Nhức nhối đất nông lâm trường

Ủy ban KH-CN và môi trường, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam và Liên minh Đất rừng vừa tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

3-13-43-42_nh-1Nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận tại hội thảo

Thực trạng ngổn ngang Báo cáo của Tổng cục Đất đai (Bộ TN-MT) cho thấy, hệ thống các nông lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành từ năm 1955 – 1958, trải qua nhiều chủ trương sắp xếp, đổi mới đến nay trên cả nước có 653 Cty nông, lâm nghiệp, BQL rừng, khu bảo tồn, VQG đang quản lý và sử dụng gần 8 triệu ha đất. Trong đó 642 nông lâm trường đã được nhà nước thực hiện thủ tục giao đất cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đất đai Nguyễn Văn Chiến, tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông lâm trường hiện là một trong những vấn đề nóng nhất. Hiện cả nước có 54 nông lâm trường, BQL rừng đang diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.000 ha. Ngoài ra, có 76 nông, lâm trường, BQL rừng bị lấn chiếm với diện tích xấp xỉ 60.000 ha.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), ông La Văn Thịnh chỉ ra rằng, trong số 642 nông lâm trường đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha (chiếm 95,0% tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) thì có 526 nông lâm trường được giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích hơn 7,1 triệu ha, chiếm 89,1%, bao gồm: 284 BQL, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý diện tích trên 5,1 triệu ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện SX kinh doanh). Diện tích này theo quy định của pháp luật từ 2004 – 2014 thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Trên thực tế, không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích này là cần thiết, đúng quy định của pháp luật và đúng yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.Hiện phần lớn nông lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, chỉ có một số DN cao su, cà phê làm ăn có lãi, do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các đơn vị cũng đang vướng phải tồn đọng rất lớn.

Tiếp theo, có 242 nông lâm trường quản lý diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, song chưa thực hiện, vì vậy chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định.

Kế đến, có 112 nông lâm trường chuyển sang thuê đất với diện tích 472.709 ha; có 4 nông lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 2.029 ha (chiếm 0,03%) là có thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà nước.

Hiến kế tái cơ cấu

Đóng góp giải pháp để quản lý hiệu quả hơn nữa đất nông lâm trường quốc doanh, lãnh đạo Cty TNHH MTV Cao su Chư Păh (Gia Lai) cho rằng, cần phải có một quy hoạch tổng thể trong việc sử dụng đất của các loại cây trồng, vật nuôi….

3.2Cần có giải pháp giải quyết tận gốc rễ vấn đề đất tại các nông lâm trường quốc doanh

Trong đó, quy hoạch các loại hình SX cho các cây trồng và sau khi đã xác định tính khoa học, tính thực tiễn thì phải tuân thủ. Đặc biệt, phải coi hành vi phá vỡ quy hoạch là một việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.

Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý của Bộ, ngành chủ quản để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. Nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để SX kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không thì dứt khoát phải giao cho DN SX, kinh doanh...

Đặc biệt, khi đã giao đất cho một tổ chức kinh tế nào thì phải ổn định trong thời gian dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung vì lý do này, lý do kia. Trừ trường hợp các công trình trọng điểm quốc gia như đường điện, sân bay, bến bãi hoặc những công trình trọng điểm khác… Ngoài ra, cần tăng cường sự quản lý nhà nước đối với việc quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất. Tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ” hoặc sử dụng không hợp lý kéo dài. Lãnh đạo Cty CP Chè Sông Lô (Tuyên Quang) kiến nghị Bộ, ngành Trung ương sớm có văn bản hướng dẫn xử lý những vướng mắc trong việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng SX và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 04/10/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Có chính sách miễn tiền thuê đất cho các DN SX trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện để người lao động trong DN được hưởng chính sách như người nông dân. Riêng với tỉnh Tuyên Quang, lãnh đạo Cty Chè Sông Lô đề nghị cho phép các DN SX trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục rà soát thanh lý những vườn cây thuộc nguồn vốn tài sản của Nhà nước có năng suất thấp, để DN cùng các hộ nhận khoán trồng lại bằng các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho DN được vay vốn để phát triển các loại cây trồng thích hợp, nhất là vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ lãi suất 2 năm đầu cho DN. Đồng tình quan điểm trên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Phùng Đức Tiến cho rằng, để loại bỏ tận gốc rễ những tồn tại, bất cập về đất đai nông lâm trường, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê, đồng thời tổng kết các mô hình SX kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN, phát triển theo chuỗi giá trị…

“Các nông lâm trường đang gặp khó khăn về vốn đầu tư SX, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vì thế cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển SX… để khuyến khích DN đầu tư trong lĩnh vực này”, ông Tiến đề xuất….

