Monthly Archives: Tháng Tám 2015

Nghệ An: Nhiều xí nghiệp chè “điêu đứng” vì giao khoán đất đai

Đất đai bị hoang hóa, thiếu nguyên liệu sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Đất đai bị hoang hóa, thiếu nguyên liệu sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Theo báo cáo trong phiên giải trình “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014” của Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau một thời gian dài sắp xếp, đổi mới nông-lâm trường quốc doanh, công tác quản lý đất đai của một số công ty nông lâm nghiệp còn nhiều bất cập, nhất là tình trạng giao khoán, lấn chiếm và chuyển đổi đất nông nghiệp.

Riêng tại tỉnh Nghệ An, việc giao khoán, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp phổ biến này đã khiến một số nông trường (nay là xí nghiệp chè) không quản lý được diện tích Nhà nước giao, dẫn tới tình trạng hoang hóa đất đai, hoạt động lay lắt vì thiếu nguyên liệu sản xuất.

Sống dở, chết dở

Ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương – một trong những huyện có vùng chè nổi tiếng nhất nhì của tỉnh Nghệ An – cho biết, hiện nay trên địa bàn có 3 xí nghiệp chè được chuyển đổi từ các nông trường chè trước đây, đó là xí nghiệp chè Ngọc Lâm (với diện tích 284,4 ha), xí nghiệp chè Hạnh Lâm (1.950,78 ha), và xí nghiệp chè Thanh Mai (654,42 ha).

“Trong 3 xí nghiệp này, hiện có một xí nghiệp coi như đã ‘chết hẳn’ vì nhiều năm tê liệt hoạt động, một xí nghiệp ‘ngắc ngoải’, còn một xí nghiệp thì hoạt động lay lắt vì thiếu sản phẩm,” ông Hà nói.

​Chứng thực cho những kết luận trên, ông Hà dẫn ​phóng viên VietnamPlus đi thăm các xí nghiệp chè đang hoạt động cầm chừng. Có mặt tại các xí nghiệp, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ​phóng viên là văn phòng, các phân xưởng chế biến và dãy nhà cấp 4 cũ kỹ, tồi tàn như thể đã bị bỏ hoang từ nhiều năm trước.

Trong câu chuyện với khách, ông Phạm Ngọc Châu, Giám đốc xí nghiệp chè Hạnh Lâm cho biết, đến nay 600 ha đất tốt nhất của xí nghiệp đã được giao khoán cho công nhân và người dân trồng chè, còn lại hơn 1.300 ha hiện bỏ hoang (gồm: đất ao hồ, đất công trình, trường học, đường xá, thổ cư và những diện tích đất cằn cỗi không thể canh tác được).

Về phần đất đang trồng chè, ông Châu cho biết, trước đây khi giao khoán, nông trường ký hợp đồng với các hộ dân theo phương thức xí nghiệp cung cấp phân bón, giống, kỹ thuật và thu mua toàn bộ sản phẩm chè. Thế nhưng, từ nhiều năm nay, các hộ gia đình đầu tư toàn bộ, sản phẩm thì bán cho các cơ sở chế biến chè tư nhân ở bên ngoài. Vì vậy, xí nghiệp không thu mua được sản phẩm để chế biến.

“Trong phương án sắp xếp đổi mới, tới đây xí nghiệp dự định sẽ chỉ giữ lại 600 ha đất thích hợp với trồng chè, còn lại sẽ trả hơn 1.300 ha đất về cho chính quyền địa phương quản lý. Trước kia không phải nộp tiền thuê đất thì nên giữ, chứ sắp tới triển khai cổ phần hóa sẽ phải thuê đất từ Nhà nước. Vì thế, những diện tích đất nào để hoang hóa, không canh tác được chúng tôi sẽ trả hết cho địa phương”, ông Châu bày tỏ.

Cùng “sở hữu” vườn chè trên địa bàn huyện Thanh Chương, nhưng tình hình hoạt động của Xí nghiệp chè Thanh Mai còn bi đát hơn. Đến xí nghiệp này, khó ai có thể tưởng tượng được nơi đây đã có một thời “hoàng kim” của ngành chế biến chè Nghệ An, nhưng nay chỉ còn trơ lại một hệ thống nhà xưởng tồi tàn với dây chuyền máy móc cũ kỹ.

Trò chuyện với chúng tôi, ông Trần Quốc Khánh, Giám đốc xí nghiệp chè Thanh Mai cho biết, trước đây nông trường có nhiệm vụ tạo ra vùng nguyên liệu chè, làm đầu tàu trung tâm kinh tế vùng. Về sau xóa bỏ bao cấp, toàn bộ diện tích đất được giao khoán, chuyển nhượng hết cho các hộ dân sản xuất. Tuy nhiên, do không có hợp đồng pháp lý ràng buộc với các hộ nhận giao khoán, nên xí nghiệp mua nguyên liệu giá cao thì bà con bán, mua giá thấp thì người dân nhập cho tư thương.

Bên cạnh đó, ven nông trường, hiện tượng chuyển nhượng trái phép đất đai, xây dựng nhà ở, công trình kiên cố cũng diễn ra khá phổ biến, nhưng xí nghiệp chè không thể xử lý sai phạm vì chỉ quản lý trên hình thức, không có chức năng quản lý Nhà nước.

“Giờ chúng tôi muốn tổ chức trồng chè để có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động thì cũng chịu vì người dân đã lấn chiếm một phần lớn diện tích đất sản xuất,” ông Khánh ngậm ngùi.

Nông trường không còn đủ nguyên liệu đầu vào để sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Nông trường không còn đủ nguyên liệu đầu vào để sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Chỉ tồn tại trên danh nghĩa!

Cũng theo ông Khánh, trước đây nông trường Thanh Mai hoạt động theo mô hình cấp xã, nên có đầy đủ chức năng của một chính quyền, có dân quân tự vệ, tư pháp, công an, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên. Về sau, các tổ chức này bị loại bỏ hết, nên việc quản lý hộ tịch hộ khẩu và người dân đã được giao hết về cho chính quyền xã.

“Bây giờ nông trường muốn cưỡng chế thu hồi đất, muốn xử lý các hộ dân lấn chiếm đất trái phép thì không có người để thực thi và cũng không có quyền để xử phạt người dân vi phạm. Đây cũng là lý do khiến xí nghiệp chỉ tồn tại trên danh nghĩa, thực chất đã phải ngừng hoạt động từ lâu vì không có nguồn thu để trả lương cho cán bộ, công nhân viên,” ông Khánh nói.

Chia sẻ về kế hoạch sắp tới, ông Khánh bảo, mặc dù Nhà nước đang chỉ đạo tới đây sẽ quyết liệt cổ phần hóa, nhưng với thực tế xí nghiệp đang gặp phải thì việc cổ phần còn “khó hơn lên trời” vì tài sản ở đây chỉ có nhà xưởng tồi tàn đã hỏng gần hết. “Đất thì của nhà nước, không được đưa vào định giá để bán cổ phần, nên sẽ chẳng ai mua cổ phần của xí nghiệp,” ông Khánh phân trần.

Nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương nhấn mạnh, đất đai là vấn đề “nóng” của các nông trường chè trên địa bàn huyện. Nhiều năm qua, việc chuyển nhượng, tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp và người dân diễn ra vô cùng phức tạp.

“Nói đúng ra là, người dân đã chiếm gần hết đất canh tác của các nông trường, trong khi quản lý đất này từ huyện, xã đến từng hộ dân vô cùng khó khăn,” ông Hà nói.

Vị Phó Chủ tịch này cũng khẳng định, quá trình các nông trường giao đất cho các hộ dân đều không thông qua chính quyền cấp huyện, cấp xã. Ngay như Đề án sắp xếp đổi mới lại các công ty nông lâm nghiệp đang xây dựng thì các công ty nông lâm nghiệp, họ cũng chỉ báo cáo trực tiếp với tỉnh, chứ Ủy ban nhân dân huyện không được tham gia.

