Monthly Archives: Tháng Sáu 2015

Nguy cơ xóa sổ rừng thông

Tình trạng dùng hóa chất để làm chết cây thông đã từng diễn ra lâu nay ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, thời gian gần đây do nhu cầu đất trồng cà phê, hồ tiêu, cao su hay san ủi làm nhà… tăng cao nên vấn nạn này trở nên khá nhức nhối, đặc biệt tại Đắk Nông và Lâm Đồng.

Xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song (Đắk Nông) một trong những điểm “nóng” của tình trạng sử dụng hóa chất đầu độc rừng thông. Tại đây, chỉ trong thời gian ngắn, hàng chục ha rừng thông đã bị xóa sổ. Khu vực rừng thông bị hủy hoại nhiều nhất thuộc khu vực bản Đắk Lép.

Theo đó, thực hiện chủ trương giao khoán đất rừng cho hộ dân quản lý và bảo vệ, nhiều hộ dân ở bản Đắk Lép được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông giao quản lý, bảo vệ hơn 140 ha rừng thông. Toàn bộ diện tích rừng thông trên được trồng từ năm 1986, có nhiều cây đường kính lên đến hơn 45 cm.

Cây thông bị đổ hoá chất rất khó để cứu chữa

Cây thông bị đổ hoá chất rất khó để cứu chữa

Cây thông bị đổ hoá chất rất khó để cứu chữa

Tuy nhiên, mới đây qua kiểm tra cơ quan chức năng Đắk Nông phát hiện hơn 10 ha rừng thông với khoảng 15 nghìn cây thông bị chết do bị đầu độc bằng hóa chất. Ông Mông Văn Quân, Tổ quản lý, bảo vệ rừng bản Đắk Lép cho biết, tình trạng bức tử cây thông đã diễn ra từ nhiều năm nay, đặc biệt nghiêm trọng khi chính quyền thi công tuyến đường liên xã đi qua khu vực rừng thông.

Trước đây, trên con đường nối liền xã Nâm N’Jang và Đác N’Đrung, người đi đường dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cánh rừng thông xanh bạt ngàn, xanh ngát. Đến nay, thay vào đó là những vệt rừng loang lổ với nhiều cây thông đã chết đứng, khô khốc trơ trọi…

Tương tự, tại Lâm Đồng nơi được mệnh danh là “xứ sở ngàn thông”, nhiều cánh rừng thông ở đây cũng đang đứng trước nguy cơ xoá sổ, do bị bơm hoá chất vào thân cây… Chỉ trong một thời gian ngắn, cơ quan chức năng ở Lâm Đồng liên tục bắt quả tang nhiều đối tượng đầu độc rừng thông bằng cách đổ hoá chất, hoặc ken cây (lột một khoanh vỏ quanh gốc cây, để cây chết dần dần…).

Mới đây, công an TP. Bảo Lộc bắt khẩn cấp đối tượng Phạm Văn Hải do có hành vi hủy hoại rừng. Bước đầu, qua đấu tranh Hải khai nhận cùng 2 người khác đầu độc rừng thông tại tiểu khu 466A, thuộc địa phận xã Đambri từ cuối tháng 5/2014. Ngoài ra, Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương cũng đã bắt quả tang Nguyễn Văn Dũng đang chặt hạ và ken cây trên diện tích hơn 6.200m2 tại tiểu khu 143 thuộc địa bàn xã Đạ Sar.

Tại hiện trường có 17 cây thông ba lá với đường kính gốc từ 9 – 38cm bị chặt hạ và 12 cây thông khác đã bị ken. Ngay sau đó, lực lượng kiểm lâm bàn giao hồ sơ cho công an huyện Lạc Dương để khám nghiệm hiện trường, tiếp tục điều tra khởi tố vụ án huỷ hoại rừng đối với đối tượng Nguyễn Văn Dũng…

Có thể nói tình trạng bức tử rừng thông đang nóng lên ở “xứ sở ngàn thông”. Từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn Lâm Đồng xảy ra hơn 150 vụ ken cây, đầu độc rừng thông bằng hoá chất. Hệ quả đã có hàng ngàn cây thông đã bị bức tử tại các huyện Lạc Dương, Lâm Hà… Chỉ tính riêng trên địa bàn điểm “nóng” Lạc Dương từ đầu năm 2014 đến nay lực lượng chức năng phát hiện 19 vụ rạch vỏ, đổ hóa chất làm chết cây thông…

Thủ đoạn bức tử cây thông của các đối tượng chủ yếu là khoan ở gốc cây hoặc một số đoạn trên thân cây một lỗ nhỏ, sau đó đổ hóa chất chủ yếu là thuốc diệt cỏ vào các vị trí lỗ khoan. Theo ông Trịnh Ngũ Hùng, trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, hoạt động của các đối tượng rất tinh vi, ngoài việc gọt đẽo thân cây, còn dùng khoan tay khoan lỗ bằng chiếc đũa sâu khoảng 4 – 5cm lên thân cây, sau đó đổ thuốc diệt cỏ vào.

