Nghệ An: Nhiều xí nghiệp chè “điêu đứng” vì giao khoán đất đai

Đất đai bị hoang hóa, thiếu nguyên liệu sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)
Đất đai bị hoang hóa, thiếu nguyên liệu sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Theo báo cáo trong phiên giải trình “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014” của Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau một thời gian dài sắp xếp, đổi mới nông-lâm trường quốc doanh, công tác quản lý đất đai của một số công ty nông lâm nghiệp còn nhiều bất cập, nhất là tình trạng giao khoán, lấn chiếm và chuyển đổi đất nông nghiệp.

Riêng tại tỉnh Nghệ An, việc giao khoán, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp phổ biến này đã khiến một số nông trường (nay là xí nghiệp chè) không quản lý được diện tích Nhà nước giao, dẫn tới tình trạng hoang hóa đất đai, hoạt động lay lắt vì thiếu nguyên liệu sản xuất.

Sống dở, chết dở

Ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương – một trong những huyện có vùng chè nổi tiếng nhất nhì của tỉnh Nghệ An – cho biết, hiện nay trên địa bàn có 3 xí nghiệp chè được chuyển đổi từ các nông trường chè trước đây, đó là xí nghiệp chè Ngọc Lâm (với diện tích 284,4 ha), xí nghiệp chè Hạnh Lâm (1.950,78 ha), và xí nghiệp chè Thanh Mai (654,42 ha).

“Trong 3 xí nghiệp này, hiện có một xí nghiệp coi như đã ‘chết hẳn’ vì nhiều năm tê liệt hoạt động, một xí nghiệp ‘ngắc ngoải’, còn một xí nghiệp thì hoạt động lay lắt vì thiếu sản phẩm,” ông Hà nói.

​Chứng thực cho những kết luận trên, ông Hà dẫn ​phóng viên VietnamPlus đi thăm các xí nghiệp chè đang hoạt động cầm chừng. Có mặt tại các xí nghiệp, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ​phóng viên là văn phòng, các phân xưởng chế biến và dãy nhà cấp 4 cũ kỹ, tồi tàn như thể đã bị bỏ hoang từ nhiều năm trước.

Trong câu chuyện với khách, ông Phạm Ngọc Châu, Giám đốc xí nghiệp chè Hạnh Lâm cho biết, đến nay 600 ha đất tốt nhất của xí nghiệp đã được giao khoán cho công nhân và người dân trồng chè, còn lại hơn 1.300 ha hiện bỏ hoang (gồm: đất ao hồ, đất công trình, trường học, đường xá, thổ cư và những diện tích đất cằn cỗi không thể canh tác được).

Về phần đất đang trồng chè, ông Châu cho biết, trước đây khi giao khoán, nông trường ký hợp đồng với các hộ dân theo phương thức xí nghiệp cung cấp phân bón, giống, kỹ thuật và thu mua toàn bộ sản phẩm chè. Thế nhưng, từ nhiều năm nay, các hộ gia đình đầu tư toàn bộ, sản phẩm thì bán cho các cơ sở chế biến chè tư nhân ở bên ngoài. Vì vậy, xí nghiệp không thu mua được sản phẩm để chế biến.

“Trong phương án sắp xếp đổi mới, tới đây xí nghiệp dự định sẽ chỉ giữ lại 600 ha đất thích hợp với trồng chè, còn lại sẽ trả hơn 1.300 ha đất về cho chính quyền địa phương quản lý. Trước kia không phải nộp tiền thuê đất thì nên giữ, chứ sắp tới triển khai cổ phần hóa sẽ phải thuê đất từ Nhà nước. Vì thế, những diện tích đất nào để hoang hóa, không canh tác được chúng tôi sẽ trả hết cho địa phương”, ông Châu bày tỏ.

Cùng “sở hữu” vườn chè trên địa bàn huyện Thanh Chương, nhưng tình hình hoạt động của Xí nghiệp chè Thanh Mai còn bi đát hơn. Đến xí nghiệp này, khó ai có thể tưởng tượng được nơi đây đã có một thời “hoàng kim” của ngành chế biến chè Nghệ An, nhưng nay chỉ còn trơ lại một hệ thống nhà xưởng tồi tàn với dây chuyền máy móc cũ kỹ.

