Monthly Archives: Tháng Tám 2016

Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của FORLAND

Ngày 26/08/2016, tại TP Đà Nẵng, Liên minh đất rừng (FORLAND) tổ chức Hội nghị “Sơ kết hoạch động 6 tháng đầu năm 2016 – FORLAND”.

Hội nghị có sự tham gia của 27 đại biểu đến từ các tổ chức thành viên của FORLAND, đại diện các đối tác (UBKHCN&MT của Quốc Hội, đại diện TCLN, đại diện VUSTA), đại diện nhà tài trợ Oxfam và MLRG, cùng các chuyên gia của FORLAND.

Ông Ngô Văn Hồng- GĐ tổ chức điều phối FORLAND phát biểu khai mạc

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe 06 báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của FORLAND trong 6 tháng đầu năm 2016, bao gồm:
-Báo cáo tiến độ FORLAND 1-6/2016 (gồm 01 báo cáo chính và 03 báo cáo thành phần cho các AIs)
– Báo cáo giám sát đánh giá (MEL)
– Báo cáo truyền thông FORLAND
– Một số ý kiến đóng góp của Oxfam với hoạt động của FORLAND
– Báo cáo Concept Note dự án quỹ IF
Chi tiết các báo cáo có thể xem tại:

BC Forland 1-6.2016

MEL_Bao cao 2016

AI Luat lam nghiep

Bao cao hoat dong truyen thong 2016

AIPFES_KetquahoatdongQII-II2016_Aug2016AI_ NLTQD

Đã có 11 báo cáo và bài tham luận được trình bày và chia sẻ tại hội nghị, sau đó đã có 24 ý kiến phát biểu trực tiếp tại hội nghị. Các đại biểu đã thảo luận vào đóng góp nhiều ý kiến quan trọng, tâm huyết đóng góp cho các hoạt động của FORLAND, cũng như bàn về việc phối hợp giữa các bên liên quan trong triển khai các hoạt động tiếp theo trong năm 2016.

Tin và ảnh: FORLAND

 

Gỡ vướng trong giao đất, giao rừng ở Quảng Bình


Cán bộ lâm nghiệp đo đạc diện tích rừng để giao cho người dân xã Trường Sơn (Quảng Ninh, Quảng Bình) quản lý, bảo vệ.

Thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các ngành, đơn vị tích cực thực hiện giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) để tạo điều kiện cho bà con ổn định đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có nhiều vưỚng mắc làm ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của việc giao đất, giao rừng cho đồng bào.

Trường Sơn là xã biên giới của huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) có 20 thôn, bản với dân số hơn một nghìn hộ, và hơn 4.300 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Theo Chủ tịch UBND xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ, trong tổng số gần 77.500 ha đất tự nhiên, xã Trường Sơn chỉ có hơn 100 ha đất sản xuất, còn lại phần lớn là đất rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp do Công ty Lâm công nghiệp Long Đại và các Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý. Theo kế hoạch giao đất, giao rừng của UBND tỉnh Quảng Bình, xã Trường Sơn sẽ được nhận hơn 3.800 ha đất rừng sau khi các đơn vị trên bóc tách, chuyển sang. Tuy nhiên, đến giữa tháng 6-2016, xã Trường Sơn mới nhận được hơn 360 ha đất rừng. Nếu đưa số diện tích đất lâm nghiệp đã nhận được chia cho số hộ trong xã thì chưa đủ.