Chỉ sau một thời gian cây sẽ vàng lá, héo khô cành và chết dần. Thời gian từ lúc bị “đầu độc”, ngấm thuốc cho đến lúc cây bị chết chỉ trong vòng từ 2 – 3 tháng, đổ càng nhiều hoá chất thì thời gian cây thông chết càng nhanh. Đặc biệt nguy hiểm khi cây thông đã bị đổ hoá chất thì hầu như là vô phương cứu chữa…

Nguy hiểm hơn khi các hình thức triệt hạ cây thông rất khó bắt quả tang, bởi dễ dàng thực hiện vào bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên, thời gian cây bị “xử lý” vẫn chủ yếu diễn ra vào ban đêm. Ngoài ra, do lỗ khoan rất nhỏ và được ngụy trang rất kín nên rất khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc phát hiện xử lý…

Ngoài mục đích triệt phá rừng thông để lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm nhà… nguyên nhân chính khiến tình trạng các cánh rừng thông ở Tây Nguyên liên tục bị xâm hại còn do chế tài xử phạt các đối tượng phá rừng còn chưa nghiêm. Lâu nay chế tài xử phạt đối với những đối tượng phá rừng còn nhẹ, chủ yếu xử tù treo hoặc xử phạt hành chính nên chưa đủ sức răn đe.

Do vậy, theo nhiều người để bảo vệ các cánh rừng thông ngoài công tác tuyên truyền, giáo dục các ngành chức năng và chính quyền địa phương cần nhanh chóng vào cuộc, sớm có những giải pháp “mạnh tay”, đồng thời tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các đối tượng tàn phá rừng thông nhằm ngăn chặn, bảo vệ những cánh rừng thông trước nguy cơ bị xóa sổ ngày càng lan rộng.

Nguyễn Thanh/thoibaonganhang

Gia lai: Cán bộ lâm trường chiếm đất của dân

200ha đất của người dân khai hoang đã bị ông Nam, ông Phúc làm sổ đỏ. Ảnh: Đ.Văn

200ha đất của người dân khai hoang đã bị ông Nam, ông Phúc làm sổ đỏ. Ảnh: Đ.Văn

Thực hiện chương trình đi Kinh tế mới, trên 70 hộ dân (thôn 3, xã Đắc Jơ Ta, huyện Mang Yang, Gia Lai) được Nhà nước cho phép khai hoang khoảng 200ha đất để sản xuất. Sau thời gian trồng trọt, đất không còn phù hợp với cây sắn (mì), người dân đành cho cán bộ lâm trường huyện thuê. Đến hạn không thấy trả, 70 hộ dân lên xã kiến nghị, phát hiện đất đã bị cán bộ làm sổ đỏ tự bao giờ.

Vụ tiêu cực ở Bình Thuận: Cán bộ Nhà nước chiếm đất rừng của Nhà nước để… bán!
Vụ tiêu cực ở Bình Thuận: Chuyện cán bộ Nhà nước chiếm đất rừng của Nhà nước để bán là chính xác
Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà: Nạn lấn chiếm đất rừng vẫn tiếp diễn
Đi thuê …rồi chiếm luôn

Năm 1977, thực hiện chương trình đi xây dựng kinh tế theo chủ trương của Nhà nước, các hộ dân từ huyện Hoài Nhơn (Bình Định) lên định cư tại thôn 3 xã Đắc Jơ Ta (huyện Mang Yang). Các hộ được Nhà nước hỗ trợ 6 tháng ăn ban đầu, tiếp đó, cho phép khai hoang 200ha đất rừng – đồi để lấy đất sản xuất. Vì đất đồi nên cây sắn là lựa chọn tối ưu, nhưng sau một thời gian canh tác, đất chuyển bạc màu, cây sắn phát triển èo uột, còi cọc, kém năng suất. Số ít hộ dân bỏ hoang đất, chờ lựa chọn giống cây trồng mới phù hợp.