Trò chuyện với chúng tôi, ông Trần Quốc Khánh, Giám đốc xí nghiệp chè Thanh Mai cho biết, trước đây nông trường có nhiệm vụ tạo ra vùng nguyên liệu chè, làm đầu tàu trung tâm kinh tế vùng. Về sau xóa bỏ bao cấp, toàn bộ diện tích đất được giao khoán, chuyển nhượng hết cho các hộ dân sản xuất. Tuy nhiên, do không có hợp đồng pháp lý ràng buộc với các hộ nhận giao khoán, nên xí nghiệp mua nguyên liệu giá cao thì bà con bán, mua giá thấp thì người dân nhập cho tư thương.

Bên cạnh đó, ven nông trường, hiện tượng chuyển nhượng trái phép đất đai, xây dựng nhà ở, công trình kiên cố cũng diễn ra khá phổ biến, nhưng xí nghiệp chè không thể xử lý sai phạm vì chỉ quản lý trên hình thức, không có chức năng quản lý Nhà nước.

“Giờ chúng tôi muốn tổ chức trồng chè để có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động thì cũng chịu vì người dân đã lấn chiếm một phần lớn diện tích đất sản xuất,” ông Khánh ngậm ngùi.

Nông trường không còn đủ nguyên liệu đầu vào để sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)
Nông trường không còn đủ nguyên liệu đầu vào để sản xuất. (Ảnh: H.V/Vietnam+)

Chỉ tồn tại trên danh nghĩa!

Cũng theo ông Khánh, trước đây nông trường Thanh Mai hoạt động theo mô hình cấp xã, nên có đầy đủ chức năng của một chính quyền, có dân quân tự vệ, tư pháp, công an, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên. Về sau, các tổ chức này bị loại bỏ hết, nên việc quản lý hộ tịch hộ khẩu và người dân đã được giao hết về cho chính quyền xã.

“Bây giờ nông trường muốn cưỡng chế thu hồi đất, muốn xử lý các hộ dân lấn chiếm đất trái phép thì không có người để thực thi và cũng không có quyền để xử phạt người dân vi phạm. Đây cũng là lý do khiến xí nghiệp chỉ tồn tại trên danh nghĩa, thực chất đã phải ngừng hoạt động từ lâu vì không có nguồn thu để trả lương cho cán bộ, công nhân viên,” ông Khánh nói.

Chia sẻ về kế hoạch sắp tới, ông Khánh bảo, mặc dù Nhà nước đang chỉ đạo tới đây sẽ quyết liệt cổ phần hóa, nhưng với thực tế xí nghiệp đang gặp phải thì việc cổ phần còn “khó hơn lên trời” vì tài sản ở đây chỉ có nhà xưởng tồi tàn đã hỏng gần hết. “Đất thì của nhà nước, không được đưa vào định giá để bán cổ phần, nên sẽ chẳng ai mua cổ phần của xí nghiệp,” ông Khánh phân trần.

Nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương nhấn mạnh, đất đai là vấn đề “nóng” của các nông trường chè trên địa bàn huyện. Nhiều năm qua, việc chuyển nhượng, tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp và người dân diễn ra vô cùng phức tạp.

“Nói đúng ra là, người dân đã chiếm gần hết đất canh tác của các nông trường, trong khi quản lý đất này từ huyện, xã đến từng hộ dân vô cùng khó khăn,” ông Hà nói.

Vị Phó Chủ tịch này cũng khẳng định, quá trình các nông trường giao đất cho các hộ dân đều không thông qua chính quyền cấp huyện, cấp xã. Ngay như Đề án sắp xếp đổi mới lại các công ty nông lâm nghiệp đang xây dựng thì các công ty nông lâm nghiệp, họ cũng chỉ báo cáo trực tiếp với tỉnh, chứ Ủy ban nhân dân huyện không được tham gia.

Về phần đất lấn chiếm, ông Hà nêu quan điểm: Nếu sau cổ phần hóa, diện tích đất nào giao cho các công ty thì cứ đúng pháp luật thực thi, huyện sẽ phối hợp yêu cầu các hộ dân phải trả lại đất cho lâm trường, kể cả phải áp dụng cưỡng chế. Tuy nhiên, việc thu hồi này cần xử lý hài hòa với tài sản mà người dân hiện có trên đất.

“Nếu nông trường và người dân ký lại hợp đồng giao khoán mới thì tốt. Riêng phần đất được nông trường và Ủy ban nhân dân tỉnh bàn giao về cho địa phương quản lý, thì chúng tôi sẽ có kế hoạch giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sự dụng đất cho từng hộ dân,” ông Hà nhấn mạnh./.

