Bắt giam lâm tặc chủ mưu vụ phá rừng Bà Nà

Vũ Văn Tam được xác định là người cầm đầu vụ phá rừng rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa đã bị khởi tố, bắt giam về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.

Công an Đà Nẵng tống đạt quyết định khởi tố và bắt tạm giam Đinh Văn Thuấn - Ảnh: Đoàn Cường
Công an Đà Nẵng tống đạt quyết định khởi tố và bắt tạm giam Đinh Văn Thuấn – Ảnh: Đoàn Cường

Ngày 20-5, cơ quan cảnh sát điều tra công an TP Đà Nẵng cho biết đã bắt được Vũ Văn Tam (47 tuổi, trú thôn Lấy, xã Tư, Đông Giang, Quảng Nam), là đối tượng chủ mưu vụ phá rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa (giáp ranh giữa tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng) với quy mô lớn nhất từ trước đến nay.

Cũng liên quan vụ án này, chiều 20-5, tại trụ sở công an phường Thạch Thang (quận Hải Châu, Đà Nẵng), cơ quan cảnh sát điều tra công an TP Đà Nẵng đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tam giam 4 tháng đối với Đinh Văn Thuấn (34 tuổi, Kim Sơn, Ninh Bình) cũng về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.

Thuấn là người giữ vai trò vận chuyển, bốc vác gỗ từ rừng đi tiêu thụ trong vụ phá rừng quy mô lớn tại khu vực Cà Nhông (thuộc rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa.
Như vậy, liên quan đến vụ phá rừng rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa, đến nay cơ quan công an đã khởi tố và bắt tổng cộng 12 nghi can.

Vụ phá rừng rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa đã gây xôn xao dư luận khi vào khoảng tháng 10-2014 cơ quan chức năng phát hiện cả vườn gỗ lậu đến hơn 40m3 gỗ đã xẻ thành phách. Trong đó, gỗ được phát hiện trong rừng đặc dụng là 24,38m3, còn rừng giáp ranh với Quảng Nam là 18,38 m3.

Sau khi sự việc bị phát giác, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP Đà Nẵng đã yêu cầu Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng xử lý trách nhiệm các cán bộ liên quan.

Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng đã tạm đình chỉ công tác 7 cán bộ thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa và hai kiểm lâm phụ trách địa bàn. Đồng thời, tháng 11-2014, Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng đã khởi tố vụ án phá rừng xảy ra tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa.

Hiện trường vụ phá rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa - Ảnh: Đ.C
Hiện trường vụ phá rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa – Ảnh: Đ.C

Liên quan đến nghi phạm chủ mưu Vũ Văn Tam, UBND huyện Đông Giang(TỈnh Quảng Nam) cho biết ông này đã vào rừng phòng hộ lập cơ ngơi hiếm hàng chục hecta rừng suốt mấy chục năm qua

Điều lạ là chính quyền còn cấp hộ khẩu cho ông này ở rừng phòng hộ. Theo UBND huyện Đông Giang, hiện ông Tam đang chiếm dụng đến hơn 56ha đất, trong đó có hơn 11 ha đất rừng phòng hộ, khoảng 45 ha là các loại đất khác.

Ông Đô Tài, Chủ tịch UBND huyện Đông Giang cho biết, lực lượng liên ngành dúng máy định vụ và đo được diện tích ông Tam hiện đang sử dụng là 56,4ha rừng phòng hộ. Trong đó. hơn 1,,8ha là hợp lệ diện tích còn lại là bất hợp pháp

Đoàn Cường/tuoitre.vn

Advertisements

Lâm trường, Cty lâm nghiệp ở Yên Bái sống dở chết dở!

Tỉnh Yên Bái hiện có 4 Cty lâm nghiệp và 3 lâm trường. Các lâm trường gần như đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nay, sống như chết, còn các Cty lâm nghiệp thì dật dờ.

Khai thác gỗ rừng trồng ở Yên Bình. (Ảnh: nongnghiep.vn)
Khai thác gỗ rừng trồng ở Yên Bình. (Ảnh: nongnghiep.vn)

Việc tái cơ cấu lại ngành lâm nghiệp tỉnh Yên Bái cần mạnh tay cắt bỏ những khối u ác tính đã di căn mới mong phát triển…

Từ năm 2010 tỉnh Yên Bái thực hiện đề án đổi mới, sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh, chuyển đổi thành các Cty TNHH MTV lâm nghiệp, còn 3 lâm trường: Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn không thể chuyển đổi được do nợ ngập đầu, kinh doanh không hiệu quả thì vẫn khoác chiếc áo lâm trường.