“Năm 2003, Chủ tịch UBND xã Ayun – ông Đinh Phíp (đã mất), cùng Phó Chủ tịch – ông Nguyễn Hồng Phước – đến họp dân thông báo, ai bỏ hoang đất 6 tháng, không chịu canh tác thì sẽ bị xã thu hồi” – bà Võ Thị Anh (trú thôn 3, xã Đắc Jơ Ta) kể. “Bất ngờ” là chỉ 5 ngày sau, ông Phan Văn Phúc (trú xã Đắc Yă) và ông Nguyễn Duyên Nam (trú TT.Kon Dơng, cùng huyện Mang Yang) đến xin thuê đất với giá 500.000 đồng/ha. Người dân cho biết, sau khi đo đạc đất, ông Nam và ông Phúc tổ chức họp thôn, đưa ra một tờ giấy bản to, ghi sẵn tập thể tên người dân cùng số diện tích đất cho thuê. Người dân lần lượt ký tên vào cùng một tờ giấy và nhận đủ số tiền tương ứng. Kết quả, có khoảng 200ha đất được ông Nam và ông Phúc thuê lại của trên 70 hộ dân.

Ba đời chủ tịch huyện… vụ việc mới phát hiện

Đã quá thời hạn thu hoạch (5 năm/chu kỳ) nhưng ông Nam và ông Phúc không chịu trả đất cho dân. Bức xúc, tập thể các hộ dân đến UBND xã Đắc Jơ Ta (đã tách từ xã Ayun năm 2006) kiến nghị, bất ngờ thay, 200ha đất của các hộ dân đã được UBND huyện Mang Yang lần lượt cấp sổ đỏ cho ông Nam và ông Phúc vào các năm 2004, 2006.

Chị Nguyễn Thị Thái Hậu (trú thôn 3, xã Đắc Jơ Ta) bức xúc: “Chúng tôi kiến nghị xem tờ giấy dân ký nhận tiền thời điểm năm 2003, cán bộ địa chính xã đưa ra thì bây giờ tờ giấy đó “biến” thành hợp đồng bán đất vô thời hạn. Lên đòi lại thì đất đã được cấp sổ đỏ”. Ông Phan Sáng khẳng định, người dân cùng kí tên nhận tiền vào một tờ giấy có tên là hợp đồng thuê đất. Giờ lên xã, mỗi hộ dân đều có một tờ giấy sang nhượng, bán đất và đều có cùng một mẫu chữ. Ngay cả bà Trần Thị Sơn (SN 1942, trú thôn 3, xã Đắc Jơ Ta) – lúc nhận tiền không biết chữ phải chỉ điểm – bây giờ “chữ kí” của bà lại xuất hiện trong tờ “giấy sang nhượng”.

Phó Trưởng CA huyện Mang Yang – anh Ksor Định khẳng định, ông Nguyễn Văn Phúc – nguyên là cán bộ lâm trường huyện Mang Yang, giờ đã bán đất, bán nhà vào TP.Hồ Chí Minh sinh sống.

“Qua điều tra chúng tôi thống kê có 18 người đứng tên (gồm ông Phúc, ông Nam) “mua” đất của trên 70 hộ dân. Sau đó, ông Phúc và ông Nam gom tất cả số đất đó lại, “hợp pháp hóa” thành tên của mình. Bây giờ tôi nghe thông tin báo lại, số đất trên đã lại mang tên hai người khác”, thiếu tá Ksor Định – Phó trưởng CA huyện Mang Yang – cho biết.

Trao đổi với báo Lao Động, Chủ tịch UBND huyện Mang Yang – ông Nguyễn Như Phi – khẳng định: “Chúng tôi đang chỉ đạo Thanh tra huyện vào cuộc, nếu kết luận dân nói đúng, tức là có dấu hiệu lừa đảo ở đây. Nếu Thanh tra kết luận có dấu hiệu lừa đảo, tức là hành vi phạm tội thì chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra”.

laodong.com

Thực trạng chiếm rừng thành đất nông nghiệp: Đâu rồi cả cây và đất?

Đến nay, các tỉnh Tây Nguyên cơ bản hoàn thành việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho người dân tại chỗ quản lý, bảo vệ.

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng đã thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào; góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Các địa phương vẫn lơ là trong công tác quản lý rừng

Các địa phương vẫn lơ là trong công tác quản lý rừng

Tuy nhiên, sau một thời gian dài thực hiện các chủ trương về giao rừng, khoán bảo vệ rừng đã nảy sinh các tồn tại. Nhiều chủ rừng lơ là trong công tác quản lý, bảo vệ rừng dẫn đến nhiều diện tích rừng được giao, khoán cho địa phương và người dân quản lý bị xâm hại nghiêm trọng. Đặc biệt, sự lơi lỏng trong quản lý rừng đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân “hô biến” hàng trăm ha rừng, đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp. Đây là thực trạng chung đang diễn ra tại các tỉnh Tây Nguyên.

