Monthly Archives: Tháng Sáu 2016

Diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng, Thủ tướng chỉ đạo đóng của rừng

Tái cơ cấu đất rừng

Để sử dụng hiệu quả và bền vững đất lâm nghiệp trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải thực hiện tái cơ cấu đất rừng, giải quyết những tranh chấp trong quản lý, sử dụng rừng…

Quản lý chưa hiệu quả
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thời gian qua, việc quy hoạch quản lý đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập. Đất rừng thường xuyên bị chuyển đổi bởi những mục đích khác nhau như thủy điện, trồng cây công nghiệp, xây dựng khu công nghiệp, nhà máy, thậm chí cả biệt thự…
Ông Phạm Văn Hạnh, Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, hiện nay, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai vẫn xảy ra khá phổ biến ở tất cả các vùng, tập trung nhiều nhất là ở các công ty quản lý rừng tự nhiên vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ… Diện tích đất tranh chấp chủ yếu nằm ở diện tích đất rừng phòng hộ và sản xuất. Đơn cử như tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay có hơn 300.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng phòng hộ là hơn 100.000 ha và 144.088 ha đất rừng sản xuất thì có 426,12 ha rừng phòng hộ do các ban quản lý rừng phòng hộ và công ty lâm nghiệp quản lý đang trong tình trạng bị lấn chiếm hoặc trong tình trạng tranh chấp với người dân địa phương.

Hàng chục hécta rừng phòng hộ bị người dân đốt phá làm nương rẫy.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng lấn chiếm là do khi quy hoạch thành lập các lâm trường chỉ giao đất “trên giấy”, thiếu đo đạc, xác định ranh giới rõ ràng trên thực địa. Nhiều trường hợp chỉ khoanh vẽ trên bản đồ, bao gồm cả đất của người dân đang canh tác, đất dân để lại do du canh du cư từ trước khi thành lập lâm trường. Việc quản lý đất đai của các công ty lâm nghiệp còn bị buông lỏng, thiếu kiểm tra. Cùng với đó, hoạt động của các lâm trường quốc doanh chưa hiệu quả, có nhiều vi phạm trong pháp luật đất đai như cho thuê, mượn đất, chuyển mục đích, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật. Cả nước có 54 công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng đang vi phạm chính sách đất đai, trong đó có hơn 18.000 ha đất trong diện tích có tranh chấp; 76 đơn vị xảy ra tình trạng lấn chiếm với hơn 59.000 ha; 34 đơn vị cho mượn, chuyển nhượng đất với hơn 5.000 ha…