Kể từ năm 2013 Lâm trường Lục Yên không báo cáo nổi tài chính cũng như các hoạt động kinh doanh, đồng nghĩa lâm trường này đã chết. Nguyên nhân dẫn tới cái chết của Lâm trường Lục Yên là không quản lý được nguồn vốn, đất đai khiến cho nợ nần ngập đầu không thể trả nổi.

Theo bảng cân đối kế toán gửi Sở Tài chính tỉnh Yên Bái, tới ngày 31/12/2012 Lâm trường Lục Yên có tổng nợ 26,591 tỷ (lấy tròn số). Trong đó nợ ngắn hạn 18,34 tỷ, nợ dài hạn 8,25 tỷ.

Tình trạng nợ nần diễn ra từ nhiều năm nay đối với Lâm trường Lục Yên, nhìn vào đâu cũng thấy nợ, nợ tứ tung ngũ hành, nợ triền miên năm này qua năm khác: Nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ người bán hàng, nợ thuế nhà nước… Xin nêu vài con số nợ nần bất tận của lâm trường này: Nợ phải trả người bán hàng 4,331 tỷ, nợ thuế 3,049 tỷ, nợ người lao động 492,043 triệu…

Ông Ngô Phạm Khái – GĐ Xí nghiệp Phân bón hóa chất Apatit Việt Nam cho biết: Lâm trường Lục Yên mua của Xí nghiệp 100 tấn phân bón cho dự án trồng chè từ tháng 1/2008, với số tiền là 500 triệu. Đến nay đã hơn 7 năm trời, xí nghiệp đã bao nhiêu lần cử người tới đòi nợ, nhưng lâm trường vẫn cứ chây ì không chịu trả.

Được biết Lâm trường Lục Yên không chỉ nợ chúng tôi mà còn nợ nhiều khách hàng khác, đến nỗi muốn bắt nợ nhưng không có tài sản gì để bắt. Giám đốc Lâm trường ông Nguyễn Quang Trịnh thì không thể gặp nổi để đối chiếu công nợ.

Không rõ lâm trường này hoạt động ra sao, nếu họ giải thể hay phá sản thì chúng tôi còn xử lý được, còn hiện nay số nợ đó vẫn treo trên sổ sách không quyết toán nổi…

Cám cảnh với những món nợ khó đòi của LT Lục Yên, bà Nguyễn Thị Kim Nga – Phó GĐ Ngân hàng TMCP Đầu tư – Phát triển Việt Nam chi nhánh Yên Bái cho biết: Số nợ mà Lâm trường Lục Yên nợ NH chúng tôi đến nay là 10,827 tỷ. Đây là món nợ quá hạn đã lâu và không biết đến bao giờ lâm trường trả được.

Ngoài nợ Ngân hàng Đầu tư – Phát triển, Lâm trường Lục Yên còn nợ Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Yên Bái 8,427 tỷ cả gốc và lãi. Gồm 5 món nợ vay trồng rừng từ năm 1997 đến năm 2003. Các món nợ trồng rừng kinh doanh ít là 2 chu kỳ khai thác, nhiều là 3 chu kỳ nhưng đến nay lâm trường vẫn chưa trả nổi.

Không chỉ vay trồng rừng lâm trường còn vay mở rộng xưởng SX giấy đế và đũa xuất khẩu. Có thời gian Lâm trường Lục Yên nổi như cồn được nhiều lãnh đạo tỉnh và Trung ương tới thăm, đánh giá là mô hình điểm trong phát triển kinh tế kết hợp giữa trồng rừng và chế biến.

Với hai dây chuyền SX giấy đế và một dây chuyền SX đũa, người dân trồng và bảo vệ rừng huyện Lục Yên mừng khấp khởi vì có nơi tiêu thụ: Tre, nứa, vầu… là lâm sản ngoài gỗ khai thác từ rừng.