Còn xã rẻo cao Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) có diện tích 48 nghìn ha nhưng gần như toàn bộ là đất của các lâm trường và Ban quản lý rừng phòng hộ. Thực tế, xã chỉ quản lý 4.000 ha, nhưng hơn một nửa diện tích bị người dân các xã lân cận xâm canh. Chủ tịch UBND xã Kim Thủy Hồ Văn Tuyên cho biết: “Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Quảng Bình, Công ty Lâm công nghiệp Long Đại đã ba lần cắt, giao cho xã Kim Thủy gần 200 ha đất rừng để chia cho người dân, song đến nay vẫn chưa giao được mét vuông nào do vướng mắc nhiều chỗ. Cụ thể, lần thứ nhất, Công ty cắt hơn 100 ha đất ngay phía sau trụ sở xã để giao cho dân nhưng do trước đó đất được cán bộ dưới xuôi mượn, thuê, nhận khoán thời hạn đến 45 năm, nên họ không chịu trả lại vì chưa hết thời hạn cho nên việc giao nhận mới chỉ trên giấy. Lần thứ hai, Công ty bóc tách bảy ha giao cho người dân ba bản gần biên giới nhưng cũng không giao được. Nguyên nhân trước đây vùng đất này được thiết kế trồng cao-su, nhưng do lùm xùm về thủ tục chuyển đổi cho nên Hạt Kiểm lâm huyện Kim Thủy chưa ký. Lần gần đây, Công ty Long Đại tiếp tục cắt chuyển cho xã 90 ha nhưng khi giao người dân không nhận do quá xa khu dân cư, địa hình phức tạp.

Theo ông Hồ Văn Tuyên, xã Kim Thủy có hơn 1.000 hộ dân, hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó có 180 hộ không có đất sản xuất cho nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Cũng do thiếu đất sản xuất, nhiều lao động chính ở Kim Thủy phải vào rừng săn bắn và khai thác lâm sản trái phép. Do vậy, áp lực bảo vệ rừng trước sự mưu sinh của bà con là rất lớn và ngày càng phức tạp…

Theo đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, việc giao đất, giao rừng cho đồng bào các dân tộc còn chậm là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, diện tích đất lâm nghiệp bóc tách từ các lâm trường để giao cho người dân chủ yếu là rừng tự nhiên nằm ở vùng có khe suối, núi đá, không có đường đi. Mặt khác, diện tích sau bóc tách giao cho người dân nằm xen kẽ trong diện tích rừng phòng hộ, hoặc rừng sản xuất do Nhà nước và các công ty lâm công nghiệp quản lý, vì vậy việc sản xuất gặp nhiều khó khăn. Thứ hai, một số diện tích rừng đang trong thời gian hợp đồng giữa các lâm trường với các hộ dân hoặc tài sản trên đất chưa giải quyết dẫn đến việc giao đất, giao rừng cho bà con sản xuất có nhiều vướng mắc. Thứ ba, sự phối hợp trong công tác giao đất giữa các ngành, đơn vị còn yếu, việc điều tra hiện trạng, khả năng sản xuất của từng vùng đất từ đó có kế hoạch bóc tách và giao đất phù hợp, sử dụng hiệu quả chưa được các ngành, địa phương chú trọng. Phó Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy Lê Văn Sơn cho rằng, việc giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS gặp khó khăn còn do thiếu sự hợp tác của các cá nhân, tổ chức đã nhận đất, trồng rừng mà các lâm trường giao khoán, cho thuê từ nhiều năm trước.

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, từ năm 2012 đến nay, Sở đã trình UBND tỉnh thu hồi hơn 8.300 ha đất của các nông lâm trường giao về địa phương quản lý và xét giao đất sản xuất ổn định lâu dài cho các hộ dân thiếu đất sản xuất. Tuy nhiên, việc giao đất trên thực địa khó khăn gấp nhiều lần so với giao trên hồ sơ. Do vậy, đến nay, các địa phương trong tỉnh Quảng Bình chỉ giao được hơn 2.800 ha đất cho các hộ dân, bằng một phần ba số diện tích đất thu hồi.

Việc đồng bào DTTS một số địa phương còn thiếu đất sản xuất đã trở thành chủ đề “nóng” tại các kỳ họp của HĐND tỉnh Quảng Bình trong nhiệm kỳ trước và ngay cả trong kỳ họp thứ hai, nhiệm kỳ 2016-2021 tổ chức cuối tháng 7 vừa qua. Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình Hoàng Đăng Quang đã chỉ đạo UBND tỉnh tích cực chỉ đạo các ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc bóc tách, giao đất, giao rừng cho người dân để ổn định sản xuất.