Gia Lai hiện có gần 900.000ha rừng, đất rừng được chính quyền địa phương phê duyệt theo 3 loại: rừng sản xuất 660.000ha, rừng phòng hộ 155.000ha và rừng đặc dụng gần 60.000ha. Trong đó, diện tích rừng giao cho cấp xã trực tiếp quản lý, bảo vệ có đến gần 300.000ha; đặc biệt có xã quản lý nhiều đến 10.000ha rừng…

Việc giao rừng cho cấp xã quản lý, bảo vệ mà không tăng thêm biên chế, chi phí, không có cán bộ chuyên trách nên không tránh khỏi tình trạng “cha chung không ai khóc”. Hơn nữa, người đứng đầu cấp xã, nhất là ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì hay ngại va chạm khi người có vi phạm, nên gặp khó trong việc xử lý, nhất là trong nạn phá rừng làm rẫy, thậm chí là tiếp tay cho lâm tặc chặt hạ gỗ trái phép của đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo thống kê từ ngành chức năng, riêng năm 2014 tại Gia Lai trong 881 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đã có tới 28 vụ phá rừng trái phép, 53 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác. Các chủ rừng (đơn vị quản lý rừng) cho biết, việc xâm hại rừng trái phép cũng có nhiều kiểu.

Diện tích đất rừng thuộc các tiểu khu gần thành phố, thị trấn có giá trị kinh tế cao, nên người dân thường xuyên lén chặt phá rừng lấn chiếm đất. Diện tích đất rừng nằm sâu ở các khe sông, suối không thể trồng rừng được, cũng bị chiếm dụng…

Theo ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, mức độ vi phạm của các đối tượng ngày càng tinh vi, manh động và có tổ chức chặt chẽ. Việc lơ là trong quản lý rừng của các chủ rừng không những tạo điều kiện cho người dân xâm lấn đất rừng để làm rẫy, mà còn bị lâm tặc lợi dụng người đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tiếp tay cho thủ đoạn phá rừng.

Khi xẻ gỗ ra từng miếng nhỏ, lâm tặc thường thuê bà con người dân tộc thiểu số vận chuyển, với cách khai thác này rất dễ dàng qua mắt được cơ quan chức năng.

Thực tế tại địa phương này cho thấy, tình trạng xâm chiếm đất rừng trái phép lấy đất sản xuất tại các lâm phần do các chủ rừng quản lý thường xuyên xảy ra, song việc ngăn ngừa lại rất khó. Quá trình xâm hại rừng trái phép thường diễn ra theo cách người dân lợi dụng việc làm rẫy, nhất là vào mùa mưa lén chặt một vài cây bỏ đó.

Đến mùa khô cây bị chết thì “giải phóng” hiện trường, mở rộng đất sản xuất. Bên cạnh cách xâm hại rừng và đất rừng trên, không ít người dân lợi dụng chủ trương chuyển rừng nghèo sang trồng cao su đã lén chặt cây, chiếm đất sản xuất với mục đích để được nhận đền bù khi dự án thực hiện.

Ngoài những vụ xâm lấn nhỏ lẻ, tại Gia Lai cũng đã diễn ra một số vụ phá rừng với quy mô lớn để biến đất rừng thành đất nông nghiệp. Ví như, vụ phá rừng quy mô 700ha tại xã Pờ Tó, huyện Ia Pa (Gia Lai) thuộc lâm phần quản lý của Ban quản lý rừng Ayun Pa.

Và nữa, là vụ 700ha đất có rừng biến thành đất nông nghiệp, được nông dân sử dụng để trồng mì, mía xuất phát từ việc giao khoán quản lý, bảo vệ rừng theo Quyết định 178 của Thủ tướng Chính phủ. Điều đáng nói là trong quá trình tổ chức thực hiện Quyết định 178, thì chủ rừng có thực hiện đề án giao khoán rừng, song chưa được chính quyền địa phương phê duyệt đã tiến hành giao khoán rừng.

Tất cả những điều đó cho thấy, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đang diễn biến khá phức tạp, do dân số tăng nhanh, vấn đề di cư tự do, nhu cầu về quỹ đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, nạn mua bán đất đai trái phép diễn ra ở nhiều nơi dưới nhiều hình thức khác nhau, nạn lâm tặc ngày càng sử dụng các hình thức khai thác gỗ tinh vi…

Trước thực trạng đó, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã làm việc với tỉnh Gia Lai và các ban, ngành chức năng. Những vấn đề bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ở cấp xã đã được đưa ra bàn nghị sự; nhiều phương án đã được bàn tới nhằm làm thay đổi việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng…

Để công tác giao rừng, khoán bảo vệ rừng phát huy hiệu qua, ông Nhĩ đề xuất, nên có phương án hình thành các Ban Quản lý rừng cùng với lực lượng cấp cơ sở để quản lý, bảo vệ rừng sẽ hiệu quả hơn, bởi đây chính là lực lượng có chuyên môn và mang tính chuyên nghiệp cao.