Nhưng tiếc thay, chỉ sau vài năm hoạt động hai cơ sở SX giấy đế và đũa XK phải đóng cửa vì nợ nần và thua lỗ trầm trọng buộc phải đóng cửa. Máy móc phải bán để trả nợ, tất cả vốn liếng tan tành mây khói.

Lo lắng tiền vay bị mất, ngày 5/7/2011 Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư – Phát triển, chi nhánh tỉnh Yên Bái, đã cùng nhau lập biên bản phát mại tài sản thế chấp đối với Lâm trường Lục Yên để thu hồi nợ.

Gỗ rừng trồng ở xưởng chế biến ván bóc. (Ảnh: nongnghiep.vn)
Gỗ rừng trồng ở xưởng chế biến ván bóc. (Ảnh: nongnghiep.vn)

Bao gồm các tài sản hình thành từ vốn vay: Máy móc thiết bị dây chuyền SX giấy đế, nhà cửa, vật kiến trúc, công trình phụ trợ, quyền sử dụng đất… Nhưng khổ nỗi Lâm trường Lục Yên không chỉ nợ các ngân hàng mà còn nợ nhiều bạn hàng khác, với món nợ 26,591 tỷ, dẫu bán hết tài sản cũng không trả hết nợ. Tài sản đáng giá nhất của lâm trường hiện là khu nhà làm việc, còn nhà máy và ô tô thì đã cầm cố hay đội nón ra đi từ lâu.

17052015_chetkochondc3
Bà Phạm Thị Thanh Trà – Chủ tịch tỉnh Yên Bái: Trong đề án tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp cần nhanh chóng sắp xếp lại các Cty lâm nghiệp và lâm trường, đơn vị nào làm ăn có hiệu quả thì cho phép tồn tại, còn lại thì giải quyết dứt điểm cho phá sản hay giải thể, không để tình trạng sống dở chết dở như hiện nay, nhà nước vừa không thu được thuế và tiền thuê đất, mà hiệu quả sử dụng đất lại rất kém…

Lâm trường Văn Yên cũng vay vốn Ngân hàng Đầu tư – Phát triển và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, chi nhánh Yên Bái. Tổng số vốn vay của hai ngân hàng là 8,137 tỷ để trồng rừng kinh doanh và trồng chè từ năm 1998 đến năm 2003. Rừng đã khai thác nhưng không trả nợ ngân hàng, còn đồi chè thì thành đồi… chè vè.

Ông Nguyễn Văn Nguyên – GĐ Lâm trường Văn Yên than thở: Khi nhậm chức GĐ tôi phải tiếp nhận các món nợ mà các thế hệ GĐ trước để lại. Lâm trường vay tiền cho dân trồng rừng và trồng chè thì không đòi được, nợ chồng chất, tiền lãi gần bằng tiền gốc rồi.

Đất đai đã bàn giao cho Cty Cao su 935 ha, đất lâm trường quản lý hiện chỉ còn 527 ha, do không có vốn nên diện tích này công nhân và người dân tự bỏ vốn trồng rừng. Khả năng trả được nợ vô cùng khó khăn, chúng tôi đang lập phương án giải thể, để 16 cán bộ, công nhân còn lại được hưởng chế độ nào thì hưởng…

Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Bình vay vốn trồng rừng của Ngân hàng Đầu tư – Phát triển từ năm 2000 đến 2003, các thế hệ GĐ ở đây đã chặt cây bán từ lâu nhưng không trả nợ ngân hàng, nợ nần để lại cho thế hệ sau, tệ hại hơn có GĐ còn chặt cả cây chưa đến tuổi khai thác trước khi nghỉ hưu.

Tổng số nợ mà Cty đang nợ ngân hàng là 3,474 tỷ, trong đó nợ gốc là 1,643 tỷ, nợ lãi 1,831 tỷ. Ông Phạm Đăng Hân – GĐ Cty ngán ngẩm: Hiện nay chúng tôi đang phải kéo cày trả nợ, làm được đồng nào là lo trả nợ ngân hàng…

Làm việc với PV Báo NNVN, ông Trần Văn Bảo, GĐ Ngân hàng Đầu tư – Phát triển Việt Nam chi nhánh Yên Bái, cho biết: Hiện nay ngân hàng chúng tôi có 4 đơn vị nợ xấu đó là: Cty Lâm nghiệp Thác Bà, Cty Lâm nghiệp Yên Bình, Lâm trường Lục Yên và Lâm trường Văn Yên với tổng số nợ là 12,8 tỷ. Ngân hàng chưa thể khoanh nợ được vì các đơn vị này đang tồn tại…