Nguyên Huân/nongnghiep.vn

Advertisements

Chính quyền địa phương chưa phát huy vai trò trung gian

Trong việc giải quyết mâu thuẫn đất đai của doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh với người dân, chính quyền địa phương cấp huyện, xã nắm giữ vai trò quan trọng, là trung gian trong việc giải quyết mâu thuẫn tranh chấp. Tuy nhiên, việc nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc này còn gặp nhiều rào cản.

Trên thực tế, chính quyền địa phương cấp huyện, xã vẫn chưa thể làm tốt vai trò của mình. Các nông lâm trường được khoán trắng đất nên đã tự đưa ra các chính sách và tự sản xuất, mà không có sự tham gia, góp ý, quản lý của chính quyền địa phương. Khi xảy ra mâu thuẫn giữa các nông lâm trường và người dân thì Ủy ban nhân dân xã để hai bên tự giải quyết, như vậy đã thiếu đi phương pháp tiếp cận, và sự tham gia của các bên liên quan. “Vai trò của các tổ chức chính trị xã hội để giải quyết mâu thuẫn là không có, dẫn tới mâu thuẫn kéo dài, không xử lý được cuối cùng là khiếu kiện vượt cấp và thậm chí có liên quan đến hình sự”, ông Ngô Văn Hồng – Forland Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cho biết.

[07/07/2015 09:45:30]  T?i huy?n mi?n núi Ð?ng Xuân, t?nh Phú Yên dang x?y ra tình tr?ng l?i d?ng vi?c tr?ng r?ng s?n xu?t d? phá r?ng nhung chua du?c các co quan ch?c nang cung nhu chính quy?n d?a phuong ki?m tra, x? lý. Theo ngu?i dân d?a phuong, l?i d?ng vi?c phát d?n th?c bì, r?ng có nhi?u cây g? du?ng kính t? 20 cm tr? lên dã b? ch?t phá trái phép r?i v?n chuy?n ra ngoài t?nh; s? g? còn l?i ph?n l?n là cành, nhánh v?i kh?i lu?ng ít nh?t 200 m3 du?c t?p k?t t?i hai bãi g? n?m sát tr?c du?ng giao thông thu?c d?a bàn xã Xuân Quang 2 khi?n ngu?i dân r?t b?c xúc. Ð? ngh?, UBND t?nh Phú Yên c?n s?m ch? d?o các co quan ch?c nang ph?i h?p v?i chính quy?n huy?n mi?n núi Ð?ng Xuân ki?m tra, x? lý v? vi?c d?t phá r?ng nói trên. Trong ?nh: M?t cây g? có du?ng kính l?n v?a b? ch?t phá. ?nh: Th? L?p- TTXVN
Tình trạng vi phạm đất đai của nông lâm trường và mâu thuẫn giữa người dân với nông lâm trường quốc doanh cần sự can thiệp hiệu quả của chính quyền địa phương. Ảnh: Thế Lập- TTXVN

Theo quy định, các doanh nghiệp tự rà soát, xây dựng đề án trình lên Chính phủ. Như vậy, quá trình này đã bỏ qua sự tham gia, giám sát của chính quyền địa phương, là tiền đề của nhiều hậu quả đáng tiếc. Không thiếu trường hợp doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh không nắm rõ được yêu cầu, nhiệm vụ của mình là gì?. Những đề án doanh nghiệp đưa ra có phù hợp với điều kiện và nhu cầu của địa phương đó hay không. Và khi xảy ra tranh chấp về đất đai với người dân thì ai sẽ là người đứng ra để giải quyết những mâu thuẫn đó?…

Có nhiều nguyên nhân khiến chính quyền địa phương vẫn chưa thể đảm bảo vai trò trung gian trong giải quyết mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa các doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh với người dân. “Sự phối hợp giữa công ty và chính quyền địa phương trong giải quyết các trường hợp vi phạm về đất đai có lúc còn chưa kịp thời. Hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về đất đai đối với người dân còn hạn chế”, đại diện Công ty Cổ phần chè Sông Lô cho biết.