Ông Hồ Viết An, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư và phát triển chè Nghệ An cho biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 xí nghiệp chè đóng tại 4 huyện, thành phố. Tất cả các xí nghiệp này đều do công ty quản lý. Tuy nhiên, hoạt động của các xí nghiệp chè thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn.

Thậm chí, một số xí nghiệp đến nay dường như chỉ tồn trại trên danh nghĩa, đóng cửa vì áp lực quản lý đất đai, áp lực thị trường. Đơn cử như các xí nghiệp chế biến chè Hạnh Lâm, Ngọc Lâm, Thanh Mai (huyện Thanh Chương).

Hùng Võ/Vietnamplus.vn

Advertisements

Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây “biệt phủ” trong rừng cấm

Tại phiên giải trình về thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh do Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức (ngày 27/8), các đại biểu (ĐB) Quốc hội (QH) đã “truy” trách nhiệm của Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Môi trường khi để xảy ra nhiều vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có việc xây biệt thự, “biệt phủ” trái phép trong rừng cấm.

26.1-4b_KOLV

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang giải trình tại phiên họp. Ảnh: Phương Hoa TTXVN.

“Bộ trưởng đâu biết hết được”

Theo ĐB Trương Thị Huệ (Thái Nguyên), thời gian qua, dư luận nhân dân trong cả nước rất bức xúc trước việc biệt thự, “biệt phủ” được xây dựng trái phép trên đất rừng quốc gia, trên đất nông lâm trường quốc doanh. “Theo tìm hiểu thì ông chủ của những “biệt phủ” đó toàn là quan chức và những người có tiền, có quyền. Vậy trách nhiệm quản lý của các bộ đến đâu khi để xảy ra tình trạng trên”, bà Huệ chất vấn Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát và Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được?”. Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết

Theo ông Phát, để xảy ra vụ việc trên có trách nhiệm của Bộ khi chưa đôn đốc, kiểm tra sát sao hoạt động quản lý, bảo vệ ở các vườn quốc gia. Tuy nhiên, ông Phát cho rằng, trách nhiệm lớn nhất ở đây thuộc về chính quyền địa phương. Bởi địa phương vốn là người biết rõ địa bàn và thực trạng, lẽ ra phải ngăn chặn và xử lý ngay từ đầu, chứ bộ trưởng ở xa, đâu có thể biết hết. “Quan điểm của chúng tôi là phải xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong việc xâm lấn đất rừng, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào”, ông Phát nói.

“Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”. Ông Nguyễn Sỹ Cương cảnh

Trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Đương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của QH về thực trạng, nhân dân không có đất sản xuất nhưng UBND các xã lại được giao quản lý 2,1 triệu ha không đúng luật, gây lãng phí nguồn lực đất đai, ông Phát lý giải: Việc không giao 2,1 triệu ha đất trên cho dân do chất lượng đất kém, hoang hóa, lại nằm ở xa nên rất khó khăn trong sản xuất. Nếu giao cho dân thì sản xuất cũng không được, hoặc có sản xuất thì hiệu quả cũng rất thấp. “Tình trạng là như thế, chứ không phải là nhân dân đang thiếu đất mà chúng tôi không giao”, ông Phát nói.

26.2-4aa_lmjm
ĐB Nguyễn Sỹ Cương. Ảnh: Như Ý.

Cho thuê trái phép sẽ hình thành lớp địa chủ mới

Về tình trạng vi phạm pháp luật trong việc giao, khoán rừng, đất lâm nghiệp, theo Đoàn giám sát còn xảy ra nhiều. Có những đơn vị còn giao khoán diện tích đất nông, lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Tình trạng hộ nhận khoán đất của các công ty nông, lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị…

Dẫn câu chuyện cụ thể về tình trạng giao khoán đất rừng trái phép, ĐB Chu Sơn Hà (Hà Nội) phản ánh, ở Vườn quốc gia Ba Vì, trong khi người dân địa phương không được giao khoán đất thì nhiều người ở nơi khác đến lại được giao. Điều này buộc người dân địa phương phải đi làm thuê, làm mướn và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

“Tôi không hiểu vì sao tình trạng sử dụng đất ở nông, lâm trường trái pháp luật nhiều như thế mà chúng ta lại không thu hồi, không xử được”, ĐB Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) phản ánh. Ông Cương đề nghị các Bộ trưởng cho biết, thời gian qua đã tổ chức được bao nhiêu cuộc kiểm tra, kiến nghị thu hồi trường hợp nào vi phạm chưa? “Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”, ông Cương cảnh báo.