Nhận xét về hoạt động kinh doanh của các lâm trường ở Yên Bái, ông Vũ Văn Minh – GĐ Sở Tài chính không ngần ngại: Các lâm trường hiện giờ chỉ là những xác chết chưa chôn được. Tỉnh Yên Bái đang tìm các phương án giải thể hay phá sản, nhưng còn nhiều điểm vướng chưa làm được…

Thái Sinh/nongnghiep.vn

Hội thảo trực tuyến ” Truyền thông và CSO”

Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ chương trình truyền thông “Vì cộng đồng” do Đại sứ quán Mỹ, Ngân hàng Thế giới, Cơ quan phát triển Ai-len và Trung tâm Nâng cao Năng lực Phụ nữ (CECEM) cùng MEC phối hợp thực hiện.

Hội thảo trực tuyến “Truyền thông và CSO” được thực hiện tại hai đầu cầu Hà Nội và Huế với sự tham dự của gần 50 Tổ chức Xã hội Dân sự (CSO) và khoảng 20 nhà báo tại 2 tỉnh thành dựa trên các công cụ của mạng internet như Skype, Youtube, Google Doc, Google Hangout, SlideShare, Facebook,…

Chương trình có sự tham dự của đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin & Truyền thông, các cơ quan báo chí, tổ chức xã hội trong nước nhằm tạo dựng một bức tranh đa chiều về năng lực, nhu cầu truyền thông và mối liên hệ với giới báo chí của các tổ chức xã hội Việt Nam.

Các bài trình bày tại hội thảo:

1-Mr. ÐỖ LÊ THÃNG(Lựa chọn  kênh truyền thông xã hội để xây dựng hình ảnh)

2-Mrs. NGUYỄN ÐIỆP HOA, Oxfam,( Truyền thông và huy động tài trợ)

3-Mr. NGUYỄN VÃN HIẾU, Ministry of Information and Communications,(Cơ chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí)

4-Mrs LÂM THỊ THU SỬU, Vietnam River Network,(Truyền thông và vận động chính sách)

5-RESEARCH’S RESULTS,(Năng lực và nhu cầu truyền thông)

Tổng hợp

Bình Phước: Số vụ phá rừng tăng mạnh

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 9 vụ phá rừng, làm thiệt hại hơn 5ha rừng tự nhiên.

So với cùng kỳ năm ngoái tăng 7 vụ, diện tích bị phá tăng hơn 3ha. Số vụ phá rừng xảy ra trên địa bàn hai huyện Bù Đăng và Lộc Ninh.

Trong số 9 vụ phá rừng có 7 vụ không phát hiện được đối tượng vi phạm.

Nguyên nhân của tình trạng phá rừng tăng mạnh do người dân hay tin UBND tỉnh sẽ chuyển đổi 2.000ha tại Ban quản  lý rừng phòng hộ Tà Thiết (Lộc Ninh) để trồng cao su nên liều mình lén lút xâm nhập vào để phá rừng chiếm đất, khai thác lâm sản. Mặt khác, sự phối hợp giữa chủ rừng và các lực lượng liên quan còn lỏng lẻo.

Đức Trí/cand.com.vn

“Ban phát đất rừng cho quan chức”: Báo cáo không minh bạch

Báo cáo của Sở Tài nguyên và môi trường (TN MT) Bình Phước về vụ “Ban phát đất rừng cho quan chức” ở Bình Phước có những dấu hiệu không minh bạch trong việc “ban phát” đất rừng.

Một góc rừng phòng hộ Tà Thiết, nơi nhiều cán bộ Bình Phước được “ban phát” đất rừng - ẢNH: Ngọc Hậu
Một góc rừng phòng hộ Tà Thiết, nơi nhiều cán bộ Bình Phước được “ban phát” đất rừng – ẢNH: Ngọc Hậu

Sở Tài nguyên và môi trường (TN MT) Bình Phước vừa có báo cáo gửi Bộ TN MT về tình hình giao, cho thuê đất nông lâm nghiệp trên địa bàn. Báo cáo này chủ yếu giải trình quanh nội dung vụ “Ban phát đất rừng cho quan chức” mà Tuổi Trẻ (ngày 29 và 30-10-2014) từng phản ánh.