Trong khi đó, có thực tế là ở các địa phương, chính quyền quá thiên vị lợi ích trước mắt của người dân địa phương mà “quên” đi lợi ích lâu dài của địa phương và đất nước. Vì vậy khi xảy ra mâu thuẫn kể cả khi người dân có vi phạm về tranh chấp đất đai với lâm trường thì người dân chỉ bị gọi lên nhắc nhở. Trường hợp người dân có quan hệ gia đình, anh em với quan chức chính quyền xã, huyện thì thông thường chỉ là giảng hòa chứ không có xử phạt hành chính. “Đó là lý do hết lần này đến lần khác người dân cứ thế vi phạm”, ông Lương Văn Tuyến, Phó giám đốc công ty TNHH một thành viên Lâm Nghiệp Chúc A cho biết.

Phía chính quyền địa phương cũng gặp nhiều khó khăn trong việc phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh. Bên phía UBND xã cố gắng tiếp cận và giải thích cho người dân hiểu đất này là đất của nhà nước giao cho lâm trường quản lý, nhưng người dân họ lại cho rằng, đất đó là đất của địa phương chứ không phải của lâm trường. “Đứng ra giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên, nhưng lại bị người dân hiểu nhầm rằng chính quyền đang bắt tay, đứng về phía lâm trường, không bênh vực người dân”, ông Cao Thế Vịnh, Chủ tịch UBND xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình phân trần.

Việc nâng cao vai trò trung gian của chính quyền địa phương trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa các nông lâm trường quốc doanh với người dân còn gặp nhiều khó khăn và rất cần thiết phải có những giải pháp cụ thể. Theo ông Ngô Văn Hồng, “Chúng ta phải có quy trình và hướng dẫn từng bước khi giải quyết mâu thuẫn, trong đó có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội và các đoàn thể liên quan trong cộng đồng”.

Lê Xuân/tintuc.vn

Đất nông, lâm trường: Miếng bánh hấp dẫn

Chưa lúc nào lại có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay.

1.3-du-1203903306

 Sẽ có hàng ngàn ha đất trồng mía, dứa và cao su của các NLT ở Thanh Hóa được chuyển dần sang trồng cỏ cho các dự án nuôi bò sữa sau khi NLT được chuyển đổi thành Cty TNHH 2TV

Sự đổ xô của các tập đoàn, DN đầu tư vào nông nghiệp gần đây đã mang lại nhiều tín hiệu vui. Cùng với đó, việc các “ông lớn” vào cuộc, tỏa ra khắp nơi lùng sục đất đai khiến cho những bí bách về nguồn tư liệu sản xuất này đã nóng lại càng thêm nóng, trong đó quỹ đất nông, lâm trường là “miếng bánh” hấp dẫn nhất được các DN quan tâm, tìm cách thâu tóm. Chưa lúc nào có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay. Về tìm hiểu các địa phương từ phía Bắc đến Bắc Trung bộ, đi đâu cũng nghe nói đến chuyện các DN làm việc với địa phương để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc biệt là việc hợp tác, tiếp nhận quỹ đất nông lâm trường (NLT).

Từ nút thắt đất đai

Có thể nói, tham gia vào sân chơi nông nghiệp, các DN, tập đoàn lớn có đầy lợi thế với việc nguồn vốn đầu tư lớn, trình độ tổ chức quản lý cao, năng lực tiếp cận và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất tốt. Tuy nhiên, rào cản hay nói khác hơn là một nút thắt hiện nay đối với các DN là quỹ đất sản xuất.

Tại các hội nghị, diễn đàn về thu hút đầu tư, đối thoại doanh nghiệp, câu hỏi lớn nhất, vướng mắc nhất, tồn tại nhất vẫn là quỹ đất cho sản xuất.

Người ta đề cập đến sự rủi ro, tính ổn định, bền vững, lòng tin của nhà đầu tư trước những rào cản tích tụ đất đai, thậm chí đòi hỏi, thúc ép cần sớm phải đổi mới về thể chế đất đai. Làm ăn lớn thì không thể sản xuất canh tác manh mún, nhưng cơ chế tích tụ chưa được tháo gỡ, không ít DN khi bước vào sân chơi này đã rơi vào thế đi thì dở, ở lại không xong.