Giải đáp những bức xúc trên, cả ông Quang và ông Phát đều thừa nhận có tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến những sai phạm trong việc giao khoán đất rừng, đất nông nghiệp, lâm nghiệp. Theo Bộ trưởng Quang, nguyên nhân là tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với đất nông, lâm trường còn hạn chế vì thiếu kinh phí.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được? Các tỉnh miền núi rất nghèo, ngân sách khó khăn nên không bố trí được kinh phí cho việc đo đạc bản đồ đất đai, phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, ông Quang nói và khẳng định, nếu có 1.000 tỷ đồng thì sẽ hoàn thành công việc trên vào năm 2016.

Văn Kiên/tienphong.vn

Quản lý đất đai tại các nông, lâm trường lỏng lẻo

Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà - Ảnh:TL
Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà – Ảnh:TL

Các nông, lâm trường sau 10 năm chuyển đổi sang mô hình công ty vẫn hoạt động kém hiệu quả, và tình trạng buông lỏng quản lý đất đai, tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn rất phổ biến, theo một báo cáo trình bày tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày hôm nay, 27-8.

Theo báo cáo liên bộ do Bộ NN-PTNN và Bộ Tài nguyên – Môi trường giải trình tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tại tất cả các nông lâm trường sau chuyển đổi mô hình hoạt động, tình hình quản lý đất đai vẫn bị buông lỏng. Theo Bộ NN-PTNN, hầu hết chưa hoàn chỉnh được hồ sơ làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Báo cáo giải trình lần này nhằm chuẩn bị cho việc công bố hoạt động quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2002-2014 tại kỳ họp tháng 10 tới, có trong chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đó là lý do mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu hai bộ này thực hiện giải trình.

Theo báo cáo của liên bộ, sau 10 năm, đã chuyển đổi hình thức quản lý các nông truờng, công ty nông nghiệp thành Công ty TNHH một thành viên nông nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu, rút gọn từ 185 nông trường xuống còn 145 công ty (không tính các công ty nông nghiệp do Bộ Quốc phòng quản lý).

Tương tự, đã sắp xếp lại 256 lâm trường xuống còn 148 công ty lâm nghiệp; thành lập 91 Ban quản lý rừng; và giải thể 14 lâm trường hoạt động kém hiệu quả.

Theo báo cáo, cơ quan quản lý khi cổ phần hóa không xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất sản xuất và không lưu ý hướng dẫn giải quyết về đất đai, nhiều công ty cổ phần mới chỉ có biên bản nhận bàn giao đất.

Ngoài các công ty cao su và một số công ty cà phê, chăn nuôi gia súc, còn một số công ty chưa tổ chức quản lý, sử dụng đất sản xuất phù hợp với năng lực hiện có. Tình trạng đất sản xuất để hoang hoá và sử dụng kém hiệu quả không ít. Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất chưa chặt chẽ, lãng phí, hiệu quả thấp nên sau cổ phần hóa không có nguyên liệu để sản xuất.

Bộ NN-PTNN cho rằng chính quyền địa phương thiếu quan tâm quản lý đất đai, không thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về đất đai, nhiều nơi phó mặc cho công ty tự quản lý và sử dụng.

Một số công ty để tình trạng quản lý lỏng lẻo dẫn đến phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp và kéo dài, kể cả công ty cổ phần. Nhiều công ty thực hiện không nghiêm túc, không đúng quy hoạch sử dụng đất của địa phương và của ngành…

Tình trạng này cũng diễn ra tương tự đối với đất ở các công ty lâm nghiệp.

Việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, có biểu hiện vi phạm pháp luật, như giao khoán diện tích đất lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; có nơi ký hợp đồng giao khoán với người ngoài thay vì giao khoán với người dân tại chỗ để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Một số công ty đã khoán cho các hộ gia đình nhưng thực chất bên giao khoán chỉ khoán trắng, thu địa tô, gây nên những tiêu cực về lợi dụng chính sách khoán đất lâm nghiệp.

Đặc biệt, tình trạng hộ nhận khoán đất của công ty lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán không thông qua công ty, sang tên đất cho các đối tượng khác không phải là cán bộ, công nhân của công ty diễn ra ở một số nơi; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị.