Ở nhiều nơi người dân còn thiếu đất canh tác sản xuất trong khi những diện tích giao lại cho địa phương để người dân sản xuất không đảm bảo cho canh tác. Ông Ngô Văn Hồng, Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển dẫn ra câu chuyện tại Xuân Trạch (Quảng Bình), đây là xã miền núi đặc biệt khó khăn với trên 95% số hộ sản xuất nông nghiệp. Lợi thế duy nhất của địa phương là diện tích đất rừng chiếm trên 80%. Tuy nhiên chỉ có 362/1.398 hộ có đất lâm nghiệp (bình quân 3.77 ha/hộ), diện tích được giao cho UBND xã quản lý để giao cho người dân lại không phù hợp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Trong số 1.014,8 ha được giao, có trên 500 ha đất lâm nghiệp có độ dốc lớn, xa khu dân cư, đầu nguồn nước… chỉ có thể khoanh nuôi phục hồi tái sinh chứ không thể trồng rừng sản xuất. Do thiếu đất sản xuất nên những diện tích còn lại đang trong giai đoạn xây dựng phương án giao đất thì xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm.
Chuyển đổi rừng nghèo
Hiện nay, tổng diện tích rừng của nước ta là hơn 13 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên còn hơn 10 triệu ha. Theo Đề án Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của cả nước sẽ đạt khoảng 16,2 – 16,5 triệu ha trong đó đất rừng sản xuất chiếm hơn 8 ha, rừng phòng hộ gần 6 triệu ha và rừng đặc dụng chiếm khoảng 2,3 triệu ha. Tăng giá trị sản xuất bình quân 4 – 4,5%/năm; đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Ông Phạm Văn Hạnh, Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng kế hoạch rà soát chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất nhằm tái cơ cấu ngành, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tổng hợp các nguồn lợi từ rừng bền vững. Theo đó, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt là những rừng gỗ lá rộng rụng lá nghèo kiệt, rừng lá kim nghèo kiệt… Khu vực chuyển đổi diện tích liền kề với rừng sản xuất, nơi thuận lợi để tổ chức sản xuất. Đối với diện tích nằm trọn trong khu vực phòng hộ đầu nguồn thì quy mô đất, rừng phòng hộ chuyển đổi có diện tích tối thiểu 50 ha và không nằm trong diện tích liền kề các sông lớn, hồ, đập thủy lợi, thủy điện và đường giao thông quan trọng.
“Việc chuyển đổi phải không ảnh hưởng môi trường; đất chuyển đổi phải phục vụ sản xuất cho người dân, giúp họ đầu tư thâm canh, tăng năng suất, có nguồn thu nhập và quay trở lại bảo vệ rừng”, ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết.
Tuy nhiên, theo ý kiến một số chuyên gia, việc chuyển đổi cần phải xem xét kỹ trong quy hoạch và mối tương quan tổng thể. Bởi hiện nay nền nông nghiệp miền núi đang bị phá vỡ do rừng tự nhiên bị cạn kiệt, chuyển đổi dẫn đến thiếu nguồn nước. Việc này sẽ dẫn đến những hệ lụy về an sinh xã hội, không có sinh kế thì người dân sẽ chuyển sang phá rừng.
Cùng với đó, các chuyên gia khuyến nghị, cần rà soát kỹ nguồn tài nguyên đất, nhu cầu đất của người dân. Thực hiện kê khai, kiểm kê diện tích lấn chiếm, giải quyết các tranh chấp, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp hiện nay tại các công ty lâm nghiệp; Thể chế hóa trách nhiệm của các Ban quản lý rừng phòng hộ cả về trách nhiệm hành chính, kinh tế và hình sự đối với việc rừng bị phá, lấn chiếm và khai thác trái phép.

Đóng cửa rừng tự nhiên – giải pháp khẩn cấp để cứu rừng

VOV.VN – Việc dừng cấp phép xây dựng thủy điện và đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên đã cho thấy sự quyết liệt bảo vệ rừng, chuyển đổi rừng tự nhiên…

Tại Hội nghị tìm các biện pháp khôi phục rừng Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo đóng tất cả cửa rừng tự nhiên tại Tây Nguyên. Và cũng để bảo vệ môi trường, bảo vệ những cánh rừng quý còn sót lại, UNND tỉnh Gia Lai cũng đã gửi văn bản đề nghị Chính phủ không cấp phép xây dựng thủy điện trong khu bảo tồn Kon Chư Răng.

Việc dừng cấp phép xây dựng thủy điện tại Gia Lai và đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên đã cho thấy sự quan tâm và quyết liệt bảo vệ rừng trước nguy cấp về tình trạng phá rừng, chuyển đổi rừng tự nhiên những năm gần đây.

dong cua rung tu nhien – giai phap khan cap de cuu rung hinh 0
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Phát triển Lâm nghiệp tham gia buổi tọa đàm tại Đài TNVN

Trong 5 năm qua, rừng Tây Nguyên đã giảm nhanh cả về chất lượng và diện tích, giảm tới gần 300.000ha. Việc suy giảm diện tích và chất lượng rừng Tây Nguyên trong những năm qua là hết sức nghiêm trọng, nếu không ngăn chặn thì hiệu quả sẽ khôn lường.