Về phần đất lấn chiếm, ông Hà nêu quan điểm: Nếu sau cổ phần hóa, diện tích đất nào giao cho các công ty thì cứ đúng pháp luật thực thi, huyện sẽ phối hợp yêu cầu các hộ dân phải trả lại đất cho lâm trường, kể cả phải áp dụng cưỡng chế. Tuy nhiên, việc thu hồi này cần xử lý hài hòa với tài sản mà người dân hiện có trên đất.

“Nếu nông trường và người dân ký lại hợp đồng giao khoán mới thì tốt. Riêng phần đất được nông trường và Ủy ban nhân dân tỉnh bàn giao về cho địa phương quản lý, thì chúng tôi sẽ có kế hoạch giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sự dụng đất cho từng hộ dân,” ông Hà nhấn mạnh./.

Ông Hồ Viết An, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư và phát triển chè Nghệ An cho biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 xí nghiệp chè đóng tại 4 huyện, thành phố. Tất cả các xí nghiệp này đều do công ty quản lý. Tuy nhiên, hoạt động của các xí nghiệp chè thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn.

Thậm chí, một số xí nghiệp đến nay dường như chỉ tồn trại trên danh nghĩa, đóng cửa vì áp lực quản lý đất đai, áp lực thị trường. Đơn cử như các xí nghiệp chế biến chè Hạnh Lâm, Ngọc Lâm, Thanh Mai (huyện Thanh Chương).

Hùng Võ/Vietnamplus.vn

Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây “biệt phủ” trong rừng cấm

Tại phiên giải trình về thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh do Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức (ngày 27/8), các đại biểu (ĐB) Quốc hội (QH) đã “truy” trách nhiệm của Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Môi trường khi để xảy ra nhiều vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có việc xây biệt thự, “biệt phủ” trái phép trong rừng cấm.

26.1-4b_KOLV

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang giải trình tại phiên họp. Ảnh: Phương Hoa TTXVN.

“Bộ trưởng đâu biết hết được”

Theo ĐB Trương Thị Huệ (Thái Nguyên), thời gian qua, dư luận nhân dân trong cả nước rất bức xúc trước việc biệt thự, “biệt phủ” được xây dựng trái phép trên đất rừng quốc gia, trên đất nông lâm trường quốc doanh. “Theo tìm hiểu thì ông chủ của những “biệt phủ” đó toàn là quan chức và những người có tiền, có quyền. Vậy trách nhiệm quản lý của các bộ đến đâu khi để xảy ra tình trạng trên”, bà Huệ chất vấn Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát và Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được?”. Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết

Theo ông Phát, để xảy ra vụ việc trên có trách nhiệm của Bộ khi chưa đôn đốc, kiểm tra sát sao hoạt động quản lý, bảo vệ ở các vườn quốc gia. Tuy nhiên, ông Phát cho rằng, trách nhiệm lớn nhất ở đây thuộc về chính quyền địa phương. Bởi địa phương vốn là người biết rõ địa bàn và thực trạng, lẽ ra phải ngăn chặn và xử lý ngay từ đầu, chứ bộ trưởng ở xa, đâu có thể biết hết. “Quan điểm của chúng tôi là phải xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong việc xâm lấn đất rừng, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào”, ông Phát nói.

“Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”. Ông Nguyễn Sỹ Cương cảnh

Trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Đương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của QH về thực trạng, nhân dân không có đất sản xuất nhưng UBND các xã lại được giao quản lý 2,1 triệu ha không đúng luật, gây lãng phí nguồn lực đất đai, ông Phát lý giải: Việc không giao 2,1 triệu ha đất trên cho dân do chất lượng đất kém, hoang hóa, lại nằm ở xa nên rất khó khăn trong sản xuất. Nếu giao cho dân thì sản xuất cũng không được, hoặc có sản xuất thì hiệu quả cũng rất thấp. “Tình trạng là như thế, chứ không phải là nhân dân đang thiếu đất mà chúng tôi không giao”, ông Phát nói.

26.2-4aa_lmjm
ĐB Nguyễn Sỹ Cương. Ảnh: Như Ý.

Cho thuê trái phép sẽ hình thành lớp địa chủ mới

Về tình trạng vi phạm pháp luật trong việc giao, khoán rừng, đất lâm nghiệp, theo Đoàn giám sát còn xảy ra nhiều. Có những đơn vị còn giao khoán diện tích đất nông, lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Tình trạng hộ nhận khoán đất của các công ty nông, lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị…

Dẫn câu chuyện cụ thể về tình trạng giao khoán đất rừng trái phép, ĐB Chu Sơn Hà (Hà Nội) phản ánh, ở Vườn quốc gia Ba Vì, trong khi người dân địa phương không được giao khoán đất thì nhiều người ở nơi khác đến lại được giao. Điều này buộc người dân địa phương phải đi làm thuê, làm mướn và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

“Tôi không hiểu vì sao tình trạng sử dụng đất ở nông, lâm trường trái pháp luật nhiều như thế mà chúng ta lại không thu hồi, không xử được”, ĐB Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) phản ánh. Ông Cương đề nghị các Bộ trưởng cho biết, thời gian qua đã tổ chức được bao nhiêu cuộc kiểm tra, kiến nghị thu hồi trường hợp nào vi phạm chưa? “Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”, ông Cương cảnh báo.

Giải đáp những bức xúc trên, cả ông Quang và ông Phát đều thừa nhận có tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến những sai phạm trong việc giao khoán đất rừng, đất nông nghiệp, lâm nghiệp. Theo Bộ trưởng Quang, nguyên nhân là tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với đất nông, lâm trường còn hạn chế vì thiếu kinh phí.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được? Các tỉnh miền núi rất nghèo, ngân sách khó khăn nên không bố trí được kinh phí cho việc đo đạc bản đồ đất đai, phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, ông Quang nói và khẳng định, nếu có 1.000 tỷ đồng thì sẽ hoàn thành công việc trên vào năm 2016.

Văn Kiên/tienphong.vn

Quản lý đất đai tại các nông, lâm trường lỏng lẻo

Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà - Ảnh:TL

Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà – Ảnh:TL

Các nông, lâm trường sau 10 năm chuyển đổi sang mô hình công ty vẫn hoạt động kém hiệu quả, và tình trạng buông lỏng quản lý đất đai, tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn rất phổ biến, theo một báo cáo trình bày tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày hôm nay, 27-8.

Theo báo cáo liên bộ do Bộ NN-PTNN và Bộ Tài nguyên – Môi trường giải trình tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tại tất cả các nông lâm trường sau chuyển đổi mô hình hoạt động, tình hình quản lý đất đai vẫn bị buông lỏng. Theo Bộ NN-PTNN, hầu hết chưa hoàn chỉnh được hồ sơ làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Báo cáo giải trình lần này nhằm chuẩn bị cho việc công bố hoạt động quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2002-2014 tại kỳ họp tháng 10 tới, có trong chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đó là lý do mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu hai bộ này thực hiện giải trình.

Theo báo cáo của liên bộ, sau 10 năm, đã chuyển đổi hình thức quản lý các nông truờng, công ty nông nghiệp thành Công ty TNHH một thành viên nông nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu, rút gọn từ 185 nông trường xuống còn 145 công ty (không tính các công ty nông nghiệp do Bộ Quốc phòng quản lý).

Tương tự, đã sắp xếp lại 256 lâm trường xuống còn 148 công ty lâm nghiệp; thành lập 91 Ban quản lý rừng; và giải thể 14 lâm trường hoạt động kém hiệu quả.

Theo báo cáo, cơ quan quản lý khi cổ phần hóa không xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất sản xuất và không lưu ý hướng dẫn giải quyết về đất đai, nhiều công ty cổ phần mới chỉ có biên bản nhận bàn giao đất.

Ngoài các công ty cao su và một số công ty cà phê, chăn nuôi gia súc, còn một số công ty chưa tổ chức quản lý, sử dụng đất sản xuất phù hợp với năng lực hiện có. Tình trạng đất sản xuất để hoang hoá và sử dụng kém hiệu quả không ít. Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất chưa chặt chẽ, lãng phí, hiệu quả thấp nên sau cổ phần hóa không có nguyên liệu để sản xuất.