Dưới góc nhìn của một đơn vị thường xuyên hỗ trợ việc giao rừng cho đồng bào dân tộc Vân Kiều ở huyện Quảng Ninh, Giám đốc Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh Phan Mậu Tài cho rằng: Giải pháp cốt lõi để giải “bài toán” nghèo đói là cần bảo đảm đủ đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc. Do đó, UBND tỉnh Quảng Bình và các huyện cần tạo điều kiện cho người dân tham gia quản lý và sử dụng đất rừng tại địa phương, để người dân vừa tạo thu nhập, vừa góp phần bảo vệ hiệu quả đất rừng tự nhiên. Ngoài ra, để thúc đẩy việc giao đất lâm nghiệp, chính quyền các địa phương cần chủ động rà soát lại diện tích đất đề xuất thu hồi, xây dựng phương án giao đất đồng thời vận động tích cực, thường xuyên để người dân tổ chức sản xuất trên diện tích đã có và hạn chế việc mua bán, chuyển nhượng đất rừng.

Nguồn: Báo Nhân Dân (bản điện tử): http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/30494102-go-vuong-trong-giao-dat-giao-rung-o-quang-binh.html

Giải pháp đơn giản, giá rẻ và hiệu quả giúp hạn chế mất rừng

 MT&ĐS – Trả tiền cho chủ sở hữu đất rừng để họ không đốn cây lấy gỗ bán hoặc lấy đất sản xuất nhằm bảo vệ rừng là một biện pháp hiệu quả, có chi phí hợp lý để ngăn chặn nạn phá rừng. Đó là kết quả của một nghiên cứu được thực hiện tại Uganda, quốc gia có tỷ lệ mất rừng thuộc hàng cao nhất thế giới.

Nghiên cứu này được Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ công bố trong khuôn khổ một chương trình Chi trả dịch vụ hệ sinh thái ((Payment for Ecosystems Services – PES) lớn, do nhóm chuyên gia của Đại học Northwestern và Đại học Stanford (Mỹ) thực hiện với nguồn kinh phí chủ yếu từ Quỹ Môi trường Toàn Cầu và một phần nhỏ từ chính phủ Uganda.

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một giải pháp khả quan để bảo vệ một khu vực rừng có tính đa dạng sinh học cao và là môi trường sống của những con tinh tinh đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy tính hiệu quả của Chi trả dịch vụ hệ sinh thái trong cuộc chiến chống mất rừng trên toàn cầu.

Có nhiều chương trình giúp bảo vệ rừng nằm trong một sáng kiến mang tính bao quát của Liên Hợp Quốc là Sáng kiến Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+). Theo đó, các nước giàu hơn và các nhà gây quỹ quốc tế sẽ chi trả cho các nước đang phát triển để họ bảo vệ cây rừng của chính quốc gia mình. Việc làm này càng trở lên cấp thiết hơn sau lời kêu gọi về tầm quan trọng của REDD+ và cuộcchiến chống mất rừng trong Thỏa thuận Khí hậu tại Paris 2015.

Theo nghiên cứu mới này, các chủ sở hữu đất trồng rừng ở 60 làng thuộc hai quận Hoima và Kibaale phía Tây Uganda được cấp 28 USD/ha/năm trong vòng 2 năm nếu họ không đốn cây để làm nông nghiệp hay phục vụ cho các mục đích kinh tế khác. Trong khi đó, ở 61 làng khác trong khu vực không được cấp bất kỳ khoản nào và tốc độ mất rừng được kiểm soát bằng vệ tinh. Kết quả cho thấy trong khi độ che phủ rừng giảm từ 7-10% ở nhóm thứ hai thì với nhóm thứ nhất độ che phủ rừng chỉ giảm khoảng 2-5%. Điều này cho thấy các khoản tiền khuyến khích đã ngăn được nhiều chủ rừng chặt cây lấy gỗ bán, làm than củi hoặc phá rừng lấy đất để trồng hoa màu.