Nghe toàn bộ cuộc trao đổi  với GS, TS Nguyễn Ngọc Lung:

Đóng cửa rừng tự nhiên là biện pháp cấp bách để cứu rừng là nội dung trong câu chuyện thời sự của Đài TNVN ngày 24/6 với sự tham dự của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Phát triển Lâm nghiệp (Bộ NN và PTNT).

PV: Thưa GS, ông có suy nghĩ thế nào khi mới đây Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Tôi rất vui mừng về chỉ đạo của Thủ tướng. Rừng và nước là 2 yếu tố quan trọng nhất của Tây Nguyên. Thủ tướng đã đi đúng vấn đề vì rừng liên quan đến nước, liên quan đến đất…

PV: Theo ông, liệu đóng cửa rừng tự nhiên có phải là biện pháp bảo vệ rừng lâu dài không?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Toàn dân hiện đang quan tâm đến việc đóng cửa rừng tự nhiên. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng việc mất rừng không phải chỉ do việc đóng cửa rừng tự nhiên hay không đóng, mà là do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác khác. Trước kia, người dân phá rừng làm nương rẫy, sau này thì phá rừng để lấy đất trồng điều, trồng cà phê, trồng hồ tiêu, cao su, mắc ca…

Thực tế, việc chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác khác khiến mất rừng nhiều hơn so với việc không đóng cửa rừng tự nhiên. Nếu đóng cửa rừng tự nhiên thì sẽ hạn chế được việc khai thác gỗ.

dong cua rung tu nhien – giai phap khan cap de cuu rung hinh 1
Đóng cửa rừng tự nhiên – giải pháp khẩn cấp để cứu rừng. (Ảnh minh họa: Dân Việt)

PV: Việc chuyển đồi rừng nghèo thành đất trồng cây công nghiệp như cao su hay xây dựng công trình thủy điện. Điều này khiến việc phá rừng, mất đất rừng ngày càng gia tăng. Ông có thể giải thích cụ thể hơn về vấn đề này.

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Rừng tự nhiên có thể là rừng rất giàu nếu như ở đó đất tốt nhưng cũng có thế rất nghèo nếu như đất xấu. Có những khu rừng đá đã lộ đầu, chưa khai thác thì rừng đã xấu rồi.

Như vậy, trước hết, rừng tốt hay xấu là do điều kiện địa lý và thời tiết, đất đai có tốt hay không. Tiếp theo là do yếu tố con người, nếu khai thác quá khả năng sinh trưởng thì mỗi năm rừng sẽ xấu đi.

Việc đóng cửa rừng tự nhiên sẽ hạn chế được việc khai thác quá mức và để rừng có thời gian sinh trưởng.

Nếu không đóng cửa rừng tự nhiên thì rừng sẽ trở thành rừng nghèo kiệt, sẽ mất đi chất lượng, năng lực phòng hộ, tác động đến yếu tố nước và không khí chứ không mất đi diện tích.

PV: Theo điều tra, vùng lõi rừng Tây Nguyên đã mất đi các loại gỗ quý, chỉ còn men ở xung quanh. Qua thực tế này, ông có thấy tình trạng mất rừng Tây Nguyên là đáng báo động hay không?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Phải thừa nhận một thực tế là, khi phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến môi trường, vì thế các hội thảo quốc tế đã kêu gọi loài người hãy tự cứu mình bằng cách cứu lấy rừng.

PV: Như vậy việc giữ rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đất nước có phải không, thưa ông?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Rừng tự nhiên dù nghèo kiệt đến đâu thì vẫn còn giá trị đa dạng sinh học vẫn hơn gấp trăm lần rừng trồng. Ngoài ra, tác dụng bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, bảo vệ không khí không nóng lên, làm cho nước được bảo tồn, chuyển nước mưa thành nước ngầm.

Vì thế các chuyên gia quốc tế khuyến cáo rằng thà giữ 1ha rừng tự nhiên còn hơn phát triển 5 – 10 ha rừng trồng. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhiều người quan niệm rừng nghèo kiệt nên được phá bỏ để trồng mới để có giá trị kinh tế cao hơn.