Trong đó, đáng kể nhất là các DN tham gia đầu tư ở phía Bắc và Bắc Trung bộ, nơi ruộng đồng chật hẹp, manh mún cùng với tâm lý giữ đất cố hữu, thà bỏ hoang chứ không trả ruộng của người nông dân. Nhiều DN cũng đã tìm tòi, xây dựng liên kết, hợp tác với nhà nông, nhưng đến nay, số thành công không đáng kể.

Rủi ro, đổ vỡ thường xuyên xảy ra, nguyên nhân có từ cả hai phía – nhà nông và DN. Chính vì vậy, nhìn vào quỹ đất, xem ra đất đai NLT là ổn hơn cả.

Quỹ đất NLT từ lâu do khai thác không hiệu quả, quản lý lỏng lẻo ở các địa phương đã là “miếng bánh” hấp dẫn, bị nhòm ngó và tìm cách thôn tính. Ngay trước làn sóng đầu tư nông nghiệp, điểm đến “nông – lâm trường” lại càng nóng bỏng hơn trong giới đầu tư, DN.

Về các địa phương thời gian qua để tìm hiểu về đầu tư nông nghiệp, đi đâu chúng tôi cũng nghe giới lãnh đạo chính quyền các cấp đề cập đến việc DN đến đặt vấn đề hợp tác, tiếp nhận đất đai các NLT. Phía Đông Bắc, các DN đổ xô xuống Quảng Ninh, Hải Phòng; phía Tây Bắc, các DN đổ lên Hòa Bình, Sơn La; rồi lùng sục các địa phương cận kề Hà Nội như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; rồi các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, xa hơn là vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Rầm rộ “tấn công” đất NLT

Cuộc đi tìm đất thật chộn rộn, sục sôi. Tại tỉnh Hòa Bình, trong vòng mấy năm qua, hàng loạt DN đã tìm đến quan tâm, tìm hiểu. Mặc dù đang nỗ lực tổ chức, sắp xếp lại các Cty, NLT làm ăn kém hiệu quả, nhưng tiếp xúc với chúng tôi, những người có trách nhiệm ở địa phương cho hay, họ rất thận trọng trước những đề xuất của các DN và chỉ “chọn mặt gửi vàng” khi rà soát, đánh giá năng lực, phương án của các DN một cách cẩn thận. Đến thời điểm này, tỉnh đã rà soát, đánh giá, lập đề án trình Bộ NN-PTNT thẩm định và Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương cho việc sắp xếp, đổi mới các Cty nông, lâm nghiệp.

1.3-215-39-45_cong-vn-xin-kho-st-di-bn-de-thue-dt-cu-mot-tcty-gui-ubnd-huyen-ky-nh-h-tinh

Văn bản xin khảo sát địa điểm để thuê đất của một TCty gửi UBND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh)

Theo đề án này, tỉnh Hòa Bình hiện có 5 Cty TNHH MTV nông nghiệp do UBND tỉnh quản lý gồm: Cty TNHH MTV Sông Bôi, Cao Phong, 2/9, Thanh Hà, Cửu Long. Các Cty đang được giao quản lý, sử dụng là 3.464,79ha đất. Về phương án sắp xếp các Cty TNHH MTV Thanh Hà, Sông Bôi, 2/9 sẽ hợp tác với một tập đoàn để thành lập Cty 2 thành viên. Còn Cty TNHH Cao Phong sẽ cùng với Cty CP xây dựng Sông Hồng liên kết thành Cty TNHH cam Cao Phong Incomex. Vĩnh Phúc – một tỉnh năng động và luôn là địa phương hấp dẫn trong mắt DN. Hiện UBND tỉnh này cũng đã “rộng cửa” cho các doanh nghiệp tìm đến đầu tư vào nông nghiệp. Ngoài 3 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng số vốn gần 49 triệu USD, thời gian gần đây, có rất nhiều nhà đầu tư đã và đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại đây với số vốn lớn như Vinamilk, Vingroup.