Nhà kinh tế học Seema Jayachandran (Đại học Northwestern) thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: Nghiên cứu này là bằng chứng quan trọng về tầm ảnh hưởng to lớn của chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái và số tiền chi trả đã đem lại những khu vực được rừng nguyên vẹn mà đáng lẽ nó đã có thể bị mất đi.

Nghiên cứu cũng chứng minh đây là cách làm hiệu quả về mặt chi phí để chống mất rừng và là một chính sách khả quan trước tình hình bất bình đẳng kinh tế trên toàn cầu. Hoạt động này sẽ khuyến khích bảo tồn rừng ở những nước nghèo, đang phát triển – nơi người dân sống chủ yếu dựa vào rừng.

Bà Jayachandran cũng cho biết: “Về mặt tác động toàn cầu, chúng tôi không quan tâm người ta giữ một cái cây nguyên vẹn ở Mỹ hay Uganda, nhưng chi phí của việc bảo vệ một cây giống nhau ở Uganda chắc chắn sẽ thấp hơn ở Mỹ”.

Dựa trên các tính toán sử dụng phương pháp đo lường chi phí xã hội carbon tiêu chuẩn của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), nghiên cứu tính toán rằng chi phí của việc trì hoãn phát thải 1 tấn CO2 vào không khí theo chương trình này sẽ chỉ là khoảng 57 cents nhưng sẽ mang lại lợi ích tương đương 1,11 USD.

Phương pháp tiếp cận Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) đang được sử dụng phổ biến trong hoạt động bảo tồn quốc tế, một phần là do nó chỉ dựa trên một thỏa thuận tự nguyện mà chủ đất có thể chấp nhận hoặc từ chối dựa trên những lợi ích kinh tế của họ thay vì một chương trình bắt buộc như các quy định hay luật lệ. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu mất những nghiên cứu ngẫu nhiên để kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động này từ khi bắt đầu tới khi kết thúc. Và theo bà Jayachandran đây chính là nghiên cứu đầu tiên: “Ít nhất theo như tôi được biết, nghiên cứu này là đánh giá ngẫu nhiên đầu tiên”.

Trong các làng được nghiên cứu ở Uganda, bình quân một chủ đất sở hữu 2 ha đất rừng, có nghĩa là mỗi người có thể nhận được 56 USD chỉ để hoàn toàn không động đến rừng trong một năm. Theo các nhà nghiên cứu, số tiền này chiếm 5% thu nhập bình quân đầu người theo năm của khu vực. Nhóm tác giả cũng chỉ rõ rằng số tiền trung bình người dân thu được từ bán gỗ ở đây là 151 USD/năm và thêm khoảng 30-100 USD/ha/năm từ hoạt động nông nghiệp.

“Phần lớn thu nhập của người dân trong làng không đến từ các sản phẩm rừng mà từ việc kinh doanh, buôn bán nhỏ, nhưng việc bán cây lấy gỗ hay bán than củi cũng giúp họ kiếm được khá nhiều tiền và họ coi đó như một nguồn tiền tích lũy khi cần tiền gấp”. – Bà Jayachandran cho biết

Vì thế trong khi các chủ đất Uganda khai thác rừng để bổ sung thêm vào thu nhập khi cần thiết thì khoản tiền nhận được từ chương trình có thể khuyến khích họ, ít nhất là hoãn việc khai thác rừng trong vòng 1-2 năm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là rừng hoàn toàn được bảo vệ sau khi kết thúc thời gian 2 năm nghiên cứu – và chính các nhà nghiên cứu cũng giả định điều đó sẽ không xảy ra.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ việc trì hoãn phát thải carbon từ mất rừng cũng đem lại nhiều giá trị về mặt kinh tế. Đó là chưa kể đến những thành quả khác từ việc bảo tồn đa dạng sinh học rừng trong khu vực sinh thái nhạy cảm này.