Bộ NN-PTNN cho rằng chính quyền địa phương thiếu quan tâm quản lý đất đai, không thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về đất đai, nhiều nơi phó mặc cho công ty tự quản lý và sử dụng.

Một số công ty để tình trạng quản lý lỏng lẻo dẫn đến phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp và kéo dài, kể cả công ty cổ phần. Nhiều công ty thực hiện không nghiêm túc, không đúng quy hoạch sử dụng đất của địa phương và của ngành…

Tình trạng này cũng diễn ra tương tự đối với đất ở các công ty lâm nghiệp.

Việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, có biểu hiện vi phạm pháp luật, như giao khoán diện tích đất lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; có nơi ký hợp đồng giao khoán với người ngoài thay vì giao khoán với người dân tại chỗ để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Một số công ty đã khoán cho các hộ gia đình nhưng thực chất bên giao khoán chỉ khoán trắng, thu địa tô, gây nên những tiêu cực về lợi dụng chính sách khoán đất lâm nghiệp.

Đặc biệt, tình trạng hộ nhận khoán đất của công ty lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán không thông qua công ty, sang tên đất cho các đối tượng khác không phải là cán bộ, công nhân của công ty diễn ra ở một số nơi; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị.

Trước tình hình lỏng lẻo và lộn xộn đó, hai bộ nói trên đều thống nhất kiến nghị một số giải pháp chấn chỉnh.

Cụ thể, sẽ giải thể công ty nông nghiệp trong trường hợp: Kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp vì lý do chủ quan của công ty và có số lỗ lũy kế bằng 3/4 vốn nhà nước tại công ty trở lên; Khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai và sản phẩm trên diện tích chiếm từ 3/4 tổng diện tích đất công ty được giao, thuê.

Các công ty có quy mô diện tích dưới 500 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả cũng sẽ bị giải thể. Trường hợp quy mô diện tích dưới 500 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì sẽ xem xét.

Các lâm trường thuộc các đối tượng giống như các công ty nông nghiệp kể trên cũng sẽ được giải thể. Quy mô để giải thể các lâm trường: Có quy mô diện tích dưới 1.000 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Trường hợp quy mô diện tích dưới 1.000 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì cơ quan chủ sở hữu xem xét.

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, chất vấn Bộ trưởng Bộ NN-PTNN Cao Đức Phát rằng tại sao ngay tại rừng quốc gia Ba Vì có 2.000 đồng bào người Dao không có đất sản xuất, phải sang làm thuê cho Trung Quốc với rất nhiều rủi ro.

Trả lời vấn đề này tại phiên giải trình, Bộ trưởng Phát hứa sẽ tạo điều kiện cho đồng bào người Dao canh tác tại đây, tận dụng đất trồng cây thuốc. Song ông lại nói trách nhiệm quản lý rừng thuộc về bộ và cả UBND các địa phương.

Bộ trưởng Phát còn cho rằng các quyết định, chủ trương cho các nông, lâm trường đều có nhưng kém hiệu quả khi thực thi. “Chúng tôi có một phần trách nhiệm trong đôn đốc, giám sát thực hiện,” ông Phát nói.

Lan Nhi/thesaigontime.vn

Một số vấn đề xoay quanh giao rừng cho nhóm cộng đồng

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Qua hơn 10 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công tác quản lý, bảo vệ rừng của các hộ gia đình và nhóm cộng đồng đã cho thấy có nhiều vấn đề cần xem xét điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tế.

Phóng sự thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong khuôn khổ IBP Luật bảo vệ phát triển rừng do FORLAND chủ trì

FORLAND

Giá tăng bất thường: Dân Phú Quốc chiếm rừng bán ‘đất chỉ’

Cùng với hiện tượng sốt đất ở Phú Quốc, nhiều khu đất rừng phòng hộ tại địa phương này đã bị người dân bao chiếm, trồng cây rồi bán sang tay.
Cụm từ bán “đất chỉ” trở nên quen thuộc ở Phú Quốc.

Giới đầu tư, đầu cơ mua cả những khu đất chỉ có giấy tay, nên các “chủ đất” cứ “chỉ tay” là bán đất thu tiền. Nhiều khu đất không giấy tờ, thậm chí nằm trong khu vực đất rừng phòng hộ, nhưng “cò” vẫn rao bán.

Chiếm cả đất rừng phòng hộ

Những ngày có mặt tại Phú Quốc, chúng tôi liên tục được các “cò” đất bám lấy, nhiệt tình dẫn đi xem đất, nhưng rất ít “cò” trưng ra được giấy tờ pháp lý đất. Nhiều lô đất nằm trong quy hoạch, chỉ có giấy tay, thậm chí là đất rừng phòng hộ, nhưng cũng được “cò” chỉ mua.

Theo Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Quốc, điểm “nóng” bao chiếm đất rừng là khu vực thị trấn An Thới và hai xã Dương Tơ, Hàm Ninh. Cơ quan chức năng An Thới cũng vừa xử lý hai đối tượng có dấu hiệu bao chiếm đất rừng, là Bùi Văn Nhơn và Võ Ngọc Tuấn.

Dẫn chúng tôi đến hai điểm nóng “đất chỉ” ở An Thới, xung quanh khu vực các dự án lớn ở Bãi Sao và Bãi Khem, anh Nguyễn Khang, một người dân ở đây, cho biết, một nhóm người trong đất liền ra phát rừng trồng cây rồi bán đất bằng giấy tay cho khách.

Dọc theo con đường nhựa chạy xuyên qua khu rừng phòng hộ ở thị trấn An Thới để vào dự án của Công ty Hưng Hải và Công ty Phú Hưng Thịnh (Bãi Sao), chúng tôi thấy nhiều khu đất rừng đã bị bao chiếm.

Dọc hai bên đường, nhiều khu đất được san ủi, dựng cọc bê tông bao quanh. Một số “cò” đất đang hí hoáy giao dịch với một nhóm khách đầu tư nói giọng Bắc.

“Đang có 5 công đất ở Bãi Sao, giá 50 triệu đồng một công thôi, nhưng là giấy tay nhé”, “cò” Huy lên tiếng rồi dẫn nhóm khách thực địa lô “đất chỉ” trên. Đây là 5 công đất nằm trong rừng phòng hộ sát mé đường vào dự án khu du lịch của Công ty Hưng Hải. Trên đất còn sót lại dấu đốt phá và lèo tèo vài cây vườn vừa được trồng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Dương Minh Tâm, Giám đốc Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Phú Quốc, cho biết, chỉ trong nửa đầu năm nay, BQL đã lập biên bản 10 vụ phát quang bao chiếm đất rừng, với khoảng 6 ha đất rừng phòng hộ bị bao chiếm.

“Nhiều nơi như thị trấn An Thới không chỉ phát quang, bao hàng rào mà người dân còn đốt cả rừng để chiếm đất, trồng cây tạo vườn. Chúng tôi có nghe nói đất đã bao chiếm được sang nhượng bằng giấy tay. Tuy nhiên đây là hoạt động trái phép nên không thống kê được”, ông Tâm nói.

Xử lý không xuể do lực lượng mỏng?

Theo thông tin từ BQL rừng phòng hộ Phú Quốc, từ năm 2012, thời điểm thành lập BQL rừng phòng hộ đến nay, diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn giảm 5.000 ha, toàn đảo hiện còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Ngoài việc điều chỉnh lại ranh giới đất rừng phòng hộ do chồng lấn đất của dân (có sổ đỏ) và giao cho các dự án phát triển du lịch, hiện tượng đất rừng phòng hộ bị giảm mạnh còn do hoạt động phá rừng của người dân. Đặc biệt, theo ông Tâm, tình trạng người dân bao chiếm đất rừng tiếp tục gia tăng trong sáu tháng đầu năm 2015.

24.1-pq

Công nhân khẩn trương xây dựng con đường xuyên qua rừng phòng hộ vào các dự án du lịch ở Bãi Sao (thị trấn An Thới).

Cũng theo ông Tâm, thời gian qua BQL rừng phòng hộ Phú Quốc đã phối hợp với chính quyền tổ chức di dời và xử lý nhiều vụ dân lập hàng rào bao đất rừng. Riêng trong năm nay đã di dời 8.000 cây trồng các loại do dân trồng trên đất bao chiếm, ra khỏi đất rừng.