Báo cáo này lập luận “không có trường hợp ưu ái trong sử dụng đất, ban phát đất cho cán bộ công chức”. Tuy nhiên, chính nhiều nội dung trong báo cáo này lại chứng minh điều ngược lại, cho thấy những dấu hiệu không minh bạch trong việc “ban phát” đất rừng cho quan chức.

Không có tiêu chí cụ thể

Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước do giám đốc Nguyễn Phú Quới (ông Quới cũng nằm trong danh sách số ít cán bộ được “ban phát” đất rừng với 6,6ha do vợ ông Quới đứng tên) ký về đối tượng, tiêu chí để được thuê đất lâm nghiệp trồng cao su thì “UBND tỉnh không ban hành văn bản quy định”.

Việc xem xét đối tượng cho thuê chỉ căn cứ “trên cơ sở đơn xin thuê đất” rồi “UBND tỉnh chấp thuận chủ trương cho thuê đất và giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), các ban quản lý rừng khảo sát, lựa chọn vị trí thực hiện”.

Việc cho cán bộ thuê đất rừng “mỗi hộ 5-10ha”, theo Sở TN&MT Bình Phước, nhằm khắc phục tình trạng khó khăn của cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ yên tâm công tác sau khi tách từ tỉnh Sông Bé.

Tuy nhiên trên thực tế dù Bình Phước có hàng ngàn cán bộ nhưng không phải cán bộ nào cũng được cho thuê đất, mà ngược lại trong danh sách được “ban phát” đất rừng ấy người ta thấy nổi lên chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo của Sở NN&PTNT, Sở TN&MT, văn phòng UBND tỉnh…

Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước, tổng cộng chỉ có 116 hộ gia đình, cá nhân được cho thuê đất rừng trồng cao su (trong đó Sở TN&MT không nêu cụ thể bao nhiêu cán bộ, người nhà cán bộ).

Còn theo điều tra của Tuổi Trẻ, nhiều cán bộ nằm trong danh sách được “ban phát” đất rừng không hề khó khăn, có cán bộ đã có nhiều hecta cao su ở nơi khác nhưng vẫn được “ban phát” đất rừng.

Như vậy, mặc dù báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước không thừa nhận có việc “ưu ái”, “ban phát” đất rừng cho cán bộ, nhưng qua báo cáo này và trên thực tế cho thấy đúng như Tuổi Trẻ phản ánh: chỉ một số ít cán bộ “biết”, làm đơn thì được cho thuê đất rừng và tiêu chí cho thuê chủ yếu dựa vào… “tình nghĩa”.

Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước cũng giải trình về các nội dung: việc thực hiện chính sách hỗ trợ người dân thiếu đất ở, đất sản xuất; việc quy hoạch, phát triển trồng cao su trên địa bàn tỉnh, trình tự thực hiện các dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cây cao su….

Trong đó, báo cáo cho rằng “việc quy hoạch phát triển trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước được thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, theo đúng quy hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt…”.

Ngoài ra, báo cáo còn nêu “việc quy hoạch và thực hiện quy hoạch cấp đất cho các hộ đồng bào dân tộc, các hộ nghèo và không có đất như nêu trên là cơ bản đáp ứng nhu cầu đất ở, đất sản xuất của các hộ tại địa phương…”.

Như vậy, báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước không hề nhắc tới những số liệu, dẫn chứng rất cụ thể mà báo chí nêu đã chứng minh điều ngược lại so với chính báo cáo của cơ quan này. Đó là số liệu còn hàng ngàn hộ dân có nhu cầu cấp đất sản xuất nhưng tỉnh đang thiếu tới 6.148ha để cấp cho họ (số liệu của Thanh tra tỉnh Bình Phước).

Sở TN&MT tỉnh Bình Phước cũng đã không nhắc gì tới số liệu diện tích rừng tự nhiên của tỉnh này giảm nghiêm trọng: nếu như năm 2002 Bình Phước có tới 127.800ha rừng tự nhiên thì hơn 10 năm sau, vào năm 2013 chỉ còn 58.600ha, giảm hơn một nửa mà Tuổi Trẻ đã nêu.