Bà Jayachandra cũng lưu ý thêm rằng khi tham gia Sáng kiến REDD+, người dân mong đợi nhiều khoản chi từ chính phủ các nước phát triển để giúp các nước đang phát triển bảo tồn rừng (thắt chặt bảo vệ rừng, trừng trị việc đốn gỗ trái phép và làm sạch đất). Nhưng những chương trình như PES cũng có thể hỗ trợ phần nào bằng cách đưa ra những khuyến khích bảo tồn với các chủ đất rừng – những người có quyền phá rừng hợp pháp. “Đối với những vùng đất thuộc sở hữu cá nhân hoặc cộng đồng, đây sẽ là một công cụ chính sách đầy hứa hẹn cho REDD+” – Bà Jayachandra khẳng định.

Diệu Linh (Theo Washingtonpost)

Nguồn: báo Môi trường & Đời sống: http://moitruongvadoisong.vn/2016/08/25/giai-phap-don-gian-gia-re-va-hieu-qua-giup-han-che-mat-rung/

Tuyên Quang: Sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp

TQĐT – Ngày 26-5-2016, UBND tỉnh đã ra các Quyết định số 160, 162, 163, 164, 165/QĐ-UBND phê duyệt cho 4 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương xây dựng phương án chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thời gian thực hiện năm 2016 – 2017; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2016 – 2017.

Qua đánh giá của tổ chức FCS (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cuối tháng 5 vừa qua, cả 5 công ty lâm nghiệp này đều đủ điều kiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với diện tích được cấp trên 11.000 ha và sẽ được cấp chứng chỉ vào tháng 9 năm nay.


Công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Sơn chăm sóc keo giống.

Tuy nhiên theo các công ty lâm nghiệp, trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, các đơn vị cũng đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công ty chưa được đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, dễ phát sinh tranh chấp và gây vướng mắc cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp. Việc xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty gặp nhiều khó khăn vì bản thân các công ty khó xác định được giá trị tài sản hiện có đảm bảo theo đúng yêu cầu. Việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính cũng vướng mắc, do hiện tại các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới lại chưa được thực hiện. Thêm vào đó, chi phí để sắp xếp, chuyển đổi theo quy định không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay; việc giải quyết diện tích đất bị lấn chiếm còn nhiều khó khăn.

Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương chia sẻ, đề án sắp xếp đổi mới công ty đã được phê duyệt từ cuối tháng 5, tuy nhiên, hiện đơn vị đang gặp một số khó khăn như chưa hoàn thành đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa; chưa hoàn thành kiểm kê từng lô rừng để xác định giá trị kinh tế… Đơn vị xác định từ nay đến hết năm, phần việc còn lại là rất nhiều, nhưng đơn vị sẽ dốc sức, tập trung hoàn thành các phần việc theo quy định.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình được giao quản lý 1.850,2 ha đất lâm nghiệp. Sau khi được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty đã xác định được ranh giới đất giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các hộ dân, thuận lợi cho việc xử lý các trường hợp lấn chiếm đất đai, tài nguyên rừng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty đã tổ chức khoán liên doanh trồng rừng sản xuất trên diện tích đất công ty được giao, được thuê với cán bộ, công nhân của công ty và người dân trên địa bàn với diện tích 1.253,6 ha. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng sản xuất đã gắn được quyền lợi và trách nhiệm của công ty với người lao động đến sản phẩm cuối cùng. Sản lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao, rừng đã có chủ thực sự, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng trồng được hạn chế tối đa. Bắt tay vào sắp xếp, đổi mới, công ty lựa chọn phương án sắp xếp, đổi mới thuộc loại hình 2 thành viên trở lên, vì mô hình này phù hợp với điều kiện thực tế cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân đang làm việc tại Công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển chế biến và thị trường; đảm bảo quyền lợi của người lao động; huy động được nguồn vốn đầu tư của tập thể, cá nhân cùng góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Hiện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã chốt phương án về ngành nghề sản xuất kinh doanh, đất đai, quản lý sử dụng rừng, vốn, lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thị trường và tổ chức bộ máy.

Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình – anh Nguyễn Hồng Thái cho biết, một trong những mục tiêu quan trọng của công ty trong thời gian tới là xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với diện tích đất được giao, được thuê. Trong đó, Tuyên Bình lựa chọn loài cây keo là cây trồng chính, tập trung vào giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và phương pháp nuôi cấy mô để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, hiệu quả kinh tế cao hơn. Phấn đấu đến 2020, diện tích keo lai chiếm 80% diện tích rừng của công ty. Đồng thời, đơn vị phấn đấu cấp chứng chỉ rừng cho khoảng 1.000 ha và xây dựng diện tích này vào kinh doanh cây gỗ lớn kết hợp kinh doanh gỗ nguyên liệu.

Sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn then chốt. Quan trọng nhất, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xác định được mục tiêu trọng tâm là tăng giá trị, tăng thu nhập từ việc quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng, từ đó tạo bước chuyển về chất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguồn: Báo Tuyên Quang: http://www.baotuyenquang.com.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/sap-xep-doi-moi-cac-cong-ty-lam-nghiep-70417.html

Để xảy ra phá rừng, giám đốc nông trường bị kỷ luật cảnh cáo

(Chinhphu.vn) – UBND tỉnh Kon Tum vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo. Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum cho biết TTXVN biết, UBND tỉnh vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei.

Hình thức kỷ luật là cảnh cáo, tương đương với hình thức kỷ luật về mặt đảng mà Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đăk Glei đã ra quyết định vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo.

Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Trước đó, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei đã ra quyết định kỷ luật cách chức ông Nguyễn Thanh Thủy, Giám đốc Lâm trường Đăk Ba; kỷ luật ông A Tim, Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xã Đăk Roong với hình thức kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng; khiển trách ông Vũ Văn Hợp, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 107; khiển trách ông Đinh Văn Đức, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 120.

Trước đó, vào khoảng giữa tháng 6, tại vị trí nói trên đã xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép được báo chí phản ánh. Sau bài viết, Văn phòng Chính phủ đã có 2 văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra, làm rõ và báo cáo Thủ tướng trước ngày 20/7.

Theo đó, ngành chức năng tỉnh Kon Tum đã đi kiểm tra, phát hiện có 6 cây gỗ bị chặt với khối lượng hơn 7,8 m3; thu giữ 5 xe máy độ chế, 0,2 m3 gỗ, đồng thời xác định được 5 đối tượng vận chuyển gỗ trú ở xã Đăk Kroong.

Sau khi các đối tượng bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính các đối tượng này.

Nguồn: theo báo điện tử Chính Phủ (baochinhphu.vn): http://baochinhphu.vn/Phap-luat/De-xay-ra-pha-rung-giam-doc-nong-truong-bi-ky-luat-canh-cao/283908.vgp

Nhiều cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa mua bán, chiếm dụng đất rừng

Thông qua “động tác” mua bán với người dân, nhiều cán bộ thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Đắk Song) đã chuyển đất rừng thành đất của riêng mình.

NHỮNG VỤ MUA ĐẤT RỪNG VỚI GIÁ RẺ MẠT…

Thời gian qua, dư luận trên địa bàn xã Đắk Môl (Đắk Song) xôn xao về việc có nhiều cán bộ, nhân viên thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (gọi tắt là Công ty Đức Hòa) “bảo kê” cho người dân phá rừng, lấn chiếm đất rồi mua lại chính diện tích đất đó với giá rất rẻ.