Ông Tâm cũng thừa nhận với lực lượng quá mỏng, chỉ 13 người, BQL khó xử lý hết các vụ bao chiếm đất rừng. Do đó, giải pháp được đề ra trong thời gian tới là lập ranh giới các khu vực đất phòng hộ tiếp giáp với đất dân.

Ông Lê Quang Minh, trưởng Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Phú Quốc, cũng cho biết, từ đầu năm đến nay đã phát hiện ít nhất 30 vụ người dân bao chiếm đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất dự án trái phép.

“Chúng tôi đã nắm thông tin và đang điều tra để xử lý một nhóm trên 30 người từ đất liền ra đảo, chuyên đi bao chiếm đất dự án, có côn đồ bảo kê. Những dự án bị bao chiếm phần lớn do nhà đầu tư chậm triển khai, bỏ đất trống trong thời gian dài mà không có đủ người trông coi”, ông Minh nói.

Sẽ không phá vỡ quy hoạch!

Dù chính quyền địa phương khẳng định không để tình hình đầu cơ gây sốt đất trên đảo Phú Quốc dẫn đến phá vỡ quy hoạch phát triển đảo, nhưng theo thông tin chúng tôi có được, tỷ lệ đất phê duyệt làm dự án du lịch đã vượt xa quy hoạch ban đầu theo quyết định 633 của Chính phủ.

Cụ thể, theo nguồn tin từ BQL đầu tư – phát triển đảo Phú Quốc, tính đến ngày 15/5/2015, tổng diện tích phê duyệt 1/2.000 lên đến 9.840 ha, riêng đất du lịch chiếm 4.406 ha. Trong khi đó, quyết định 633 phê duyệt quy hoạch đất du lịch đảo Phú Quốc đến năm 2030 là 3.861 ha.

Như vậy, diện tích đất giao cho chủ đầu tư làm du lịch vượt quá quy hoạch, trong khi đất rừng phòng hộ lại giảm sút. Bởi theo quyết định nêu trên, đến năm 2030, đảo Phú Quốc có 7.038 ha rừng phòng hộ, trong khi toàn đảo chỉ còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Số diện tích rừng phòng hộ còn lại này đang đối mặt với nạn xâm lấn, bao chiếm hằng ngày của người dân, chủ đầu tư và giới đầu cơ bất động sản.

Trao đổi với chúng tôi về sự thay đổi quy hoạch này, ông Huỳnh Vĩnh Lạc, chánh văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Sau một thời gian triển khai, một số quy hoạch không còn phù hợp. Cho nên mới đây Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký ban hành quyết định số 868/QĐ-TTg, ngày 17/6/2015, phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2030”.

Ông Huỳnh Quang Hưng, Phó chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cũng cho rằng, dù có tình trạng sốt đất, nhưng đến nay toàn bộ giao dịch đất đai trên địa bàn đều diễn ra đúng theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.

“Người mua đất hiện chỉ đầu cơ chờ giá bằng cách thuê người rào khu đất của mình rồi trồng cây để giữ đất. Trong trường hợp muốn chuyển mục đích sử dụng phải xin phép cơ quan chức năng, nên lo ngại về phá vỡ quy hoạch là khó xảy ra”, ông Hưng nói.

Tuy nhiên, ông Hưng cho biết, huyện Phú Quốc cũng đã chỉ đạo các địa phương, các phòng chức năng tăng cường quản lý đất đai trên địa bàn, trong đó chủ tịch UBND các xã, thị trấn phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng bao chiếm đất rừng và xây cất trái phép trên địa bàn mình quản lý.

“Hô biến” đất rừng thành đất vườn

Tình trạng phá rừng biến đất rừng thành đất vườn ngày càng lộng hành, nhiều vụ các đối tượng đốt luôn cả rừng. Một buổi chiều tháng 2, chúng tôi theo chân tiểu đoàn 565 (Hải quân Vùng 5) dập lửa một đám cháy lớn tại khu vực rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 82 (thị trấn An Thới, Phú Quốc), do BQL rừng phòng hộ Phú Quốc quản lý.

Tại hiện trường, cả một khu vực gần 5 ha rừng đã bị người dân phát trống và tạo những đám cây khô rất dễ bén lửa trước đó, rồi lợi dụng chiều tối lén lút đốt, chờ mùa mưa đến trồng cây ăn trái, nhằm biến đất rừng thành đất vườn. Dù đám cháy được khống chế, nhưng ước tính khoảng 3 ha rừng phòng hộ đã bị thiêu rụi.

Thiếu tá Đồng Quảng Đại, Phó tiểu đoàn trưởng 565, cho biết: “Đây là khu vực gần đơn vị đóng quân, nên hằng ngày đều có chiến sĩ đi tuần tra. Nhiều lần chúng tôi bắt gặp người dân phá rừng và đã ngăn chặn kịp thời”.

Cũng tại hiện trường, chúng tôi thấy người dân đã trồng dừa và xà cừ cao ngang đầu người, cả một khu vực rộng lớn đã bị rào bằng cột bêtông và kẽm gai rất chắc chắn.

Hai lần điều chỉnh quy hoạch

Từ năm 2010 đến nay, quy hoạch chung phát triển đảo Phú Quốc đã được điều chỉnh hai lần, trong đó nới dần diện tích đất làm du lịch khiến đất rừng bị thu hẹp dần.

Cụ thể, quyết định 633 (ngày 11/5/2010) điều chỉnh quy hoạch đến năm 2030 đất du lịch khoảng 3.861 ha. Đất lâm nghiệp (gọi là đất rừng) 37.802 ha, trong đó riêng rừng phòng hộ 7.038 ha, rừng đặc dụng 29.500 ha.

Đến ngày 17/6/2015, Chính phủ tiếp tục ra quyết định điều chỉnh quy hoạch, trong đó đất du lịch được điều chỉnh tăng lên 4.003 ha, đất lâm nghiệp còn lại 37.430 ha và rừng phòng hộ giảm còn 6.666 ha.

Đình Dân- Khoa Nam/tuoitre.com

Đầu độc thông để lấn đất rừng

Lén lút chặt hạ, cạo vỏ, khoan sâu vào thân cây rồi đổ thuốc trừ sâu, kẻ xấu đang triệt hạ dần những đồi thông vốn là biểu tượng của xứ cao nguyên.Nhïng cây thông lÛn g§n 30 nm tuÕi bË Ñn h¡ t¡i rëng phòng hÙ ambri ¢nh: MAI VINH

Những cây thông lớn gần 30 năm tuổi bị đốn hạ tại rừng phòng hộ Đambri – Ảnh: Mai Vinh

Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2015, Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng đã ghi nhận hơn 500 vụ phá rừng. Từ tháng 6-2014 đến nay, hơn 160ha rừng đã bị mất, trong đó chủ yếu là rừng thông. Đây mới chỉ là số liệu về những vụ việc đã phát hiện.

Đủ chiêu giết thông

Trên tuyến đường 723 (TP Đà Lạt đi TP Nha Trang) hay quốc lộ 20 từ TP Đà Lạt đi TP Bảo Lộc, hoặc đoạn đường liên thôn từ huyện Di Linh đi huyện Bảo Lâm… nhiều cụm rừng thông cận kề các rẫy vườn bị chết khô.

Ông Trịnh Ngũ Hùng, trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng), cho biết những trảng thông lớn vài chục cây bị kẻ xấu bức tử bởi những vết khoanh đứt vỏ quanh thân hoặc bơm thuốc trừ sâu vào những lỗ khoan sâu trong thân. Thường những cây thông như vậy sẽ chết trong vòng chưa đầy ba tuần.

Theo ông Hùng, hình thức bức tử thông như trên rất khó bắt quả tang vì có thể thực hiện dễ dàng bất cứ thời điểm nào. Cây thông bị tác động không chết ngay mà chết từ từ trong nhiều ngày sau.

5 năm mất 90.000ha rừng

Năm 2014, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) tiến hành kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016, chỉ chưa đầy năm năm đã mất khoảng 90.000ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng thông.