Trước tình hình lỏng lẻo và lộn xộn đó, hai bộ nói trên đều thống nhất kiến nghị một số giải pháp chấn chỉnh.

Cụ thể, sẽ giải thể công ty nông nghiệp trong trường hợp: Kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp vì lý do chủ quan của công ty và có số lỗ lũy kế bằng 3/4 vốn nhà nước tại công ty trở lên; Khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai và sản phẩm trên diện tích chiếm từ 3/4 tổng diện tích đất công ty được giao, thuê.

Các công ty có quy mô diện tích dưới 500 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả cũng sẽ bị giải thể. Trường hợp quy mô diện tích dưới 500 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì sẽ xem xét.

Các lâm trường thuộc các đối tượng giống như các công ty nông nghiệp kể trên cũng sẽ được giải thể. Quy mô để giải thể các lâm trường: Có quy mô diện tích dưới 1.000 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Trường hợp quy mô diện tích dưới 1.000 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì cơ quan chủ sở hữu xem xét.

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, chất vấn Bộ trưởng Bộ NN-PTNN Cao Đức Phát rằng tại sao ngay tại rừng quốc gia Ba Vì có 2.000 đồng bào người Dao không có đất sản xuất, phải sang làm thuê cho Trung Quốc với rất nhiều rủi ro.

Trả lời vấn đề này tại phiên giải trình, Bộ trưởng Phát hứa sẽ tạo điều kiện cho đồng bào người Dao canh tác tại đây, tận dụng đất trồng cây thuốc. Song ông lại nói trách nhiệm quản lý rừng thuộc về bộ và cả UBND các địa phương.

Bộ trưởng Phát còn cho rằng các quyết định, chủ trương cho các nông, lâm trường đều có nhưng kém hiệu quả khi thực thi. “Chúng tôi có một phần trách nhiệm trong đôn đốc, giám sát thực hiện,” ông Phát nói.

Lan Nhi/thesaigontime.vn

Một số vấn đề xoay quanh giao rừng cho nhóm cộng đồng

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp. Qua hơn 10 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công tác quản lý, bảo vệ rừng của các hộ gia đình và nhóm cộng đồng đã cho thấy có nhiều vấn đề cần xem xét điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tế.

Phóng sự thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong khuôn khổ IBP Luật bảo vệ phát triển rừng do FORLAND chủ trì

FORLAND

Giá tăng bất thường: Dân Phú Quốc chiếm rừng bán ‘đất chỉ’

Cùng với hiện tượng sốt đất ở Phú Quốc, nhiều khu đất rừng phòng hộ tại địa phương này đã bị người dân bao chiếm, trồng cây rồi bán sang tay.
Cụm từ bán “đất chỉ” trở nên quen thuộc ở Phú Quốc.

Giới đầu tư, đầu cơ mua cả những khu đất chỉ có giấy tay, nên các “chủ đất” cứ “chỉ tay” là bán đất thu tiền. Nhiều khu đất không giấy tờ, thậm chí nằm trong khu vực đất rừng phòng hộ, nhưng “cò” vẫn rao bán.

Chiếm cả đất rừng phòng hộ

Những ngày có mặt tại Phú Quốc, chúng tôi liên tục được các “cò” đất bám lấy, nhiệt tình dẫn đi xem đất, nhưng rất ít “cò” trưng ra được giấy tờ pháp lý đất. Nhiều lô đất nằm trong quy hoạch, chỉ có giấy tay, thậm chí là đất rừng phòng hộ, nhưng cũng được “cò” chỉ mua.

Theo Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Quốc, điểm “nóng” bao chiếm đất rừng là khu vực thị trấn An Thới và hai xã Dương Tơ, Hàm Ninh. Cơ quan chức năng An Thới cũng vừa xử lý hai đối tượng có dấu hiệu bao chiếm đất rừng, là Bùi Văn Nhơn và Võ Ngọc Tuấn.

Dẫn chúng tôi đến hai điểm nóng “đất chỉ” ở An Thới, xung quanh khu vực các dự án lớn ở Bãi Sao và Bãi Khem, anh Nguyễn Khang, một người dân ở đây, cho biết, một nhóm người trong đất liền ra phát rừng trồng cây rồi bán đất bằng giấy tay cho khách.

Dọc theo con đường nhựa chạy xuyên qua khu rừng phòng hộ ở thị trấn An Thới để vào dự án của Công ty Hưng Hải và Công ty Phú Hưng Thịnh (Bãi Sao), chúng tôi thấy nhiều khu đất rừng đã bị bao chiếm.