PV: Liệu có phải việc mất rừng tự nhiên ở Việt Nam hiện nay là tình trạng “cha chung không ai khóc” bởi mới chỉ 4% giao cho người dân còn 96% giao cho các tổ chức nhưng các tổ chức này không giám sát chặt chẽ?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Đại đa số diện tích rừng của Việt Nam được giao cho các tổ chức nhưng lại không kỷ luật những tổ chức được giao bảo vệ rừng mà không thực hiện tốt. Sau khi thống nhất đất nước, đã có 3 chương trình về bảo tồn phát triển rừng Tây Nguyên. Về cơ sở khoa học như vậy là rất tốt. Trên thực tế, hai yếu tố cơ bản của Tây Nguyên là đất và nước. Đất bazan ở Tây Nguyên khiến cả thế giới phải thèm khát nhưng lại thiếu nước do lượng mưa không đều. Công tác quy hoạch lại không tốt nên việc canh tác cà phê, cao su, hồ tiêu… chưa hiệu quả.

PV: Ông có thể nói về các “lợi ích nhóm” trong việc lợi dùng rừng nghèo kiệt để chuyển đổi mục đích sử dụng, để xây dựng công trình thủy điện?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Trong hội đồng nhà nước về đánh giá tác động môi trường của các dự án cao su tôi có tham dự và ngăn chặn được khá nhiều. Khi kiếm được nguồn tài trợ thì người ta cố tìm dự án trồng cao su để mang lại lợi ích cho người trồng, trong đó có việc chặt gỗ rừng. Rừng tự nhiên có nhiều tác dụng, ít bị cháy và có tác dụng điều hòa không khí tốt. Vậy nên cả thế giới đều nỗ lực bảo vệ rừng tự nhiên.

PV: Ông có ý kiến thế nào về việc khai thác khoảng sản, khai thác rừng trái phép?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Việc khai thác trái phép các loại khoáng sản, trong đó có Titan, chứng tỏ có lỗ hổng trong quản lý. Nhưng chưa vội “kết tội” khi chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể.

PV: Ông đánh giá gì về công tác quản lý, bảo vệ rừng, cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong vấn đề này?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Người bảo vệ rừng, người chống buôn lậu chính là những người cần cảnh giác nhất vì họ là người được trao quyền và trực tiếp thực hiện.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nguồn: theo VOA tại http://vov.vn/xa-hoi/dong-cua-rung-tu-nhien-giai-phap-khan-cap-de-cuu-rung-523822.vov

Hội thảo về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu ngành

Phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh là mục tiêu lớn nhất của Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (BNNPTNT) ban hành theo Quyết định 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/07/2013. Để thực hiện mục tiêu này, cơ cấu các loại rừng và đất lâm nghiệp đã được định hướng sẽ có những thay đổi lớn trong những năm tới, theo đó đến năm 2020, ngoài diện tích rừng đặc dụng sẽ được củng cố, giữ nguyên diện tích (2.27 triệu ha), các diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất sẽ là đối tượng ưu tiên chuyển dịch nhằm đảm bảo quỹ đất phát triển sản xuất, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cũng như cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng địa phương.

Xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu đất lâm nghiệp ở quy mô lớn là hiện hữu. Bên cạnh những cơ hội và kỳ vọng phát triển kinh tế rừng, những thay đổi lớn mang tính hệ thống nói trên cũng đặt ra những hàm ý quan trọng phải có nhận diện, đánh giá tính cần thiết, tính phù hợp, tác động và rủi ro của các phương án chuyển đổi, tái cơ cấu, nhất là liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, rừng cũng như hỗ trợ giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn về sử dụng đất rừng giữa người dân với các chủ rừng nhà nước (đặc biệt là các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ) hiện tại. Đồng thời, sự chuyển dịch nói trên cũng đặt ra các yêu cầu cần phải xem xét và sửa đổi quy định hiện hành để đảm bảo rằng đất rừng và rừng được quản trị tốt hơn; đảm bảo tính minh bạch, có sự tham gia và công bằng lợi ích trong quá trình quy hoạch quản lý và sử dụng rừng, đất lâm nghiệp; thu hồi, giao, cho thuê rừng và đất rừng.