Cuối tháng 4-2015, chúng tôi theo chân Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương và chứng kiến ngay bên trong Khu nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng, nằm ở vùng giáp ranh giữa huyện Lạc Dương và TP Đà Lạt, gần 100 cây thông hơn 20 năm tuổi thân to chừng một người ôm bị chết, lá đỏ rực.

Nhìn từ xa không thể hiểu lý do thông chết vì lớp vỏ bên ngoài còn nguyên vẹn, nhưng nhìn kỹ những cây thông đều bị khoan một lỗ sâu vào giữa thân. Từ lỗ nhỏ đó mùi thuốc trừ sâu xộc ra.

Ông Trịnh Ngũ Hùng nói đó là cách giết thông không mới và kín đáo nhất. Cây thông chỉ bị một vết thương nhỏ ở chỗ khuất nên đi tuần không thể phát hiện kịp để có biện pháp cứu cây.

Với cách bơm thuốc sâu vào thân cây, thông sẽ vàng lá rồi chết trong 20 ngày, vô phương cứu chữa.

Theo thống kê, địa bàn huyện Lạc Dương từ đầu năm 2014 đến nay đã phát hiện gần 100 vụ phá rừng, trong đó có 19 vụ rạch vỏ, đổ hóa chất làm chết thông.

Không chỉ ở Lạc Dương, các cánh rừng lân cận TP Đà Lạt và khắp địa bàn tỉnh Lâm Đồng, việc giết thông xảy ra phổ biến và liên tục. Giữa tháng 4-2015, tại xã Phi Tô (huyện Lâm Hà) chúng tôi chứng kiến hơn 600 cây thông gần 20 năm tuổi bị chết khô, một số cây vừa bị đốn hạ, gốc còn ứa nhựa nằm ngổn ngang trên đám cỏ tranh.

Một cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Ban thừa nhận đây là vụ bức tử thông lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn. Sau khi giết thông, người ta sẽ chiếm đất làm rẫy.

Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Bian cũng không thoát cảnh thông rừng bị bức tử. Mới đây, 100 cây thông hơn 30 năm tuổi chết do bị đổ thuốc độc, trong đó có một số là loại thông năm lá dẹt quý hiếm. Theo Ban quản lý vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, kẻ xấu hạ thông nhằm lấy đất trồng cà phê.

Ngày 18-6, Công an TP Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) đã bắt khẩn cấp Phạm Văn Hải (sinh năm 1969, trú tại xã Đambri, TP Bảo Lộc). Kết quả xác minh từ cơ quan điều tra, Hải đã đầu độc hơn 600 cây thông được trồng vào năm 1984 tại xã Đambri bằng thủ thuật đục thân đổ thuốc độc và dùng dao gọt vỏ thân quanh cây.

Trước đó, ngày 13-6 các đơn vị ở huyện Lạc Dương mật phục và bắt quả tang Nguyễn Văn Dũng (ngụ tại tổ dân phố Đăng Gia Rít B, thị trấn Lạc Dương) đang chặt và rạch vỏ 29 cây thông tại tiểu khu 143, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương.

Tại cơ quan điều tra, cả hai đối tượng khai nhận giết thông, sau đó sẽ tới chiếm đất trồng hoa màu. Đến khi nào không trồng nữa sẽ sang tay cho người khác kiếm lời. Cơ quan điều tra đang tiến hành các thủ tục khởi tố vụ án, bị can.

Nhưng đó là những vụ hiếm hoi bắt được đối tượng làm chết thông.

Dựng lều canh thông

Địa bàn huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) là điểm nóng với nhiều vụ tàn phá thông táo tợn quy mô lớn. Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, từ ngày 25 đến 30-5, lâm tặc đã đốn hạ liên tiếp ba lần với tổng cộng 308 cây thông từ 24-31 năm tuổi. Từ ngày 1-6 tới nay, đơn vị này đã phải huy động toàn lực lượng để bảo vệ hơn 20ha rừng thông còn lại ở tiểu khu 466, 469.

Giữa trời mưa nặng hạt, ông Phan Khải Hoàn, nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, cùng hai thanh niên nhận thuê khoán bảo vệ rừng trùm áo mưa đi tuần một vòng quanh khu rừng thông rộng tới hơn 20ha.

Khi đi tới vị trí lâm tặc đốn hạ 111 cây thông 24 năm tuổi, ông Hoàn kể: “Tối 29-5 anh em tập trung mắc võng nằm phục kích trong rừng cả đêm, nhưng không thể ngờ khi mình đang canh giữ rừng thông tại tiểu khu 469 thì ngay trong đêm hôm đó lâm tặc lại tập trung cưa sạch 194 cây thông bên tiểu khu 466. Hở ra một chút là mất rừng ngay”.

Theo ông Hoàn, mỗi lần phát hiện lâm tặc phá thông, do lực lượng mỏng nên nhân viên bảo vệ chỉ bắn đạn cao su chỉ thiên rồi xua đuổi, không có động tác mạnh do các đối tượng phá rừng rất manh động.

Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, 20ha rừng thông 
30-40 năm tuổi tại địa bàn xã Lộc Tân đều là đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch chuyển đổi thành đất nông nghiệp. Chính vì vậy đã bị nhiều kẻ xấu nhòm ngó, có ý định chặt thông lấn đất. Lâm tặc thường đi đông vào đêm khuya hay lúc có mưa lớn. Khi ra tay thì cử người cảnh giới.

“Phải bắt được quả tang thì mới xử phạt được nhưng lực lượng quá mỏng, canh không cho phá đã khó nói chi bắt quả tang, nhất là khi lực lượng giết thông luôn đông hơn lực lượng giữ rừng” – ông Hoàn than thở.

Lơ là quản lý nên mất rừng

Theo Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, nạn phá rừng thông xảy ra nóng nhất tại nhiều huyện như Bảo Lâm, Lạc Dương, Di Linh và vùng ngoại ô Đà Lạt. Trong vòng sáu tháng đầu năm nay, có 817 vụ vi phạm liên quan tới rừng, trong đó có 22 vụ xử lý hình sự.

Ông Nguyễn Trung Kiên, phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, cho rằng để xảy ra liên tiếp các vụ chặt phá rừng thông tại địa bàn do lực lượng quản lý rừng, chính quyền địa phương lơ là.

Để lập lại trật tự ở các điểm nóng về rừng tại xã Lộc Tân, ông Kiên cho biết đã chỉ đạo lực lượng lập lều trại giữa điểm nóng 24/24 giờ để giữ rừng.

“Đây là biện pháp trước mắt bắt buộc để lập lại trật tự tình hình. Riêng về chuyện để lâm tặc chặt hạ số lượng thông lớn, gây dư luận không tốt tại địa phương, chúng tôi đã chỉ đạo công an huyện vào cuộc lập hồ sơ khởi tố vụ án, đồng thời sàng lọc các đối tượng khả nghi để điều tra làm rõ sự vụ trên” – ông Kiên nói.

Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng (đề nghị không nêu tên) cho rằng tình trạng phá rừng thông những tháng đầu năm 2015 đáng báo động, với tốc độ diễn ra nhanh hơn những năm trước. Ông cho rằng đến thời điểm này không phát hiện cán bộ thông đồng với lâm tặc nhưng lơ là quản lý rừng là có.

Chính Thành-M.Vinh/tuoitre.vn

Rừng tự nhiên Tây Nguyên đang bị mất dần

Vì nhiều nguyên nhân, tài nguyên rừng ở Tây Nguyên đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng.

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh vùng Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng luôn xác định công tác bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa quan trọng. Nó vừa đảm bảo lợi ích tổng hợp, kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh, vừa góp phần vào phát triển bền vững khu vực Tây Nguyên.

Mô hình quản lý rừng bất cập

Hiện nay, ở khu vực Tây Nguyên có 7 mô hình quản lý rừng bền vững, trong đó các dự án quốc tế hỗ trợ 3 mô hình, còn lại là các địa phương chủ động triển khai.