Sau đó tiến tới việc giao khoán rừng đến tận hộ dân quản lý trên cơ sở có sự điều chỉnh về chế độ, chính sách để người dân thực sự được hưởng lợi và gắn bó cuộc sống với rừng.

Chí Thiện/thoibaonganhang.vn

Giang hồ “xẻ thịt” đất rừng phân lô bán giá “bèo”: Chính quyền né trách nhiệm

Các đối tượng mà theo UBND P.10 là hoạt động theo kiểu giang hồ đang mặc sức xẻ đất rừng bán cho những người dân cả tin, kiếm lợi số tiền khổng lồ lên tới hàng tỉ đồng. Các cơ quan chức năng lại đang đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Vậy cơ quan nào mới phải chịu trách nhiệm về tình trạng xẻ thịt đất rừng này. Khi hậu quả, là nhiều người dân bị lừa trắng trợn, xây cất nhà cửa trên đất rừng.

Đất rừng bị giang hồ “xẻ thịt” phân lô bán giá “bèo”?

Lợp nhà mái tôn bên ngoài để xây dựng nhà kiên cố trái phép bên trong. Ảnh: Lê Ngân

Lợp nhà mái tôn bên ngoài để xây dựng nhà kiên cố trái phép bên trong. Ảnh: Lê Ngân

Thủ đoạn biến đất rừng thành khu dân cư

Theo tìm hiểu, chúng tôi được biết khu đất này bị một nhóm giang hồ đứng ra “cai thầu” bán cho người dân. Nhóm người này hoạt động, người đứng đầu nhóm giang hồ mang tên Tuấn. Khi hỏi thông tin về người tên Tuấn thì không ai hay biết. Nhóm giang hồ này lợi dụng những khu đất “nhập nhằng” trong công tác quản lý để đứng ra “cai thầu”, dùng tiền bạc xây dựng nhà kiên cố để bán hoặc phân lô bán nền.

Thậm chí, để tạo lòng tin cho người dân, các đối tượng này còn xây dựng đường bêtông, mạng lưới điện, hệ thống nước đầy đủ vào tận nhà. Để qua mặt cơ quan quản lý tại địa bàn là UBND phường, các đối tượng này sẽ tiến hành “xây nhà cấp tốc mà không bị tháo dỡ”. Chúng tôi được người dân hướng dẫn cách mà các đối tượng này xây cất nhà cấp tốc như sau: “Ban đầu các chú cứ dựng nhà tôn, đợi đến thứ bảy, chủ nhật hoặc nghỉ lễ, chú cho thợ vào bên trong nhà tôn xây lên, nhanh lắm, chỉ 2 ngày nghỉ cuối tuần là xong cái nhà.

Cũng theo UBND P.10, diện tích đất đang bị lấn chiếm để phân lô bán nền thuộc đất lâm nghiệp hiện do phòng Kinh tế – UBND TP.Vũng Tàu quản lý. Hiện nay, nhiều đối tượng đã thực hiện san gạt, chặt cây cắm cọc phân lô bán nền trên khu đất với giá 100 triệu đồng/nền (gần 100m2).

Nhập nhằng cơ quan quản lý khu đất

Theo Quyết định số 7399, ngày 8.10.2004, của UBND tỉnh về việc thu hồi 573.131,2m2 đất tại khu Chí Linh, phường 10 (TP.Vũng Tàu) để lập dự án đầu tư xây dựng khu tái định cư TP.Vũng Tàu, thì UBND TP.Vũng Tàu có trách nhiệm tổng hợp và ra quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể của từng hộ gia đình, cá nhân và tổ chức; Tiến hành lập phương án tổng thể, bồi thường, giải phóng mặt bằng trình UBND tỉnh phê duyệt. Đồng thời, hướng dẫn trung tâm phát triển quỹ đất thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Trung tâm phát triển quỹ đất là đơn vị trực tiếp quản lý khu đất; Lập dự án đầu tư xây dựng khu tái định cư theo quy định của pháp luật; Có trách nhiệm thực hiện việc thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng trên khu đất đã được giao, kinh phí bồi thường, hỗ trợ theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, đã hơn 10 năm kể từ ngày có quyết định, dự án khu tái định cư phường 10 (TP.Vũng Tàu) vẫn nằm bất động.