Một góc rừng phòng hộ Tà Thiết, nơi nhiều cán bộ tỉnh Bình Phước được “ban phát” đất rừng - Ảnh: Ngọc Hậu
Một góc rừng phòng hộ Tà Thiết, nơi nhiều cán bộ tỉnh Bình Phước được “ban phát” đất rừng – Ảnh: Ngọc Hậu

Né tránh làm nghĩa vụ

Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước còn bộc lộ thực tế nhiều cán bộ được “ban phát” đất rừng đã “né”, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với khu đất được thuê.

Mặc dù từ năm 2007-2009 nhiều cán bộ đã nhận đất rừng, thanh lý cây rừng và trồng cao su nhưng tới nay vẫn chưa làm thủ tục thuê đất, chưa đóng tiền thuê đất và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước.

Theo Sở TN&MT tỉnh Bình Phước, “một số trường hợp sau khi trồng xong cây cao su vẫn không liên hệ với Sở TN&MT để lập thủ tục, khi cần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn hoặc cho các mục đích khác thì các hộ này mới liên hệ lập thủ tục thuê đất”.

Theo điều tra của Tuổi Trẻ, “một số trường hợp” mà Sở TN&MT tỉnh Bình Phước nêu có cả lãnh đạo của chính sở này và lãnh đạo Sở NN&PTNT, cán bộ văn phòng UBND tỉnh dù được cho thuê đất từ lâu nhưng thời gian gần đây mới làm thủ tục thuê đất.

Việc chưa làm thủ tục thuê đất thực chất là “né”, chậm làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Theo Sở TN&MT, trong số 116 hộ gia đình, cá nhân được cho thuê đất thì tính tới tháng 3-2015 mới có 75 hộ, cá nhân lập thủ tục thuê đất.

Đối với các trường hợp này, Sở TN&MT tỉnh Bình Phước báo cáo với Bộ TN&MT là “khi lập thủ tục thuê đất sẽ thực hiện truy thu số tiền thuê đất chưa nộp theo đúng quy định”.

Cụ thể: đối với các hộ, cá nhân chưa lập thủ tục thuê đất thì thời điểm tính tiền thuê đất được xác định từ ngày UBND tỉnh ra quyết định dự án trồng cao su (từ năm 2007-2009).

Đối với các hộ, cá nhân đã lập thủ tục thuê đất nhưng thời điểm lập thủ tục sau thời gian nhận đất trên thực tế thì cũng sẽ căn cứ vào ngày UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt dự án để tính tiền thuê đất.

Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước chưa nêu số tiền cụ thể sẽ truy thu từ các cán bộ, hộ gia đình và cá nhân chưa nộp tiền thuê đất là bao nhiêu.

Bộ TN&MT giao Cục Quy hoạch đất đai kiểm tra trực tiếp

Liên quan việc “ban phát đất rừng cho quan chức” mà báo Tuổi Trẻ đã nêu, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Văn Lịch – phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN&MT) – cho biết sau khi báo Tuổi Trẻ có một số bài đề cập đến nội dung “ban phát đất rừng”, Bộ TN&MT đã yêu cầu Sở TN&MT tỉnh Bình Phước báo cáo và nhận được báo cáo “giải trình” của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước.

Theo ông Lịch, việc Sở TN&MT Bình Phước báo cáo cũng chỉ là thông tin từ một phía. Vì vậy để có đầy đủ cơ sở, Tổng cục Quản lý đất đai đã giao Cục Quy hoạch đất đai lập đoàn kiểm tra vào kiểm tra thực tiễn trong Bình Phước.

Ông Lịch cho biết hiện đoàn kiểm tra của Cục Quy hoạch đất đai đang xem xét từng vấn đề, sau đó sẽ có báo cáo kết luận về những việc cụ thể trong giao đất rừng tại Bình Phước. “Tới đây có kết luận cụ thể về việc giao đất rừng, chúng tôi sẽ có báo cáo cụ thể gửi Bộ TN&MT và gửi tới báo” – ông Lịch nói.

Theo một lãnh đạo Cục Quy hoạch đất đai, bước đầu trong quá trình kiểm tra cho thấy có một số vấn đề trong giao đất rừng ở Bình Phước cần phải xem xét kỹ như việc tỉnh này chưa có văn bản quy định về tiêu chí cụ thể trong giao đất rừng.

X.Long/tuoitre.vn