Dọc hai bên đường, nhiều khu đất được san ủi, dựng cọc bê tông bao quanh. Một số “cò” đất đang hí hoáy giao dịch với một nhóm khách đầu tư nói giọng Bắc.

“Đang có 5 công đất ở Bãi Sao, giá 50 triệu đồng một công thôi, nhưng là giấy tay nhé”, “cò” Huy lên tiếng rồi dẫn nhóm khách thực địa lô “đất chỉ” trên. Đây là 5 công đất nằm trong rừng phòng hộ sát mé đường vào dự án khu du lịch của Công ty Hưng Hải. Trên đất còn sót lại dấu đốt phá và lèo tèo vài cây vườn vừa được trồng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Dương Minh Tâm, Giám đốc Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Phú Quốc, cho biết, chỉ trong nửa đầu năm nay, BQL đã lập biên bản 10 vụ phát quang bao chiếm đất rừng, với khoảng 6 ha đất rừng phòng hộ bị bao chiếm.

“Nhiều nơi như thị trấn An Thới không chỉ phát quang, bao hàng rào mà người dân còn đốt cả rừng để chiếm đất, trồng cây tạo vườn. Chúng tôi có nghe nói đất đã bao chiếm được sang nhượng bằng giấy tay. Tuy nhiên đây là hoạt động trái phép nên không thống kê được”, ông Tâm nói.

Xử lý không xuể do lực lượng mỏng?

Theo thông tin từ BQL rừng phòng hộ Phú Quốc, từ năm 2012, thời điểm thành lập BQL rừng phòng hộ đến nay, diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn giảm 5.000 ha, toàn đảo hiện còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Ngoài việc điều chỉnh lại ranh giới đất rừng phòng hộ do chồng lấn đất của dân (có sổ đỏ) và giao cho các dự án phát triển du lịch, hiện tượng đất rừng phòng hộ bị giảm mạnh còn do hoạt động phá rừng của người dân. Đặc biệt, theo ông Tâm, tình trạng người dân bao chiếm đất rừng tiếp tục gia tăng trong sáu tháng đầu năm 2015.

24.1-pq
Công nhân khẩn trương xây dựng con đường xuyên qua rừng phòng hộ vào các dự án du lịch ở Bãi Sao (thị trấn An Thới).

Cũng theo ông Tâm, thời gian qua BQL rừng phòng hộ Phú Quốc đã phối hợp với chính quyền tổ chức di dời và xử lý nhiều vụ dân lập hàng rào bao đất rừng. Riêng trong năm nay đã di dời 8.000 cây trồng các loại do dân trồng trên đất bao chiếm, ra khỏi đất rừng.

Ông Tâm cũng thừa nhận với lực lượng quá mỏng, chỉ 13 người, BQL khó xử lý hết các vụ bao chiếm đất rừng. Do đó, giải pháp được đề ra trong thời gian tới là lập ranh giới các khu vực đất phòng hộ tiếp giáp với đất dân.

Ông Lê Quang Minh, trưởng Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Phú Quốc, cũng cho biết, từ đầu năm đến nay đã phát hiện ít nhất 30 vụ người dân bao chiếm đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất dự án trái phép.

“Chúng tôi đã nắm thông tin và đang điều tra để xử lý một nhóm trên 30 người từ đất liền ra đảo, chuyên đi bao chiếm đất dự án, có côn đồ bảo kê. Những dự án bị bao chiếm phần lớn do nhà đầu tư chậm triển khai, bỏ đất trống trong thời gian dài mà không có đủ người trông coi”, ông Minh nói.

Sẽ không phá vỡ quy hoạch!

Dù chính quyền địa phương khẳng định không để tình hình đầu cơ gây sốt đất trên đảo Phú Quốc dẫn đến phá vỡ quy hoạch phát triển đảo, nhưng theo thông tin chúng tôi có được, tỷ lệ đất phê duyệt làm dự án du lịch đã vượt xa quy hoạch ban đầu theo quyết định 633 của Chính phủ.

Cụ thể, theo nguồn tin từ BQL đầu tư – phát triển đảo Phú Quốc, tính đến ngày 15/5/2015, tổng diện tích phê duyệt 1/2.000 lên đến 9.840 ha, riêng đất du lịch chiếm 4.406 ha. Trong khi đó, quyết định 633 phê duyệt quy hoạch đất du lịch đảo Phú Quốc đến năm 2030 là 3.861 ha.