Điều đáng nói, tại địa bàn này, đã có rất nhiều cách thức hợp tác được triển khai ở đây như DN tự thỏa thuận với nông dân thuê diện tích đất của họ trong 5 hoặc 10 năm; cho nông dân góp cổ phần bằng ruộng đất với doanh nghiệp để cùng làm…

Nhưng xem ra, mọi con đường đều gặp trở ngại. Con đường sáng của DN ở thời điểm này, xem ra vẫn lại là sử dụng quỹ đất sẵn có của các NLT.

Tại Thanh Hóa, địa phương có diện tích rộng, quỹ đất NLT lớn, đã được rất nhiều “ông lớn” như FLC; Vingroup; TH true milk; Hòa Phát, Vinamilk… quan tâm tìm đến. Được biết hiện Cty CP Tập đoàn FLC, Cty TNHH đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEco thuộc Tập đoàn Vingroup – Cty CP, Cty CP ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH… đã có tờ trình xin tỉnh Thanh Hóa thuê 3.030ha đất tại các Cty TNHH MTV Sông Âm, Lam Sơn, Yên Mỹ để mở rộng sản xuất kinh doanh.

Mỗi Cty có ngành nghề kinh doanh riêng, lợi thế riêng. Nhưng có một điểm chung là các dự án đưa ra đều rất lớn. Cụ thể: Sau khi sắp xếp, Cty TNHH 2TV ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa Yên Mỹ (Tập đoàn TH true milk hợp tác với Cty TNHH MTV Yên Mỹ) sẽ đầu tư dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệp trên diện tích 2.930ha với 20.000 con bò. Trong đó bò cho sữa thường xuyên 10.000 con với chế độ chăm sóc, quản lý đàn bò theo công nghệ của Israel, mỗi năm sẽ cung cấp một lượng sữa cho chế biến 110.000 tấn sữa/năm.

Cty TNHH 2TV FLC – Lam Sơn sẽ đầu tư dự án trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt tập trung công nghệ cao với quy mô 1.148ha đất để chăn nuôi 6.000 con bò thịt và 10.000 con bò sữa, bê con. Cty TNHH 2TV đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEnco – Sông Âm sẽ thực hiện dự án nông nghiệp công nghệ cao với các sản phẩm trọng điểm là rau – củ – hoa giá trị cao, nấm, cây ăn quả gắn với công nghệ chế biến thích hợp.

Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, quỹ đất NLT, đất sản xuất của người dân cũng đang được quy hoạch, “sắp xếp” lại để tập trung nguồn lực tài nguyên cho các dự án “khủng”. Cả vùng đất đai màu mỡ Phủ Quỳ ở Nghệ An, đâu đâu cũng có bóng dáng DN.

Hay như ở Hà Tĩnh, chỉ dự án chăn nuôi bò của Cty CP chăn nuôi Bình Hà (Liên doanh Cty CP Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Cty CP An Phú) đã tốn đến 6.119ha đất (tại hai huyện Kỳ Anh 1.645ha, Cẩm Xuyên 4.473ha). Được biết dự án có quy mô 150.000 con bò/năm; nguồn vốn đầu tư 4.223 tỷ đồng, chia làm 3 giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 và 2 sẽ thực hiện trong năm 2015 với quy mô 60.000 con. Dự kiến, đến tháng 6/2016, dự án có tổng quy mô 100.000 con, chủ yếu được nhập từ Úc, New Zealand, Mỹ, Canada…

Có thể nói, việc các DN lớn đổ xô vào lĩnh vực nông nghiệp, khu vực này đã trở nên sôi động với những tín hiệu vui hơn rất nhiều. Nhưng cùng với đó, hàng loạt vấn đề cũng đang đặt ra đối với các địa phương hậu “sắp xếp, chuyển đổi” đất đai, mà đặc biệt nổi lên là vấn đề công ăn việc làm, an sinh xã hội của gia đình công nhân, nông dân vùng sắp xếp, chuyển đổi.

Để yên tâm đầu tư sản xuất, các DN đã và đang nỗ lực tìm kiếm, khoanh vùng cho mình nguồn tư liệu đất đai đủ lớn. Ở một số địa phương thông thoáng, cởi mở, điều kiện đất đai dễ tổ chức, sắp xếp; bằng năng lực và tùy thuộc khả năng “quan hệ”, các DN có thể sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một mặt bằng đầu tư sản xuất.

