm Con người và Rừng(RECCOFTC), Trung tâm môi trường và tài nguyên sinh học, các tổ chức thành viên của Liên minh đất rừng và một số cơ quan báo chí tham gia đưa tin.

Hội thảo được triển khai với 3 mục tiêu chính : (i) Chia sẻ, thảo luận và đánh giá về thực tiễn thực hiện và tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại cấp địa phương(huyện,xã), (ii) Đề xuất, khuyến nghị đóng góp cho sửa đổi chính sách và quy định liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng tăng vường tính công bằng và bền vững và (iii) Tham vấn xây dựng công cụ đánh giá độc lập về hiệu qủa và tác động của chi trả dịch vụ môi trường rừng ở cấp địa phương.

Hội thảo đã được lắng nghe hai bài tham luận chính: Tổng quan chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: từ chính sách đến thực tiễn của Tiến sĩ Trần Nam Thắng và Định hướng nhà nước về sửa đổi, bổ sung quy định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của bà Nguyễn Hải Vân

Ngoài ra hội thảo cũng lắng nghe một số chia sẻ về việc thưc hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại thôn Hang Cáu, xã Vạn Xuân, Thanh Hóa “ Cộng đồng địa phương tham gia thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”

Hội thảo cũng ghi nhận nhiều đóng góp của nhiều thành viên là đại diện đến từ các đơn vị nhà nước và các tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Một số tài liệu của hội thảo

1- Chương trình hội thảo

2- Trình bày đề dẫn

3– Câu chuyện thôn Hàng Cầu- Thanh HÓa

4- Dự thảo tờ trình

5- Nghiên cứu của PanNature

Một số hình ảnh của hội thảo

FORLAND

Kết luận thanh tra quản lý, sử dụng đất đai ở tỉnh Hà Tĩnh

Chế biến thủy sản xuất khẩu của Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh tại Khu Kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Chế biến thủy sản xuất khẩu của Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh tại Khu Kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Ngày 14/4, Thanh tra Chính phủ đã có thông báo kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý, sử dụng đất đai đối với một số dự án trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Kết luận nêu rõ: về quản lý đầu tư dự án, trong thời gian qua, đầu tư trên địa bàn tỉnh tăng nhanh, góp phần chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng, tăng thu ngân sách Nhà nước. Nhiều công trình xây dựng hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội được đưa vào phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng. Công tác quản lý đầu tư thời gian gần đây được quan tâm, chú trọng…
Tuy nhiên, trong quản lý đầu tư còn một số sai phạm, khuyết điểm như sau: Việc bố trí vốn theo kế hoạch đạt thấp so với tổng mức đầu tư được phê duyệt (44,28%); một số dự án đã triển khai đầu tư nhưng thiếu vốn. Việc giao nhận thầu thi công xây lắp bằng hình thức đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu chiếm tỷ lệ cao, vi phạm quy định tại Luật Đấu thầu 2005 và Luật Xây dựng năm 2003 với số lượng lớn (390 gói thầu xây lắp).
Nhiều gói thầu thực hiện đấu thầu rộng rãi có tỷ lệ giảm giá thấp, bộc lộ nhiều hạn chế trong việc tổ chức đấu thầu, dẫn đến thiếu tính cạnh tranh và thiếu tính minh bạch. Tình trạng chậm tiến độ các gói thầu quá lớn, có 557/1.120 gói thầu chậm tiến độ (chiếm 49,73%). Đáng chú ý có 60% số gói thầu trong tổng số 405 gói thầu thực hiện đấu thầu hạn chế và 34,92% gói thầu trong tổng số 252 gói thầu thực hiện chỉ định thầu chậm tiến độ…
Việc quản lý sử dụng đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng tại một số huyện có dấu hiệu buông lỏng quản lý trong thời gian dài, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khiếu nại, tranh chấp, cá biệt có lúc có nơi phát sinh khiếu kiện, tranh chấp gay gắt, phức tạp, cần sớm được khắc phục, chấn chỉnh. Công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở huyện Kỳ Anh có một số khuyết điểm lớn, tiềm ẩn gây thất thoát ngân sách nhà nước và phát sinh khiếu kiện.
Trong quản lý đất đai đối với một số dự án khai thác khoáng sản còn một số tồn tại, thiếu sót. Việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư ở dự án Mỏ Thạch Khê tiến độ quá chậm (đến tháng 4/2013 chi trả hơn 316,850 tỷ đồng, chỉ đạt 9,11%), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đời sống bình thường người dân trong vùng bị ảnh hưởng…
Qua thanh tra phát hiện tổng số tiền sai phạm hơn 493,6 tỷ đồng, trong đó Công ty Formosa không thực hiện trách nhiệm kê khai và chưa nộp 136,7 tỷ đồng tiền thuế tài nguyên vào ngân sách nhà nước; vi phạm pháp luật về quản lý thuế và thuế tài nguyên. Đến nay, theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Cục Thuế Hà Tĩnh đã thu số tiền này vào ngân sách Nhà nước.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang Thép Hưng nghiệp Formosa tính thiếu 53,89 tỷ đồng phí bảo vệ môi trường so với quy định. Đến nay, theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Cục Thuế Hà Tĩnh đã thu số tiền này vào ngân sách Nhà nước.
Các chủ đầu tư đã thực hiện việc nộp tiền sử dụng đất không đúng tiến độ quy định, còn nợ 208,5 tỷ đồng tiền sử dụng đất, trong đó: Tập đoàn phát triển nhà và đô thị (HUD) nợ 103,2 tỷ đồng; Công ty Cổ phần TECCO Hà Tĩnh nợ 35,05 tỷ đồng; Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà-Miền Trung nợ 56,3 tỷ đồng; Công ty Cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu cầu Treo nợ 13,8 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, đến ngày 4/4/2014, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã thu hồi dự án của Công ty cổ phần TECCO Hà Tĩnh, Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà-Miền Trung; Công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu cầu Treo đã thực hiện nghĩa vụ tài chính về ngân sách Nhà nước; Tập đoàn phát triển nhà và đô thị (HUD) đã nộp vào ngân sách Nhà nước 74 tỷ đồng, còn nợ 39,27 tỷ đồng.
Tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gang Thép Hưng nghiệp Formosa tính theo Hợp đồng thuê đất thiếu 46,05 tỷ đồng so với tiền thuê đất, thuê mặt nước tính theo giá cho thuê (đất, mặt nước) quy định tại thời điểm bàn giao đất thực tế.
Ủy ban Nhân dân huyện Kỳ Anh phê duyệt, chi trả 32,94 tỷ đồng bồi thường đối với diện tích đất “tranh chấp” cho hộ gia đình, cá nhân; phê duyệt chi trả 15,52 tỷ đồng bồi thường đối với điện tích đất “công ích,” đất do Ủy ban Nhân dân xã quản lý cho các đối tượng (cho cả hộ gia đình, cá nhân) không đúng quy định.
Từ kết quả trên, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tăng cường công tác quản lý đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh theo đúng quy định pháp luật; thực hiện nghiêm Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ và các quy định có liên quan.
Ủy ban Nhân dân tỉnh chấn chỉnh công tác giao, nhận thầu, thực hiện đúng các quy định của Luật đấu thầu; tăng cường các biện pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý tiến quản lý giá thành, quản lý chất lượng; kiên quyết khắc phục tình trạng chậm trong giải phóng mặt bằng; kiểm tra, rà soát các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, khu nhà ở, khu thương mại; tăng cường công tác quản lý sử dụng đất đai.