Ông Ra Thành Trung – Phó Trưởng phòng bồi thường thuộc Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh – cho biết, theo quyết định của UBND tỉnh, trung tâm chỉ quản lý khu đất khi đã được bàn giao. UBND TP.Vũng Tàu có trách nhiệm thu hồi, bàn giao đất sạch cho trung tâm. Nhưng trung tâm chưa nhận được mặt bằng sạch từ UBND TP.Vũng Tàu.

Ngày 14.5.2007, UBND TP.Vũng Tàu ra quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho những hộ nhận khoán nhưng nhiều hộ không đồng ý nhận tiền. Vì vậy, khu đất trên vẫn là đất lâm nghiệp thuộc quản lý của Phòng Kinh tế TP.Vũng Tàu. “Mặc dù, chưa nhận được mặt bằng, nhưng với trách nhiệm là chủ dự án nên chúng tôi vẫn duy trì đội bảo vệ để khi phát hiện tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép trên khu đất thì báo cho chính quyền địa phương ngăn chặn xử lý” – ông Trung nói.

Phòng Kinh tế TP.Vũng Tàu cho biết, năm 2010, Công ty CP phát triển công viên cây xanh và đô thị Vũng Tàu bàn giao toàn bộ diện tích đất rừng nhận khoán trên địa bàn TP.Vũng Tàu cho phòng kinh tế quản lý. Trong dự án 58ha có 10 hộ nhận khoán trồng rừng theo chương trình 327. Tuy nhiên, 10 hộ nhận khoán rừng nằm trong dự án 58ha Công ty CP phát triển công viên cây xanh và đô thị Vũng Tàu chỉ bàn giao giấy hợp đồng nhận khoán, không bàn giao diện tích thực địa (diện tích bàn giao bằng không). Vì vậy, phòng không quản lý diện tích đất rừng nằm trong dự án 58ha.

Đại diện Công ty CP phát triển công viên cây xanh và đô thị Vũng Tàu cho biết, vì 10 hộ trên nằm trong diện tích đã có quyết định thu hồi nên công ty chỉ bàn giao cho phòng kinh tế về mặt giấy tờ. Trước đó, công ty được giao nhận khoán, trồng rừng trên địa bàn TP.Vũng Tàu, nhưng từ khi bàn giao cho phòng kinh tế quản lý thì công ty đã hết trách nhiệm.

Lê Ngân- Hà Anh Chiến/laodong.com.vn

Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/05/2015 Về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia.

Nội dung của chỉ thị xin xem ở file đính kèm

Tổng hợp

Chương trình công tác tháng 5/2015 (Văn bản số 558/CTr-TCLN-VP ngày 07 tháng 5 năm 2015)

Chương trình công tác của Tổng cục lâm nghiệp tháng 5 2015

tongcuclamnghiep.gov.vn

Tập huấn “Quản lý mâu thuẫn và xung đột trong vận động chính sách

Trong khuôn khổ chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức thành viên mạng lưới, trong hai ngày 28-29/05/2016 tại Thiên Cầm, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, FORLAND đã tổ chức lớp tập huấn với chủ đề “Quản lý mâu thuẫn và xung đột trong vận động chính sách”. Đây là một trong những khóa tập huấn được các học viên đánh giá là đầy ý nghĩa vì tính phù hợp của nội dung này đối với các hoạt động hiện tại của các tổ chức thành viên Forland.

IMG_6506

Toàn cảnh lớp tập huấn

Lớp tập huấn đã ghi nhận sự tham gia của 22 thành viên là đại diện của 7 tổ chức thành viên: CRD, CORENARM, CIRD, RDPR, CISDOMA và CSRD. Kết thúc khóa tập huấn ban tổ chức mong đợi học viên : (i) Phân tích được mối liên hệ quan giữa “ngưỡng” chấp nhận sự khác biệt và nguy cơ mâu thuẫn, xung đột; (ii) Phân tích và xác định sớm các nguy cơ mâu thuẫn trong quá trình vận động chính sách và lựa chọn được giải pháp phù hợp để quản lý mâu thuẫn một cách hiệu quả và (iii) Thực hành một số kỹ năng hữu ích để kiểm soát nguy cơ và giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn nảy sinh.

