Cần thêm chế tài ràng buộc trách nhiệm của chính quyền địa phương

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014
Cần thêm chế tài ràng buộc trách nhiệm của chính quyền địa phương

Lâm trường quốc doanh, nay là các ban quản lý rừng phòng hộ và công ty lâm nghiệp, đang quản lý diện tích lớn đất lâm nghiệp đất rừng phòng hộ. Kết quả giám sát tại Bình Phước, Đồng Nai và Bình Thuận cho thấy, việc sử dụng đất rừng ở phần lớn các đơn vị này chưa thật sự hiệu quả, còn để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên. Nhưng đây hoàn toàn do vướng về cơ chế, hay còn bởi chính quyền địa phương chưa làm tròn trách nhiệm?
Báo cáo của Chính phủ cũng như thực tế khảo sát tại 3 địa phương cho thấy, tình trạng tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai trong các lâm trường vẫn còn nhiều dưới các hình thức như: lấn chiếm đất đai, cho thuê, cho mượn đất, chuyển mục đích, chuyển nhượng đất trái pháp luật… Nhiều trường hợp kéo dài đã nhiều năm nhưng chậm được giải quyết. Tại Bình Phước, theo kết quả rà soát của UBND tỉnh, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm từ trước đến nay trên địa bàn là 56 nghìn hécta, tập trung tại hai huyện Bù Đăng và Bù Gia Mập. Tại Bình Thuận, trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2011, diện tích rừng bị phá, lấn, chiếm cũng lên tới hàng trăm hécta. Tình hình khai thác lâm sản trái pháp luật, phá rừng, lấn, chiếm đất diễn ra phức tạp, gay gắt ở một số huyện giáp ranh với các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và địa bàn nội địa huyện Tánh Linh – nơi có Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, Ban Quản lý Rừng phòng hộ La Ngà. Còn ở Đồng Nai, diện tích đất lấn chiếm cũng lên tới 2.300ha.

Theo lãnh đạo các địa phương, sở dĩ để xảy ra tình trạng nêu trên có nguyên nhân do nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng còn hạn chế. Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, nhất là hệ thống nhà trạm bảo vệ rừng thiếu hoàn chỉnh. Chế độ đãi ngộ cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng chưa tương xứng với điều kiện sống, làm việc khó khăn, vất vả, nguy hiểm của nghề. Chính sách hỗ trợ về chi phí bảo vệ rừng hiện nay (200.000đ/ha/năm) chưa đáp ứng cho chi phí thực tế để thực hiện bảo vệ rừng đối với diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng, đồng thời không bảo đảm được đời sống sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình nhận khoán.

Các địa phương cũng thẳng thắn thừa nhận, lâm trường quốc doanh sau sắp xếp, đổi mới thành các ban quản lý, công ty lâm nghiệp thì hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao so với nguồn lực đất đai được giao. Các công ty lâm nghiệp có nguồn vốn hoạt động hạn chế, việc tiếp cận các nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh lại gặp khó khăn do không có tài sản thế chấp. Về mặt chủ quan, công tác quản lý tài chính, tài sản tại một số công ty chưa chặt chẽ, có công ty vi phạm phải kỷ luật cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cơ cấu tổ chức ở một số công ty nặng về quản lý hành chính, tỷ lệ nhân lực chưa qua đào tạo còn cao. Một số công ty lâm nghiệp được chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh đang là đơn vị sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách, nhiệm vụ chính là quản lý bảo vệ rừng nên khi chuyển sang cơ chế tự sản xuất kinh doanh, hạch toán độc lập thì lúng túng. Và một thực tế mà Đoàn giám sát chỉ ra là hầu hết các công ty lâm nghiệp chưa chủ động ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.