Nhằm hỗ trợ và đóng góp cho tiến trình sửa đổi Luật BVPTR 2004, hay xây dựng Luật Lâm nghiệp, theo khuôn khổ Kế hoạch hợp tác khoa học năm 2016 ký ngày 05/01/2016 (Hoạt động 2.1), Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đồng tổ chức hội thảo “Sử dụng hợp lý và bền vững đất lâm nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu ngành: Thực trạng và giải pháp.

Toàn cảnh Hội thảo

Toàn cảnh Hội thảo

Chương trình và các bài trình bày tại Hội thảo:

Chương trình Hội thảo

Chính sách giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao – Ông Trần Hữu Nghị, Tropenbos International Việt Nam

Quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trong hệ thống rừng phòng hộ: Trường hợp tỉnh Thừa Thiên Huế – Ông Phạm Ngọc Dũng, Phó Chi cục Kiểm lâm kiêm Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế

Tổng quan hiện trạng rừng Việt Nam và tình hình quản lý sử dụng rừng, đất lâm nghiệp trong các công ty lâm nghiệp – Ông Phạm Văn Hạnh, Vụ Quản lý Sản xuất, Tổng cục Lâm nghiệp

Thách thức và rào cản giải quyết tiếp cận đất rừng cho hộ gia đình trong tiến trình tái cơ cấu công ty lâm nghiệp – Ông Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức Bản địa và Phát triển (CIRD)

Kế hoạch và tiêu chí rà soát chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất – Vụ Quản lý sản xuất, Tổng cục Lâm nghiệp

Nhận diện tác động và rủi ro của phương án chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất – Trung tâm Con người và Thiên nhiên

Rừng do UBND xã quản lý: Hiện trạng và giải pháp – Bà Hồ Thị Quý Phi, Ban quản lý Dự án KfW10 tỉnh Kon Tum

Đề xuất thay đổi cơ cấu phân loại rừng Việt Nam: Chuyển đổi từ 3 thành 2 loại rừngÔng Đoàn Diễm, nguyên Cục phó Cục Kiểm lâm

Phân loại hợp lý rừng và đất rừng – GS.TS. Đặng Hùng Võ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cố vấn Chương trình Quản trị Đất Mê Kông

FORLAND đóng góp tích cực vào kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA giai đoạn 2015-2016

Trong những năm vừa qua, Liên minh đất rừng (FORLAND) đã tham gia tích cực vào các hoạt động phối hợp giữa Tổng cục lâm nghiệp và Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong các nghiên cứu, phản biện và xây dựng chính sách về nông lâm nghiệp.

Đánh giá kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA năm 2015-2016 cho thấy: FORLAND và các tổ chức thành viên thuộc FORLAND đã tham gia nhiều hoạt động cụ thể và thực chất trong các hoạt động phối hợp chung giữa TCLN và VUSTA như: Tham vấn cộng động đóng góp cho tiến trình xây dựng hồ sơ Luật Lâm nghiệp; Tham gia các nghiên cứu, phản biện trong tiến trình giám sát việc thực hiện quản lý đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh; Nghiên cứu đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi Nghị định 99/NĐ-CP/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng,… Các đóng góp của FORLAND đã được lãnh đạo TCLN và VUSTA ghi nhận và đánh giá cao, một số đại diện của FORLAND đã được TCLN và VUSTA tặng bằng khen về những đóng góp trong tiếnh trình nghiên cứu và phản biện các chính sách về nông lâm nghiệp.