Tìm hiểu, nắm bắt thông tin một số đề án sắp xếp, chuyển đổi, đã có không ít ý kiến trong dư luận bức xúc khi ở chỗ này chỗ kia, DN chỉ bỏ ra mấy tỉ, nhiều hơn là vai ba chục tỷ đã “lấy” được một nông, lâm trường, mà trước đó bao thế hệ đã dầy công kiến tạo, gây dựng, bảo vệ, vun đắp.

Nhưng cũng có những trường hợp, các DN đổ mồ hôi, sôi nước mắt, trầy vi tróc vảy mà chẳng xong. Thậm chí, có DN còn bỏ ra cả trăm tỷ đồng vào một địa phương để giúp quy hoạch lại sản xuất, với tham vọng tạo ra vùng hàng xuất – chế biến hàng hóa lớn, tập trung nhưng rốt cuộc bị đổ bể, công cốc.

Văn Hùng/nongnghiep.vn

Chi trả dịch vụ môi trường rừng – “Trông người mà ngẫm đến ta”!

Sau gần 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, tỉnh Lâm Đồng trở thành điển hình trong cả nước. Nếu so sánh trong mối tương quan thì Hà Tĩnh thuộc hàng… “em út”. Ngoại trừ những yếu tố khách quan thì vẫn còn nhiều tác động chủ quan khiến công tác thu DVMT rừng ở Hà Tĩnh chưa đạt kết quả như mong muốn.
1.2-106dtl85328
Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc), một trong những đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng

Không thể phủ nhận tỉnh Lâm Đồng có những lợi thế đặc biệt. Địa phương này hiện có khoảng 532.000 ha rừng, trong đó, khu vực rừng nằm trong các lưu vực được chi trả là 514.800 ha. Năm 2011, Lâm Đồng có 272.000 ha nhận tiền DVMT rừng. Năm 2014 là 328.000 ha và năm 2015 là 363.850 ha, chiếm 70% diện tích rừng toàn tỉnh.

Hàng năm, ở Lâm Đồng có trên 16.000 hộ dân được nhận khoán bảo vệ rừng. Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có 50 đơn vị sử dụng DVMT rừng, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, có 30 đơn vị sản xuất thủy điện, 9 đơn vị sản xuất nước sạch và 12 đơn vị kinh doanh du lịch.

Số tiền thu từ DVMT rừng hàng năm cũng tăng dần. Cụ thể là năm 2011: 58,4 tỷ đồng; năm 2012 là 105,5 tỷ đồng; năm 2013 là 127,1 tỷ đồng và năm 2014 xấp xỉ 170 tỷ đồng. Nguồn thu từ DVMT rừng tăng nên định mức khoán trực tiếp cho các hộ bảo vệ rừng theo đó cũng được nâng lên nhiều so với những năm trước đây và “chốt” ở mức 450.000 đồng/ha năm 2014.

Qua 4 năm thực hiện Nghị định 99, tổng kinh phí đã chi trả cho công tác bảo vệ rừng ở Lâm Đồng khoảng 440 tỷ đồng (400 tỷ đồng khoán bảo vệ rừng và 40 tỷ đồng chi phí quản lý của chủ rừng).

Đề cập đến vấn đề này tại Hà Tĩnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Nguyễn Công Tố ngậm ngùi nói rằng, nguồn thu từ DVMT rất… “bèo bọt”. Đã vậy, có tiền rồi cũng không thể… chi được.

Từ năm 2011-2013, Hà Tĩnh bắt đầu truy thu số tiền hơn 6,6 tỷ đồng DVMT rừng ở 5 đơn vị gồm: Công ty Thủy điện Hương Sơn, Công ty Đầu tư & Phát triển Miền Bắc 1 – đơn vị chủ quản của Nhà máy Thủy điện Hố Hô, Công ty TNHH MTV Cấp nước & Xây dựng Hà Tĩnh, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh – đơn vị chủ quản của Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc) và Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ. Tuy nhiên, cho đến nay, số tiền này không thể giải ngân được.