[16/07/2015 21:17:24] Liên quan d?n v? vi?c hon 200 cây thông trên d?a bàn huy?n B?o Lâm b? ch?t h? trái phép x?y ra cu?i tháng 5 v?a qua, ngày 16/7, Công an t?nh Lâm Ð?ng cho bi?t, l?c lu?ng công an huy?n B?o Lâm dã kh?i t?, b?t t?m giam ba nghi can g?m Lê Vi?t Tu?ng (40 tu?i) và Quách H?i Tô (42 tu?i, cùng ng? huy?n B?o Lâm), Truong M?nh Hùng (31 tu?i, quê Thanh Hóa) b? t?m giam v? hành vi h?y ho?i r?ng. Ngoài nh?ng d?i tu?ng trên còn có ba nghi can khác liên quan d?n v? án dã b? tr?n hi?n dang du?c l?c lu?ng công an truy b?t d? ph?c v? công tác di?u tra. Trong ?nh: Hi?n tru?ng v? ch?t h? trái phép 207 cây thông trên 30 nam tu?i t?i Kho?nh 1, Ti?u khu 466 thu?c d?a bàn xã L?c Tân (huy?n B?o Lâm, Lâm Ð?ng). ?nh: Nguy?n Dung – TTXVN

Hiện trường vụ chặt hạ trái phép 207 cây thông trên 30 năm tuổi tại Khoảnh 1, Tiểu khu 466 thuộc địa bàn xã Lộc Tân (huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng). Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được quan tâm chỉ đạo, hoàn thiện các phương án quản lý ở những vùng rừng trọng điểm. Duy trì hoạt động thông tin cảnh báo cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng để các chủ rừng biết và có biện pháp chủ động phòng ngừa. Lực lượng kiểm lâm cơ bản đã tổ chức sắp xếp lại hợp lý, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ mới trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, chủ trương của Thủ tướng Chính phủ cho phát triển thêm 100.000 ha cao su trên địa bàn Tây Nguyên là phù hợp, được các địa phương, doanh nghiệp đồng tình và quyết tâm triển khai.

Sáu tháng đầu năm 2015, toàn vùng Tây Nguyên đã xảy ra 3.641 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 93 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng trái phép lấy đất sản xuất. Trọng điểm khai thác gỗ trái pháp luật ở Tây Nguyên tập trung chủ yếu tại các khu vực còn nhiều rừng tự nhiên, khu vực biên giới, khu vực giáp ranh, các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng, Vườn quốc gia Yok Đôn, Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Khu Bảo tồn thiên nhiên Đắk Uy (Gia Lai)…

Sau 5 năm thực hiện, các tỉnh Tây Nguyên đã trồng mới được trên 72.000 ha, tuy chưa đạt kế hoạch nhưng là kết quả đáng ghi nhận. Gắn liền với việc phát triển cây cao su, các dự án đã chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, đường điện, trạm y tế, trường học, giếng nước sinh hoạt, khu dân cư mới…, với kinh phí hàng ngàn tỷ đồng đã tạo việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc, góp phần ổn định xã hội, đảm bảo an ninh chính trị vùng Tây Nguyên.

Tuy nhiên, hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn nhiều bất cập làm cho tài nguyên rừng ngày càng suy giảm, diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay các tỉnh Tây Nguyên sau khi kiểm kê rừng chỉ còn 2.567.116 ha; trong đó, rừng tự nhiên là 2.253.809 ha, rừng trồng là 313.307 ha, với tổng trữ lượng gỗ chỉ còn trên 302 triệu m3, giảm 358.797 ha rừng so với kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng của năm 2008 (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất). Do diện tích rừng giảm mạnh nên tỷ lệ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên giảm xuống chỉ còn 45,8% (đây là các loại cây công nghiệp) còn thực tế rừng có trữ lượng đạt độ che phủ chỉ còn 32,4%.

“Lách luật” giao dự án

Một trong những nguyên nhân làm diện tích rừng tự nhiên giảm nghiêm trọng là các tỉnh Tây Nguyên nôn nóng phát triển kinh tế, xã hội. Các dự án chuyển đổi rừng, nhất là các dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su triển khai một cách ồ ạt không tuân thủ theo đúng các quy định của nhà nước nên đã làm giảm 128.523 ha rừng tự nhiên, chiếm tới 35,8% tổng diện tích rừng bị giảm.

Suy giảm tài nguyên rừng đã góp phần làm tình trạng biến đổi khí hậu vùng Tây Nguyên ngày càng nghiêm trọng hơn như mùa khô đến sớm, kéo dài, nắng nóng khốc liệt hơn, mực nước mặt, ngầm suy giảm mạnh… tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Ngay mùa khô năm 2015 đã làm cho các tỉnh Tây Nguyên thiếu nước tưới hàng trăm ngàn ha cây trồng, chủ yếu là cây cà phê, lúa đông và nước sinh hoạt cho người dân, thiệt hại lên đến cả hàng ngàn tỷ đồng. Riêng tại tỉnh Đắk Lắk, mùa khô vừa qua đã làm cho trên 61.446 ha cây trồng bị khô hạn, chủ yếu là cà phê và lúa nước vụ đông xuân bị khô cháy, thiếu nước tưới, gây thiệt hại cho bà con các dân tộc gần 2.009 tỷ đồng và hàng vạn hộ dân thiếu nước sinh hoạt…

Các địa phương vùng Tây Nguyên triển khai các dự án chưa bảo đảm theo đúng quy định của Nhà nước, thể hiện ở các vấn đề về quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp. Thậm chí, ở một số nơi còn “lách luật” giao dự án (các dự án thường được chia nhỏ dưới 1.000 ha cho dù trong cùng vùng chuyển đổi có quy mô hàng ngàn ha), hoặc tự giao cho một số doanh nghiệp khảo sát, lập dự án chuyển đổi dẫn đến tạo kẽ hở trong quản lý. Một số địa phương còn buông lỏng quản lý, chưa tích cực chỉ đạo, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đã để xảy ra một số vi phạm trong quá trình chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su. Qua rà soát, kiểm tra, các địa phương vùng Tây Nguyên đã thu hồi 76 dự án, với diện tích rừng, đất lâm nghiệp 7.932 ha, đình chỉ 48 dự án với diện tích 1.261 ha…

Theo quy định của pháp luật, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế, nhưng thực tế, hầu hết khi phê duyệt cũng như thực hiện các dự án, các địa phương cũng như các nhà đầu tư cố tình “quên” hoặc chậm triển khai quy định này. Thực tế, qua rà soát các tỉnh Tây Nguyên có trên 15.792 ha rừng chuyển sang làm thủy điện và các dự án khác, trong đó có 5.755 ha rừng chuyển sang làm thủy điện, thế nhưng, hiện nay các chủ đầu tư, các địa phương mới trồng bù lại 892 ha rừng, còn 14.896 ha vẫn chưa được trồng lại rừng. Đồng bào các dân tộc ở các địa phương vùng Tây Nguyên cũng như đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch đã phá, lấn chiếm trên 88.603 ha rừng trái phép để lấy đất canh tác, sản xuất nông nghiệp.

Mặt khác, ở các địa phương vùng Tây Nguyên vẫn còn diễn ra tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật chưa có biện pháp ngăn chặn, xử lý triệt để, việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp bị phá, bị lấn chiếm trái phép để phục hồi lại rừng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, chưa xử lý có hiệu quả các đầu nậu thuê người phá rừng cũng như các đối tượng mua bán, tích tụ đất đai trái pháp luật.

Baotintuc.vn 

Vụ tranh chấp đất rừng: Người dân khát khao một mảnh đất sản xuất

Những người có đất rừng thì không được khai thác dù cây đã đủ tuổi, còn những người không có đất, phải đi chặt cây thuê nhưng cũng bị ngăn cản. Một mong ước nhỏ của người dân xóm Hợp Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) là được trả lại đất sản xuất. Thế nhưng, đã hơn chục năm nay, điều đó vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Đã hơn 10 năm nay, người dân sống thiếu đất sản xuất ngay cạnh những cánh rừng bạt ngàn màu mỡ là thực trạng đang diễn ra tại xóm Hợp Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An).