Từ góc độ địa phương, lãnh đạo các tỉnh nêu khó khăn về cơ chế quản lý, sử dụng rừng, liên kết, hợp tác đầu tư, giao khoán đất lâm nghiệp chưa được hướng dẫn thực hiện thống nhất. Theo số liệu của Chính phủ, so với trước khi sắp xếp, diện tích đất lâm nghiệp do các công ty lâm nghiệp tự tổ chức sản xuất giảm còn 66,5%. Nhưng do thiếu nguồn lao động, nguồn vốn nên với hình thức này, một số diện tích rừng và đất của công ty lâm nghiệp hầu như không có người quản lý. Các công ty đã áp dụng các hình thức khoán bao gồm khoán theo năm, khoán theo công đoạn theo Nghị định 01/CP, Nghị định 135/2005, giao khoán và quy định hưởng lợi theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg. Việc tự tổ chức sản xuất hay khoán được thực hiện theo các hình thức khác nhau ở từng địa phương, từng công ty. Ví dụ ở Công ty TNHH Cao su Phú Riềng – Bình Phước thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam tự tổ chức sản xuất là chủ yếu. Còn tại Công ty lâm nghiệp Sông Dinh, Bình Thuận thì có cả diện tích đất giao khoán theo Nghị định 135 và đất liên doanh, liên kết với các đơn vị khác.

Theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg, các ban quản lý rừng phòng hộ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu. Bên cạnh nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chức năng quan trọng khác của ban quản lý rừng phòng hộ là quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng rừng phòng hộ. Kết quả giám sát thực tế cho thấy hầu hết các ban quản lý hoạt động không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp. Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong, Bình Thuận – đơn vị được giao quản lý gần 22 nghìn hécta đất, trong đó diện tích đất rừng phòng hộ chiếm hơn 10 nghìn hécta – lợi nhuận sau thuế năm 2014 chỉ là 472 triệu đồng và được nộp lại hoàn toàn cho ngân sách nhà nước. Theo Ban Quản lý thì đơn vị đã làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, phát hiện kịp thời nhiều trường hợp vi phạm quy định bảo vệ rừng nghiêm trọng. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn, do thu nhập từ rừng của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng chưa bảo đảm được cuộc sống, nên họ chưa thực sự tâm huyết. Lý giải cho tình trạng này, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong cho rằng do định mức bảo vệ rừng hiện nay không phù hợp. Với định mức 700ha/người, thì thực tế là một người không thể bảo vệ được 700ha rừng, đặc biệt ở các khu vực địa hình hiểm trở.

Ghi nhận phản ánh từ các địa phương, ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp và đúng là cơ chế quản lý bảo vệ rừng hiện chưa thật sự phù hợp với thực tế, song nhiều thành viên Đoàn giám sát thẳng thắn chỉ ra một số nguyên nhân không thuộc về cơ chế. Ví dụ, nhiều địa phương đều hiểu về định mức bảo vệ rừng 700ha/người như Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong, nhưng đây là cách hiểu không chính xác. Bởi lẽ, 700ha/người là định mức tối đa, có nghĩa là các địa phương có thể chủ động điều chỉnh diện tích đất rừng giao cho mỗi cá nhân bảo vệ phù hợp với tình hình thực tế. Tương tự, mức chi phí bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha/năm chỉ là mức hỗ trợ từ nguồn kinh phí Trung ương. Như vậy tùy tình hình ngân sách, các địa phương cần cân đối để bổ sung nhằm khuyến khích hộ gia đình, tổ chức nhận khoán bảo vệ rừng.

Hiện nay, trong tổng số diện tích rừng giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong có hơn 50% diện tích là rừng sản xuất và thực tế phần lớn diện tích rừng sản xuất nằm ở đồi núi đá, địa hình hiểm trở. Do vậy, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong kiến nghị với Đoàn giám sát về việc Nhà nước cần xem xét đầu tư kinh phí bảo vệ đối với diện tích rừng sản xuất. Kiến nghị này đương nhiên không nhận được sự đồng thuận của Đoàn giám sát. Bởi lẽ hiện Chính phủ không quy định về định mức hỗ trợ trong công tác giao khoán, quản lý bảo vệ rừng, mà chỉ có phần hỗ trợ để bảo vệ diện tích rừng phòng hộ, còn đối với rừng sản xuất chỉ hỗ trợ bằng cơ chế khuyến khích. Thừa nhận thực tế này, song theo báo cáo của Bình Phước, thì do đặc thù của địa phương, diện tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất trên địa bàn hiện còn cần được bảo vệ nghiêm ngặt và với diện tích rừng này, Bình Phước đã đóng cửa rừng, nguồn thu từ rừng sản xuất là không có. Do vậy, Bình Phước đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ kinh phí khoán bảo vệ rừng.