Theo lý giải của Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Trần Chí Thanh thì: “Đến năm 2013, quỹ mới thành lập nên quá niên độ tài chính. Hay nói cách khác là ở thời điểm đó, các chủ rừng đã được cấp kinh phí hoạt động nên không thể chuyển tiền”. Toàn bộ số tiền này hiện đang chờ quyết định từ Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2014, thu từ DVMT rừng ở 5 đơn vị trên lẽ ra phải đạt gần 2,5 tỷ đồng, tuy nhiên, chỉ có 4 đơn vị nộp đủ; còn lại 132.805.000 đồng (có cả tiền truy thu từ những năm trước), Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ không chịu trả. Mặc dù Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã nhiều lần phát văn bản yêu cầu thanh toán ngay nhưng công ty vẫn phớt lờ.

Khách quan mà xét thì số tiền thu DVMT rừng phụ thuộc nhiều vào công suất nhà máy thủy điện; các cơ sở cấp nước và du lịch chỉ đáp ứng phần nào nguồn thu từ DVMT rừng. Trong khi đó, công suất các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh quá nhỏ. Theo quy định của Nghị định 99 thì mỗi kW điện thương phẩm, nhà máy thủy điện phải đóng 20 đồng phí DVMT rừng và các nhà máy sản xuất nước phải trả 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Tuy nhiên, 2 nhà máy thủy điện: Hố Hô và Hương Sơn có công suất chỉ bằng 2/10 so với Nhà máy Thủy điện Đa Nhim – Lâm Đồng (công suất 160 MW và hàng năm phải trả 50 tỷ đồng cho DVMT rừng) nên nguồn thu ít là đương nhiên.

Đã vậy, mức giá DVMT rừng theo Nghị định 99 vẫn… “giẫm chân tại chỗ” trong khi giá nước, điện 4 năm qua đã được điều chỉnh nhiều lần nên không còn phù hợp. Đặc biệt, số tiền người dân được nhận từ DVMT rừng cho công tác nhận khoán bảo vệ rừng lại quá ít. Toàn tỉnh hiện chỉ có 272 hộ dân thuộc 3 xã huyện Hương Khê là Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh được nhận tiền DVMT rừng với tổng số tiền xấp xỉ 20 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận khoảng 70.000 đồng/ha/năm.

Từ đầu năm đến nay, tổng số tiền thu từ DVMT rừng đạt hơn 9,4 tỷ đồng, còn thiếu gần 240 triệu đồng. Đây được coi là tín hiệu vui vì tiền thu được tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho các chủ rừng và người nhận khoán làm tốt hơn công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, con số này chưa là gì, bởi theo ông Đặng Bá Thức – chuyên gia lâm nghiệp tỉnh nhà thì “Hà Tĩnh trong những năm tới đây phải thu ít nhất từ 50-70 tỷ đồng từ DVMT rừng. Bởi rồi đây, nguồn thu từ công trình thủy lợi Ngàn Trươi – Cẩm Trang và hồ chứa nước Rào Trổ ở Kỳ Anh là khá dồi dào. Tất nhiên, phải được Chính phủ cho phép thu từ sản xuất nước công nghiệp ở hồ Rào Trổ”.

“Hà Tĩnh cần phải khẩn trương hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng, từ đó mới có thể tính toán chính xác các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMT rừng để thu đúng, đủ. Thêm nữa, tỉnh phải kiên trì kiến nghị Chính phủ thu thêm tiền DVMT rừng ở hồ Kẻ Gỗ, Sông Rác vì Nhà nước miễn thủy lợi phí thì phải có số tiền lớn để hỗ trợ chủ rừng và người dân trong lưu vực bị ảnh hưởng” – ông Thức nói thêm.

Cùng đó, các ngành chức năng cần rà soát, xem xét kỹ lưỡng vì còn rất nhiều đơn vị hưởng lợi trực tiếp từ rừng nhưng lại đứng “ngoài hàng rào” trả tiền DVMT rừng, đồng thời, phải xử lý dứt điểm tình trạng chây ì nợ tiền DVMT rừng. Có như vậy, “cuộc chiến” bảo vệ rừng mới thực sự có hiệu quả bền vững.

Hoài Nam/baohatinh.vn

Phát huy hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Nghị định 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được ban hành vào tháng 9/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tại tỉnh Kon Tum, chính sách này đã tạo một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khi hướng người dân, cộng đồng ở gần rừng gắn bó với rừng. Qua đó, rừng được quản lý bảo vệ tốt hơn.

Phóng sự được thực hiện trong khuôn khổ phối hợp giữa Liên minh Đất rừng FORLAND và Kênh truyền hình Quốc hội

FORLAND