Theo đó, năm 1993, khi triển khai dự án trồng rừng 327, bà con xóm Hợp Thành đã góp 99,3ha đất khai hoang cùng tham gia dự án. Theo hợp đồng, người dân sẽ được hưởng 2/3 sản phẩm và lâm trường hưởng 1/3 sản phẩm. Tuy nhiên, đến năm 2004, lâm trường chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất và đơn phương thu hoạch.

21.1-dat-rung-1

Vụ tranh chấp đất rừng: Người dân khát khao một mảnh đất sản xuất – Ảnh 1

Trước sự việc này, người dân đã làm đơn kiện đòi lại đất 327. Ngày 10/10/2007, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 456 chỉ đạo Lâm trường Đồng Hợp trả lại 83,1ha đất cho huyện Quỳ Hợp, để chính quyền bàn giao lại cho người dân. Trong đó, theo dự kiến người dân Hợp Thành sẽ nhận lại 37ha đất. Tuy nhiên, theo bà con, đến nay, số diện tích trên vẫn chưa được lâm trường bàn giao trên thực địa.

Anh Lê Văn Hùng (SN 1970, xóm phó xóm Hợp Thành) cho biết: “Nói đúng ra lâm trường có họp dân và tiến hành trao trả đất. Thế nhưng, trên thực tế đất lâm trường trả không phải đất dự án 327. Và diện tích đất được trả còn thiếu rất nhiều so với thực tế, chỉ có 6,3ha, như vậy còn thiếu 31ha nữa. Ngoài ra, lâm trường còn rất “chống chế” trong việc trả đất khi gộp đất ở vào đất sản xuất cần phải trả”.

Trái với kiến nghị của các hộ dân xóm Hợp Thành, đại diện Lâm trường Đồng Hợp cho biết, toàn bộ diện tích đất dự án 327 mà xóm Hợp Thành sản xuất thuộc đất 01 của lâm trường. Còn diện tích 83,1ha mà UBND tỉnh đã thu hồi, lâm trường đã bàn giao trực tiếp cho người dân vào ngày 17/1/2007, với sự có mặt đầy đủ của các bên liên quan.

Ông Đặng Văn Tiến, Chủ tịch Công Đoàn kiêm kế toán trưởng Lâm trường Đồng Hợp, cho biết: “Sau dự án trồng rừng 327, lâm trường đã trả hết đất cho dân, gồm cả đất ở và đất sản xuất. Sau đó, lâm trường còn ký hợp đồng để đảm bảo sản xuất với người dân, thời hạn giao đất là 20 năm, tất cả các hộ đều đã ký nhận và có hợp đồng rõ ràng”.

21.2-dat-rung-2

Vụ tranh chấp đất rừng: Người dân khát khao một mảnh đất sản xuất – Ảnh 2

Theo đó, thực hiện kế hoạch đầu tư, trồng mới rừng nguyên liệu của công ty, Lâm trường Đồng Hợp đã cùng người dân ký các hợp đồng khoán nhận đất, sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Thế nhưng, hai hộ gia đình là ông Nguyễn Tất Hải và anh Lê Văn Hùng không đồng ý. Lý do 2 gia đình này đưa ra là vì đây là đất do mình làm chủ, do chính tay khai phá nên lâm trường không có quyền “giao”.

Ông Nguyễn Tất Hải, người dân địa phương, uất ức kể: “Năm 1990, gia đình tôi đã tới định cư ở vùng đất này cho đến bây giờ. Chúng tôi đã dùng chính sức của mình để khai hoang sản xuất và sinh sống. Năm 1998, tôi làm bìa đỏ quyền sử dụng đất trên diện tích đã khai hoang và liên tục sau đó sử dụng cho đến bây giờ. Thế mà lâm trường lại ngang nhiên lấy đất của gia đình tôi”.

Ông Hải cho biết thêm: “Trong khi mọi việc còn chưa có kết luận thì tôi vẫn tiếp tục khai thác rừng nằm trong sổ đỏ của mình. Thế nhưng lâm trường cử bảo vệ xuống ngăn cản và dùng vũ lực với chúng tôi. Số gỗ này đã đến tuổi khai thác thì lâm trường lại cấm nghĩa là làm sao? Mong muốn của người dân cấp thiết hiện nay là có đất để sử dụng và được khai thác số gỗ đã đến tuổi”.

Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Xuân Ngư, Chủ tịch UBND xã Tam Hợp, cho biết: “Trước đây, UBND tỉnh cũng đã ra quyết định 456 thu hồi 83ha đất của Lâm trường Hợp Đồng để giao cho dân. UBND huyện cũng ra Công văn số 65 giao cho UBND xã Đồng Hợp chủ trì phối hợp với UBND xã Tam Hợp giải quyết chia đất. Hai xã đã có báo cáo số hộ khẩu và thỏa thuận phương pháp chia đất cho các hộ dân’.

Còn vấn đề người dân không được khai thác gỗ thì ông Ngư giải thích, lâm trường có kế hoạch riêng về việc thu hoạch và tiêu thụ. Về vấn đề này nằm ở hai phía: người dân Hợp Thành và Lâm trường Đồng Hợp cùng nhau đối thoại trực tiếp, để tìm ra biện pháp hợp lý cho cả hai.

Tình trạng tranh chất đất lâm nghiệp kéo dài dai dẳng suốt 10 năm nay, song vẫn chưa có tiếng nói chung, cuối cùng người dân vẫn là đối tượng chịu thiệt. “Có an cư mới lạc nghiệp”, thiết nghĩ các cấp, các ngành chức năng cần khẩn trương vào cuộc tìm hướng giải quyết dứt điểm để người dân có đất sản xuất.

Báo Đời sống và Pháp luật sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này.

Anh Ngọc- Tiến Thành/doisongphapluat.com

Phú Yên: Chính quyền để lâm tặc phá rừng theo kiểu tận diệt?

Hàng ngày lâm tặc lấy đi hàng chục mét khối gỗ rừng tự nhiên. Tuy nhiên, khu vực khai thác rừng Hòn Đát, xã Sơn Nguyên, chỉ cách trụ sở các cơ quan chức năng huyện Sơn Hòa (Phú Yên) khoảng 7km, nhưng lâu nay cánh rừng này vẫn để lâm tặc tàn phá theo kiểu tận diệt?.

Khu vực rừng Hòn Đát, thuộc xã Sơn Nguyên, huyện Sơn Hòa, vốn là rừng tự nhiên rộng hàng trăm ha, có nhiều cây gỗ to cả 2 người ôm, cao hàng chục mét, đường kính của các cây đều trên dưới 1m. Thế nhưng thời gian vừa qua, cánh rừng này bị lâm tặc ở các nơi đến “xẻ thịt”.

Nhiều cây lớn bị cưa xẻ tại chỗ thành gỗ hộp thanh vuông 50cm, dài 4-6m; riêng phần cành, ngọn và phần thừa xung quanh bị gom lại thành đống rồi đốt làm than. Sau đó, chúng dùng xe công nông, xe bán tải, xe kéo vào vận chuyển gỗ đưa ra khỏi địa bàn như chốn không người.

Theo người dân địa phương, nhiều năm ngay, các đối tượng khai thác lâm sản trái phép đã dựng hàng chục lán trại “làm gỗ” ở bìa rừng, đồng thời tập trung nhiều loại máy cưa công suất lớn, chủ yếu để triệt hạ những cây gỗ to, có giá trị, rồi đem xe múc vào mở đường để xe tải vận chuyển đi tiêu thụ.