Đất rẫy cà phê của ông Hoàng Văn Đại có nguồn gốc từ rừng tự nhiên do Công ty Đức Hòa quản lý

Từ luồng dư luận trên, phóng viên Báo Đắk Nông đã vào cuộc tìm hiểu và nắm bắt được nhiều câu chuyện về việc mua bán đất rừng của cán bộ Công ty Đức Hòa. Câu chuyện được ông N.H.N, một cựu chiến binh sống tại xã Đắk Môl, cung cấp.

Theo ông N, năm 2010, gia đình ông Nguyễn Văn Hải, trú tại xã Đắk Hòa (Đắk Song) sở hữu 4 ha đất ở khá gần với khu dân cư. Sau đó, gia đình ông Hải tiến hành trồng cà phê trên diện tích đất này. Đến năm 2012, cà phê đã phát triển rất đẹp và bắt đầu cho thu hoạch. Theo giá thị trường vào thời điểm đó, 4 ha cà phê của gia đình ông Hải có giá khoảng 1 tỷ đồng.

Thế nhưng, không hiểu vì sao mà cuối năm 2012, gia đình ông Hải đã đột ngột chuyển nhượng toàn bộ 4 ha cà phê cho ông Y Lê Na, cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty Đức Hòa, chỉ với giá 500 triệu đồng. Là một cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm, nên ông N cảm nhận được phi vụ mua bán đất này có “vấn đề” và đã âm thầm tìm hiểu.

Đến đầu năm 2013, ông N đã phát hiện ra rằng, toàn bộ 4ha đất mà ông Y Lê Na mua của ông Nguyễn Văn Hải vốn là rừng tự nhiên nằm trong tiểu khu 1119, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa. Dù không biết chính xác ai là người trực tiếp phá 4 ha rừng để chiếm dụng đất, nhưng ông N cũng thừa biết, việc Y Lê Na mua 4 ha cà phê với giá rẻ là hoàn toàn có “lý do”… Cái “lý do” đó lại càng được củng cố hơn, vì kể từ khi mua 4 ha rẫy cho tới nay, ông Y Lê Na vẫn “vô tư” sử dụng, canh tác mà không hề bị Công ty Đức Hòa hoặc cơ quan chức năng truy xét.

Một vụ mua bán đất rừng khác diễn ra vào năm 2013. Ông Hoàng Văn Đại, cán bộ văn phòng của Công ty Đức Hòa mua 0,5 ha đất của một người dân ở xã Đắk Môl chỉ với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất ông Đại mua cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, nằm trong tiểu khu 1112, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa.

Sau khi mua đất, ông Đại tiến hành trồng cà phê và một số cây trồng khác. Cũng vào năm 2013, ông Nguyễn Trường Nhật, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Đức Hòa, mua 0,5 đất của ông Bàn Văn Chẹ, trú tại xã Đắk Môl, với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất này cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1098, do Công ty Đức Hòa quản lý. Hiện nay, ông Nhật đã trồng cà phê và một số cây trồng khác trên diện tích đất này…

NHỮNG  “GÓC KHUẤT” CỦA VIỆC MUA BÁN ĐẤT RỪNG…

Trên thực tế, không phải đơn thuần mà nhiều cán bộ, nhân viên của Công ty Đức Hòa lại mua được đất rừng từ người dân với giá rẻ như vậy. Ông T.V.C, trú tại xã Đắk Môl, kể lại rằng, vào năm 2004, có một người dân trên địa bàn đã phá 0,7 ha rừng của Công ty Đức Hòa, rồi chiếm dụng và bán lại cho ông với giá 20 triệu đồng. Sau đó, gia đình ông C trồng mì và hoa màu trên diện tích đất đã mua.