Lớp tâp huấn được dẫn dắt bởi tập huấn viên Đỗ Thị Bích Thủy-CECEM(Trung tâm nâng cao năng lực cộng đồng), là tập huấn viên có nhiều kinh nghiệm trong vận động chính sách và quản lý các mâu thuẫn và xung động trong các hoạt động liên quan đến vận động chính sách. Băng phương pháp tiếp cận mới, tập huấn viên đã xây dựng nội dung lớp tập huấn lấy học viên là nhân tố trung tâm, dựa trên những kinh nghiệm hay những câu chuyện thực tế xảy ra trong đời sống của mỗi học viên để giúp học viên xây dựng nên khái niệm của mâu thuẫn và phân biệt được các dạng mâu thuẫn. Thông thường con người chỉ tập trung vào nhưng biểu hiện của mâu thuẫn từ bên ngoài mà quên đi căn nguyên sâu xa bên trong dẫn đến các mâu thuẫn/xung đột. Mâu thuẫn thường có thể được phân tách thành các dạng như sau: mẫu thuẫn lợi ích, mâu thuẫn về mục tiêu, mâu thuẫn về giá trị, mâu thuẫn nôi tại bản thân mỗi cá nhân, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà ta xác định loại mâu thuẫn và đưa ra các chiến lược giải quyết mâu thuẫn hợp lý nhất.

Giảng viên trao đổi với học viên

Giảng viên trao đổi với học viên

Khái niệm “ Ngưỡng” chấp nhận được cũng là một khái niệm mới trong quá trình tiếp cận với các chiến lược quản lý mâu thuẫn. Nếu cá nhân nào có “ Ngưỡng chấp nhận” càng lớn thì khả năng vận dụng các chiến lược quản lý và giải quyết mâu thuẫn càng hiệu quả. . “Quản lý mâu thuẫn là quá trinh thiết kết và thực hiện một chiến lược nhằm phát hiện mâu thuẫn, giảm thiểu những tác động tiệu cực đồng thời phát huy mặt tích cực để nâng cao tính ọc tập và hiệu qảu của một cơ quản/cá nhân”.(Rahim- Quản lý mâu thuấn trong tổ chức). Tùy theo dạng mâu thuẫn mà ta có thể chọn một trong bốn chiến lược quản lý sau: (i) Hợp tác: các bên tham gia coi trọng lợi ích của nhau và sẵn sang đối thoại, chai sẻ thông tin và cùng nhau đưa ra giải pháp; (ii) Rút lui: thông thường khi lựa chọn chiến lược này thì bên rút lui không coi trọng lợi ích của mình và việc rút lui này thậm chí có thể có hại cho cả hai bên;(iii)Chiến đấu: chiến lược này được lựa chọn khi một bên chỉ quan tâm đến lợi ích của mình và (iv) Nhượng bộ tạm thời: chiến lược này được lựa chọn khi các bên liên quan cùng thỏa thuận một giải pháp “cho/nhận” tạm thời để đáp ứng sự cấp bách của vấn đề.
Dù ở vị trí nào, trong vai trò gì thì người quản lý và giải quyết mâu thuẫn cũng cần phải thực hiện đầy đủ tiến trình như sau:

Tiến trình quản lý mâu thuẫn

Tiến trình quản lý mâu thuẫn

Quản lý mâu thuẫn nói chung hay hay quản lý mâu thuẫn trong vận động chính sách cần phải tuân thủ các tiến trình như trên. Thành công của một chiến dịch hay chương trình vận động chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của liên minh trong việc dự đoán trước các nguy cơ mâu thuẫn tiềm ẩn và lựa chọn chiến lược phù hợp để ngăn ngừa và hóa giải toàn bộ hoặc một phần mâu thuẫn. Tuy nhiên trong quá trinh giải quyết mâu thuẫn cần vận dụng hai kỹ năng sau một cách hiệu quả: kỹ năng đàm phán và kỹ năng làm việc người thuộc nhóm tính cách trái ngược.

Các tính cách khác nhau

Các tính cách khác nhau

Kỹ năng đàm phán trong quản lý và giải quyết mâu thuẫn

Kỹ năng đàm phán trong quản lý và giải quyết mâu thuẫn

Trên thực tế, việc quản lý và giải quyết mâu thuẫn xung đột cần được phối hợp nhiều kỹ năng khác nhau tuy nhiên điều mà học viên cần hiểu rõ là phải nắm vững 4 bước trong tiến trình giải quản lý và giải quyết các mâu thuẫn đó. Kết thúc lớp tập huấn nhiều học viên cũng có mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về nhiều kỹ năng liên quan đến việc quản lý mâu thuẫn/xung đột nói chung và quản lý mâu thuẫn xung đột trong vận động chính sách nói riêng.