Mỗi tháng, họ khai thác cả chục ha rừng. Sau khi đốn hạ hết số cây rừng nhiều năm tuổi, những người này đã cho san ủi, đào đất và trồng mới hoa màu để chiếm đất…

Điều đáng nói là mọi việc diễn ra công khai tại nơi cách trụ sở các cơ quan chức năng của huyện Sơn Hòa chỉ khoảng 7km; nhưng từ đó đến nay, không thấy ai đến kiểm tra, xử lý một cách dứt điểm khiến tình trạng chặt phá rừng vẫn cứ tiếp diễn…

20.1-LAM-TAC-3

Nhiều cây lớn bị cưa xẻ tại chỗ

20.2-LAM-TAC-4

Cánh rừng này bị lâm tặc ở các nơi đến “xẻ thịt”

20.3-lam-tac-5-2

Phần cành, ngọn và phần thừa xung quanh bị gom lại thành đống rồi đốt làm than

20.4-LAM-TAC-1

Nhiều cây gỗ to có đường kính hàng chục cm bị lâm tặc triệt hạ còn trơ gốc

20.5-lam-tac-5-1

Số cây lớn họ chở đi tiêu thụ

20.6-LAM-TAC-2

Tập kết gỗ ngay bìa rừng

20.7-lam-tac-5-3

Chúng dùng xe công nông, xe bán tải, xe kéo vào vận chuyển gỗ đưa ra khỏi địa bàn như chốn không người

20.8-lam-tac-5-4

Những cây gỗ quý bị lâm tặc xẻ thành gỗ

Tường Vân/congan.com.vn

Ngăn chặn nạn phá rừng ở khu vực Hồ Nước Trong

19.1-d57b6e9a924b28033c3647729eddab84_L

Gần đây, nhiều rừng phòng hộ ở khu vực hồ chứa nước Nước Trong, thuộc huyện miền núi Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi bị nhiều người ngang nhiên khai thác, vận chuyển trái phép, gây bức xúc cho người dân địa phương.

Có mặt tại khu vực hồ Nước Trong những ngày đầu tháng 6, chúng tôi chứng kiến nhiều cây rừng bị đốn hạ. Một số đối tượng lén lút đưa cả xe kéo, xe tải để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng. Ngay đường vào thôn Tre, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà – nơi gần khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Nước Trong là bãi gỗ lớn, nằm ngổn ngang. Hầu hết những cây gỗ này có đường kính từ 80 – 100 cm, những vết cưa còn mới và không có dấu búa của kiểm lâm.

Ông Hồ Văn Tấn, ở thôn Nước Biết, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà cho biết: Hoạt động khai thác gỗ của “lâm tặc” diễn ra trong cả tháng nay. Mỗi ngày có hàng chục xe vận chuyển gỗ ra ngoài địa phương.Theo người dân ở khu vực này, hầu hết gỗ đã khai thác thuộc nhóm gỗ quý, như chò, sơn mộc, ké và huỳnh đàn vàng. Trung đội trưởng Dân quân cơ động xã Trà Thọ Hồ Văn Những cho biết: Số lượng gỗ bị đốn hạ đã chở về xuôi, có nhiều loại gỗ quý như chò, xoan, nính… lên đến hàng trăm cây, với khối lượng hơn 200 m3. Vụ khai thác tận thu gỗ trên đất quy hoạch ngoài lâm nghiệp tại vườn rừng khu Sờ Lác và suối Y, có chỉ đạo tạm dừng từ lâu, nhưng nhiều người không chấp hành, tiếp tục lén lút vào rừng khai thác. Hơn nữa, việc khai thác gỗ tận thu tại khu vực rừng trên chưa được chính quyền huyện Tây Trà phê duyệt.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) Quảng Ngãi, hiện nay nhiều người lợi dụng danh nghĩa khai hoang vườn rừng, giao đất cho các hộ dân tái định cư, lén lút khai thác gỗ rừng tự nhiên. Những cánh rừng hàng trăm năm tuổi tại khe suối Sờ Lác trong khu vực hồ chứa nước Nước Trong đã bị triệt hạ. Hiện nay khu vực rừng đang khai thác thuộc phần diện tích đất rừng thu hồi của dự án hợp phần di dân tái định cư hồ chứa nước Nước Trong. Trong phương án đền bù ghi là gỗ tạp, nhưng thực tế toàn là gỗ quý, thuộc rừng tự nhiên.

Tại lô 3, khoảnh 2, tiểu khu 97 thuộc khu rừng phòng hộ hồ Nước Trong, chúng tôi phát hiện hàng chục xe gỗ được chuyển đi, nhưng không thấy chính quyền địa phương can thiệp. Tính riêng khu vực 3,1 ha bên suối Y của hai hộ ông Đinh Văn Đơ và Đinh Văn Chung, đã có 122 khối gỗ cây rừng bị đốn hạ. Trước sự việc này, lãnh đạo huyện Tây Trà đã hỏi cán bộ kiểm lâm trên địa bàn, thì được trả lời, đó là gỗ khai thác hợp pháp. Điều đáng nói, ông Chung và ông Đơ mới chỉ được Ban quản lý giao đất… trên miệng, chưa hề có “sổ đỏ” nên tự ý cho đốn gỗ và bán là trái pháp luật. Đồng thời, việc Phó Chủ tịch UBND xã Trà Thọ Hồ Thanh Truyền, ký giấy xác nhận cho hai hộ này được phép bán gỗ là không đúng thẩm quyền. Theo lãnh đạo Sở NN và PTNT Quảng Ngãi, việc tận thu gỗ vườn rừng để bán với diện tích lớn, có nhiều cây là rừng tự nhiên, thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

Có thể thấy, vụ việc đốn hạ rừng Sờ Lác, là điển hình cho việc loay hoay trong công tác quy hoạch và xây dựng phương án tái định canh trên đất ngoài lâm nghiệp. Ban quản lý dự án hợp phần di dân tái định cư hồ chứa nước Nước Trong để cho dân tận thu gỗ rừng tự nhiên trên 107 ha đất tái định cư ngoài lâm nghiệp, với hơn 950 m3 gỗ, là quá lớn. Hơn nữa, thực tế cho thấy, toàn bộ số gỗ này không phải gỗ tạp, được khai thác tập trung, có quy mô, tổ chức bài bản.

Trả lời việc này, Phó Giám đốc Ban Quản lý Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Tại thời điểm kiểm kê đều xác định, đánh giá toàn bộ số gỗ là gỗ tạp, đây là thiếu sót của ban quản lý, vì lúc đó không có thành viên của dự án hợp phần di dân tái định cư tham gia. Lý do nữa, do dân quá bức xúc, nên ban quản lý mới thực hiện trước việc này, khi chưa thông qua ý kiến phê duyệt của UBND huyện Tây Trà. Trao đổi với chúng tôi, Chủ tịch UBND huyện Tây Trà Hoàng Anh Ngọc khẳng định: Huyện không có chủ trương về khai thác gỗ tận thu. Quan điểm của huyện là giữ và bảo vệ rừng, dù gỗ tạp thì cũng phải bảo vệ.

Chung quanh vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Phạm Trường Thọ cho biết: Trước mắt, UBND tỉnh chỉ đạo Sở NN và PTNT Quảng Ngãi chủ trì, phối hợp các ngành liên quan, khẩn trương thành lập đoàn thanh tra kịp thời ngăn chặn vụ phá rừng ở hồ Nước Trong. Qua đó, nếu phát hiện những đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép thì xử lý theo đúng thẩm quyền. Cần lưu ý xem xét, kiểm điểm, phê bình cá nhân sai phạm để chấn chỉnh, răn đe; khi đề xuất khắc phục hậu quả phải rõ ràng; kiểm điểm cũng cần rõ ràng, đúng đối tượng. Còn xét thấy vượt quá thẩm quyền thì đề xuất để UBND tỉnh xử lý.

UBND tỉnh Quảng Ngãi hiện nghiêm cấm việc khai thác tận thu các loại cây gỗ tự nhiên trên phần đất rừng đã được giao cho dân, nằm trong dự án hồ chứa nước Nước Trong. UBND huyện Tây Trà cần rà soát toàn bộ đất ngoài rừng đã quy hoạch giao cho dân, để khoanh vùng hoặc giao khoán bảo vệ và trồng thêm, tuyệt đối không làm theo kiểu đốn trắng như đã xảy ra ở khu vực Sờ Lác và suối Y. Đoàn thanh tra liên ngành của tỉnh khẩn trương rà soát toàn bộ diện tích đất rừng có cây gỗ tự nhiên đã giao cho dân, đưa ra giải pháp bảo vệ số cây này. Chậm nhất đến cuối tháng 6-2015, phải hoàn thành việc kiểm tra, rà soát và báo cáo UBND tỉnh Quảng Ngãi.

Minh Trí/nhandan.com.vn