Như vậy, diện tích đất giao cho chủ đầu tư làm du lịch vượt quá quy hoạch, trong khi đất rừng phòng hộ lại giảm sút. Bởi theo quyết định nêu trên, đến năm 2030, đảo Phú Quốc có 7.038 ha rừng phòng hộ, trong khi toàn đảo chỉ còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Số diện tích rừng phòng hộ còn lại này đang đối mặt với nạn xâm lấn, bao chiếm hằng ngày của người dân, chủ đầu tư và giới đầu cơ bất động sản.

Trao đổi với chúng tôi về sự thay đổi quy hoạch này, ông Huỳnh Vĩnh Lạc, chánh văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Sau một thời gian triển khai, một số quy hoạch không còn phù hợp. Cho nên mới đây Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký ban hành quyết định số 868/QĐ-TTg, ngày 17/6/2015, phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2030”.

Ông Huỳnh Quang Hưng, Phó chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cũng cho rằng, dù có tình trạng sốt đất, nhưng đến nay toàn bộ giao dịch đất đai trên địa bàn đều diễn ra đúng theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.

“Người mua đất hiện chỉ đầu cơ chờ giá bằng cách thuê người rào khu đất của mình rồi trồng cây để giữ đất. Trong trường hợp muốn chuyển mục đích sử dụng phải xin phép cơ quan chức năng, nên lo ngại về phá vỡ quy hoạch là khó xảy ra”, ông Hưng nói.

Tuy nhiên, ông Hưng cho biết, huyện Phú Quốc cũng đã chỉ đạo các địa phương, các phòng chức năng tăng cường quản lý đất đai trên địa bàn, trong đó chủ tịch UBND các xã, thị trấn phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng bao chiếm đất rừng và xây cất trái phép trên địa bàn mình quản lý.

“Hô biến” đất rừng thành đất vườn

Tình trạng phá rừng biến đất rừng thành đất vườn ngày càng lộng hành, nhiều vụ các đối tượng đốt luôn cả rừng. Một buổi chiều tháng 2, chúng tôi theo chân tiểu đoàn 565 (Hải quân Vùng 5) dập lửa một đám cháy lớn tại khu vực rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 82 (thị trấn An Thới, Phú Quốc), do BQL rừng phòng hộ Phú Quốc quản lý.

Tại hiện trường, cả một khu vực gần 5 ha rừng đã bị người dân phát trống và tạo những đám cây khô rất dễ bén lửa trước đó, rồi lợi dụng chiều tối lén lút đốt, chờ mùa mưa đến trồng cây ăn trái, nhằm biến đất rừng thành đất vườn. Dù đám cháy được khống chế, nhưng ước tính khoảng 3 ha rừng phòng hộ đã bị thiêu rụi.

Thiếu tá Đồng Quảng Đại, Phó tiểu đoàn trưởng 565, cho biết: “Đây là khu vực gần đơn vị đóng quân, nên hằng ngày đều có chiến sĩ đi tuần tra. Nhiều lần chúng tôi bắt gặp người dân phá rừng và đã ngăn chặn kịp thời”.

Cũng tại hiện trường, chúng tôi thấy người dân đã trồng dừa và xà cừ cao ngang đầu người, cả một khu vực rộng lớn đã bị rào bằng cột bêtông và kẽm gai rất chắc chắn.

Hai lần điều chỉnh quy hoạch

Từ năm 2010 đến nay, quy hoạch chung phát triển đảo Phú Quốc đã được điều chỉnh hai lần, trong đó nới dần diện tích đất làm du lịch khiến đất rừng bị thu hẹp dần.

Cụ thể, quyết định 633 (ngày 11/5/2010) điều chỉnh quy hoạch đến năm 2030 đất du lịch khoảng 3.861 ha. Đất lâm nghiệp (gọi là đất rừng) 37.802 ha, trong đó riêng rừng phòng hộ 7.038 ha, rừng đặc dụng 29.500 ha.

Đến ngày 17/6/2015, Chính phủ tiếp tục ra quyết định điều chỉnh quy hoạch, trong đó đất du lịch được điều chỉnh tăng lên 4.003 ha, đất lâm nghiệp còn lại 37.430 ha và rừng phòng hộ giảm còn 6.666 ha.

Đình Dân- Khoa Nam/tuoitre.com