Tham gia Đoàn giám sát, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt câu hỏi: tại sao hơn 50% diện tích đất rừng thuộc ban quản lý rừng phòng hộ lại là đất rừng sản xuất, trong khi diện tích đất rừng này ít giá trị sản xuất mà thực tế là có giá trị phòng hộ? Trách nhiệm thẩm định, quy hoạch và phân loại đất rừng không chính xác như vậy thuộc về ai?

Trong hầu hết báo cáo của các địa phương, ban quản lý rừng hay công ty lâm nghiệp, phần nêu tồn tại, hạn chế của công tác quản lý, sử dụng đất rừng hầu hết đều có điệp khúc: việc triển khai quán triệt tuyên truyền phổ biến chính sách quản lý đất lâm nghiệp, giao khoán đất rừng còn hạn chế, chưa sâu rộng đến tất cả các đối tượng liên quan. Và giải pháp được đưa ra thường là tăng cường, đẩy mạnh công tác tuyên truyền… Theo Đoàn giám sát thì đây là những nhận định, đánh giá được đưa ra như một công thức, không quy trách nhiệm cho ai và cũng không rõ ràng về giải pháp. Luật Đất đai QH mới sửa đổi năm 2013 đã có nhiều quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý đất đai. Nhưng rõ ràng với tình trạng trách nhiệm không rõ ràng như vậy, dù có thay đổi về cơ chế, thì điều gì bảo đảm hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng lên, đất rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn? Mặt khác, vấn đề trách nhiệm của một số chính quyền địa phương đối với quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn còn thể hiện ở khá nhiều khía cạnh khác. Hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều công ty lâm nghiệp không hiệu quả, do bộ máy quản lý chưa chủ động, không đủ năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, nhưng chính quyền địa phương không thu hồi diện tích đất không được sử dụng hiệu quả này để giao lại cho đơn vị khác, hoặc người dân(?). Cũng tại các báo cáo này, nguyên nhân của hầu hết các tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng là do khách quan hoặc có nguyên nhân chủ quan, nhưng khá chung chung. Tương tự như vậy, phần kiến nghị cũng không cụ thể, hoặc có thì chủ yếu là đề nghị Trung ương rót thêm vốn, có chính sách hỗ trợ kinh phí khoán bảo vệ rừng…(?)

Trong đợt giám sát Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 – 2014 tại nhiều địa phương, đơn vị vừa qua, một trong những đề xuất chung được nêu ra là sau giám sát chuyên đề này, QH cần nghiên cứu ra nghị quyết đối với lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, có cơ sở pháp lý để đổi mới cơ chế, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh – mô hình đã có lịch sử hình thành và phát triển gần 60 năm qua với những đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội đất nước, xóa đói giảm nghèo, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn của đất nước. Và từ kết quả giám sát thực tế tại Bình Phước, Đồng Nai và Bình Thuận, có thể cần nghiên cứu, bổ sung chế tài để ràng buộc trách nhiệm của các địa phương đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường trên địa bàn, trong đó có quản lý, bảo vệ rừng đối với chính quyền địa phương. Bởi hơn ai hết, chính quyền địa phương nắm và hiểu rõ nhất tình hình đất đai, đặc điểm địa hình cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các ban quản lý, công ty lâm nghiệp trên địa bàn.

Có như vậy, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường, mới được thực thi, triển khai một cách đầy đủ, chính xác, mang lại hiệu quả như mong muốn, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn, tránh được tình trạng buông lỏng trách nhiệm đối với đất đai nông lâm trường.

Ngọc Điệp/daibieunhandan

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s