13339626_895257277251188_8008441355118597048_nÔng Ngô Văn Hồng- Giám đốc tổ chức điều phối FORLAND phát biểu tại hội nghị

Trong giại đoạn 2016-2017, FORLAND sẽ tiếp tục tham gia vào một số hoạt động nghiên cứu và phản biện trong chương trình phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA, tập trung vào một số chuyên đề cụ thể như: Vận động sửa đổi, thay thế Luật Bảo vệ Phát triển rừng/Luật Lâm nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của hộ gia đình và cộng đồng; Thúc đẩy tiến trình giám sát việc thu hồi và sử dụng quỹ đất lâm nghiệp được giao lại từ NLT quốc doanh cho người dân địa phương; Xây dựng và thể chế hóa Hướng dẫn giám sát thực hiện và đánh giá hiệu quả, tác động của thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở cấp địa phương.

Nguồn: http://www.vusta.vn/vi/news/Lien-hiep-hoi-1733/Ket-qua-phoi-hop-hoat-dong-giua-Tong-cuc-Lam-nghiep-va-Lien-hiep-Hoi-Viet-Nam-2015-2016-59858.html

Dự thảo Nghị định quy định về khoán rừng, vườn cây và diện tích đất mặt nước

Hiện nay Tổng cục lâm nghiệp đang tiến hành lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Nghị định Quy định về khoán rừng, vườn cây và diện tích đất mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp Nhà nước.

Dự thảo Nghị định gồm có 03 chương với 17 điều và 05 phục lục: Chương I: Quy định chung; Chương II: Quy định về khoán; Chương III: Tổ chức thực hiện.

Chi tiết xem tại: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/gop-y-van-ban/tong-cuc-lam-nghiep-lay-y-kien-gop-y-du-thao-nghi-dinh-quy-dinh-ve-khoan-rung-vuon-cay-va-dien-tich-mat-nuoc-trong-cac-ban-quan-ly-rung-dac-dung-rung–a3012

 

 

Lào Cai thí điểm Dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước trực tiếp từ rừng

Như đã đưa tin, tại Hội thảo tham vấn kết quả nghiên cứu của nhóm tư vấn Dự án IPFES về chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với hoạt động sản xuất công nghiệp  có sử dụng nước từ rừng ngày 31/3-1/4/2016, đa số đại biểu đều đồng thuận và ủng hộ với kết quả và những đề xuất của tư vấn. Đây chính là căn cứ quan trọng để giúp UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 1551/QĐ-UBND ngày 27/5/2016 Quy định thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Theo Quyết định này, mức thu (đơn giá) tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các đơn vị sản xuất công nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh là 35 đồng/m3. Số tiền thu trong kỳ = đơn giá x lượng nước đăng ký được cơ quan có thẩm quyền cấp phép x tỷ lệ huy động công suất so với công suất thiết kế của dự án.

Quyết định cũng đề cập chi tiết đối với việc quản lý, sử dụng; việc ký kết hợp đồng ủy thác, kê khai, lập kế hoạch, kỳ hạn thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng; quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liên quan.

Thời điểm thực hiện thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước trực tiếp từ rừng tính từ ngày 01/7/2016. Đối với các cơ sở hoạt động sau ngày nói trên thì thời điểm thu tiền tính từ ngày cơ sở đó đi vào hoạt động.

Chi tiết văn bản xem tại đây: data/XFinder/files/News/1551-Q%c4%90%20ban%20h%c3%a0nh%20quy%20%c4%91%e1%bb%8bnh%20th%c3%ad%20%c4%91i%e1%bb%83m%20v%e1%bb%81%20m%e1%bb%a9c%20thu%2c%20qu%e1%ba%a3n%20l%c3%bd%20v%c3%a0%20sd%20ti%e1%bb%81n%20DVMTR.PDF

Nguồn: Theo Quỹ BV&PTR Việt Nam: http://vnff.vn/tin-tuc/tin-dia-phuong/2016/5/lao-cai-thi-diem-dich-vu-moi-truong-rung-doi-voi-cac-co-so-san-xuat-cong-nghiep-su-dung-nuoc-truc-tiep-tu-rung