Đồng thời, tỉnh tiếp tục xử lý các khuyết điểm, hậu quả, tồn tại, vi phạm từ nhiều năm trước đây; kiểm tra, rà soát toàn bộ công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng trong Khu kinh tế Vũng Áng, huyện Kỳ Anh để đảm bảo việc thu hồi, bồi thường, tái định cư và chi trả, thanh toán, quyết toán kinh phí theo đúng quy định pháp luật; thu hồi về ngân sách Nhà nước số tiền bồi thường, hỗ trợ không đúng quy định của pháp luật, nếu có trục lợi cá nhân thì phải xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật…
Về xử lý tài chính, Thanh tra Chính phủ kiến nghị thu về ngân sách Nhà nước 39,27 tỷ đồng tiền thuê đất của Tập đoàn phát triển nhà và đô thị (HUD) còn nợ liên quan việc thực hiện dự án Khu dân đô thị Bắc thành phố Hà Tĩnh.
Kiểm tra, rà soát, làm rõ việc bồi thường 32,94 tỷ đồng cho diện tích “tranh chấp” và 15,52 tỷ đồng cho diện tích đất “công ích” ở Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện Kỳ Anh, Ủy ban Nhân dân huyện Kỳ Anh (liên quan đến việc thu hồi đất thực hiện dự án Formosa) để thu hồi về ngân sách Nhà nước tiền sai phạm.
Đồng thời, xử lý dứt điểm 33,45 tỷ đồng của Công ty cổ phần Kinh doanh nước Hà Tĩnh đã đầu tư thực hiện Dự án hệ thống cấp nước cho khu kinh tế Vũng Áng./.

Phúc Hằng/TTXVN

Truyền thông vận động chính sách và kỹ năng huy động báo chí

Trong khuôn khổ các hoạt động hỗ trợ cho các liên minh vận động chính sách, trong hai ngày 01-02/04/2015 tại Sơn Tây, Hà nội- Tổ chức Oxfam Anh đã tổ chức lớp tập huấn ” Truyền thông vận động chính sách và kỹ năng huy động báo chí”
Mục tiêu của khóa tập huấn:
– Được củng cố kỹ năng tạo sự quan tâm, chú ý của báo chí đối với thông tin của liên minh
– Nâng cao kỹ năng sử dụng mạng xã hội trong VĐCS
– Chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm huy động sự tham gia của báo chí trong VĐCS
– Học hỏi từ những phản hồi của báo chí
Lớp tập huấn đã diễn ra với sự tham gia của các nhà báo nổi tiếng ở Việt Nam: Ông Vũ Mạnh Cường -Phó tổng biên tập Báo Gia đình và Xã hội, Ông Mai Phan Lợi- Giám đốc tỏ chức MEC, Hoàng Thu Hường-Biên tập viên báo Vietnamnet và 38 học viên là đại diện của 06 liên minh

Tài liệu khóa tập huấn

Một số hình ảnh khóa tập huấn:

IMG_4876 IMG_4878 IMG_4882 IMG_4889 IMG_5027 IMG_5034 IMG_5036 IMG_5040 IMG_5046

FORLAND