Tài liệu khóa tập huấn

Một số hình ảnh lớp tập huấn:

IMG_6563 IMG_6561 IMG_6560

Toàn cảnh lớp tập huấn

IMG_6527

FORLAND

Forland: Hội nghị sơ kết giữa năm 2015

Ngày 27/05/2015, tại khách sạn Thiên Ý- Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh- Mạng lưới Đất rừng(FORLAND) đã tổ chức hội thảo sơ kết giữa năm 2015 . Hội thảo đã có sự tham gia của 25 thành viên là đại diện đến từ Tổ chức Oxfam và các tổ chức thành viên của mạng lưới. Hội nghị là cơ hội để các thành viên của mạng lưới gặp gỡ, trao đổi và chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai các hoạt động trong thực tế đồng thời tìm kiếm thêm cơ hội hợp tác để xây dựng nguồn lực cho FORLAND trong thời gian sắp tới.
Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên mạng lưới đã chia sẻ năm mục tiêu chính của hội nghị: (i) Chia sẻ các hoạt động của FORLAND đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm, (ii) Các tồn tại trong quá trình thực hiện các hoạt động của mạng lưới, (iii) Lập kế hoạch cho một số hoạt động sắp tới, (iv) Chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình các tổ chức triển khai các hoạt động, và (vi) Góp ý về báo cáo QAS cho toàn bộ hoạt động của liên minh.
Tại hội nghị, Ông Phạm Quang Tú- Đại diện tổ chức Oxfam chia sẻ: “Bên cạnh những khó khăn nội tại, FORLAND vẫn là mạng lưới có nhiều thành công đáng ghi nhận như: (i) Liên minh đầu tiên hoàn thành kế hoạch 2015 và kí thỏa thuận với Oxfam, (ii) Kỹ năng lập IBP và phân tích vấn đề rất tốt: kết nối với chính sách, các IBP của liên minh được phê duyệt ngay chỉ sau một lần góp ý của chương trình, (iii) Liên minh tổ chức nhiều hoạt động tăng cường năng lực của liên minh và trao đổi chia sẻ hoạt động và thông tin so với các liên minh khác, (iv) Sự tham gia của FORLAND trong các hoạt động chung của Chương trình hỗ trợ liên minh là rất tốt so với các các liên minh khác và (v) Các hoạt động của các IBP triển khai tương đối nhiều và đồng bộ giữa các IBP”
Nhiều đại biểu tham gia hội nghị đã thống nhất cần phải có những đánh giá và điều chỉnh tích cực để làm sao cho hoạt động vận động chính sách có hiệu quả và đảm bảo yếu tố đúng thời gian và phù hợp với các cơ hội vận động chính sách.
Bên cạnh những vấn đề trên, hội nghị cùng dành phần lớn thời gian để các đại biểu thảo luận về các chỉ số trong báo cáo QAS. Ban tổ chức và các thành viên nòng cốt của liên minh đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp để giúp điều chỉnh và hoàn thiện báo cáo giám sát đánh giá một cách tốt nhất. Theo nhiều ý kiến cho rằng báo cáo QAS của mạng lưới có chất lượng cao tuy nhiên đối với một số chỉ tiêu cần cụ thể hóa hơn bằng chứng để tăng tính thuyết phục đồng thời cán bộ MEL cũng chú ý về cấu trúc cũng như cách hành văn trong báo cáo giúp cho các thành viên hiểu rõ hơn các nội dung của báo cáo muốn thể hiện.
Hội nghị đã kết thúc với bài chia sẻ mang đầy giá trị của Ông Hán Duy Anh-nguyên chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp. Nội dung chính mà các đại biểu quan tâm là cơ chế giám sát và đánh giá các nông lâm trường hiện nay ở Hà Tĩnh. Đối với các công ty nông lâm nghiệp hoạt động không hiệu quả thì các cấp lãnh đạo có hướng giải quyết như thế nào trong tương lai: giải thể hay vẫn tiếp tục duy trì?

Biên bản hội nghị

Một số hình ảnh của hội nghị

Toàn cảnh hội nghị

Toàn cảnh hội nghị

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên FORLAND phát biểu khai mạc hội nghị

Ông Lê Văn Lân- Điều phối viên FORLAND phát biểu khai mạc hội nghị

Ông Nguyễn Văn Hoàng- CORENARM- chia sẻ về IBP PFES

Ông Nguyễn Văn Hoàng- CORENARM- chia sẻ về IBP PFES

Ông Hán Duy Anh- Nguyên chi cục trưởng chi cục lâm nghiệp Hà Tĩnh chia sẻ tại hội nghị

Ông Hán Duy Anh- Nguyên chi cục trưởng chi cục lâm nghiệp Hà Tĩnh chia sẻ tại hội nghị

Ông Ngô Văn Hồng -CIRD - tổng kết hội nghị

Ông Ngô Văn Hồng -CIRD – tổng kết hội nghị

Chụp ảnh lưu niệm

Chụp ảnh lưu niệm

FORLAND