Cuối năm 2004, có một nhân viên của Công ty Đức Hòa đến gặp và thông báo với ông C rằng, gia đình ông đã phá rừng, lấn chiếm của Công ty 0,7 ha đất. Do đó, để tránh việc bị truy cứu trách nhiệm, gia đình ông C phải tự nguyện trả lại đất cho Công ty Đức Hòa. Người này còn nhiều lần lấy danh nghĩa của Công ty Đức Hòa để đe dọa cưỡng chế thu hồi 0,7 ha đất của gia đình ông C. Thế nhưng, một thời gian sau, vị nhân viên này lại “xuống nước” và đề cập đến việc mua lại 0,7ha đất của ông C.

Điều đáng nói là vị nhân viên này chỉ đồng ý mua 0,7 ha đất với giá chỉ bằng một nửa so với giá mà ông C đã mua trước đó. Trước sức ép quá lớn như vậy, ông C buộc lòng phải bán lại 0,7 ha đất cho nhân viên Công ty Đức Hòa với giá chỉ có 10 triệu đồng.

Phóng viên Báo Đắk Nông tiếp cận với một số người đã từng bán đất rừng cho cán bộ, nhân viên Công ty Đức Hòa. Phần lớn họ đều khẳng định rằng, trong quá trình người dân phá rừng và lấn chiếm đất rừng, hầu như không hề có sự can thiệp của đơn vị chủ rừng. Thế nhưng, đến khi người dân đã “biến” rừng thành rẫy để canh tác thì lực lượng của Công ty Đức Hòa lại xuất hiện và đòi xử lý.

Đối với những khu vực rẫy có vị trí đẹp, thuận lợi để tưới tiêu thì được cán bộ Công ty Đức Hòa hỏi mua, nhưng với giá rất rẻ mạt. Mặc dù vậy, trước khi thực hiện việc mua bán, hầu hết người dân đều bị cán bộ của Công ty Đức Hòa đe nẹt, hù dọa sẽ thu hồi đất và xử lý về hành vi phá rừng, nên họ buộc phải bán đất rừng với giá rất thấp…

Theo ông Phạm Đình Dũng, Giám đốc Công ty Đức Hòa, bước đầu đã xác định được 12 cán bộ, nhân viên của công ty có sử dụng đất từ nguồn gốc phá rừng tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích hơn 12 ha. Trong số đó, có một số người đã mua đất từ trước khi vào làm việc tại Công ty Đức Hòa.

Riêng trường hợp ông Nguyễn Minh Thùy, cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa, năm 2010 đã tự ý khai phá 1,2 ha đất tại tiểu khu 1107 và hiện nay ông Thùy đã trồng cà phê. “Trong thời gian tới, Công ty Đức Hòa sẽ tiến hành xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp này và thu hồi những diện tích đất đã bị chiếm dụng”, ông Phạm Đình Dũng khẳng định.

Hơn 2.579 ha đất rừng bị chiếm dụng

Năm 2008, Công ty Đức Hòa được UBND tỉnh giao hơn 13.149 rừng và đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ. Trong số đó, có hơn 11.790 ha rừng tự nhiên và 98,25 ha rừng trồng. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên đã bị phá là hơn 2.641 ha. Sau khi phá rừng, người dân đã chiếm dụng hơn 2.579 ha để sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra, Công ty Đức Hòa cũng tự ý đem 17,2 ha đất lâm nghiệp giao khoán, liên kết với người dân để trồng cây nông nghiệp và thu phần trăm sản phẩm hàng năm.

Nguồn: Theo báo Đắk Nông:  http://www.baodaknong.org.vn/phap-luat/nhieu-can-bo-cong-ty-tnhh-mtv-lam-nghiep-duc-hoa-mua-ban-chiem-dung-dat-rung-47651.html

Lấn chiếm đất lâm trường ở Bắc Cạn


Rừng sản xuất của Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn trên địa bàn xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới.

NDĐT- Thời gian qua, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp tỉnh Bắc Cạn chủ trì, tiến hành rà soát thực trạng quản lý, sử dụng đất lâm trường. Các lâm trường quốc doanh trên địa bàn tiến hành sắp xếp lại. Qua đó, các lâm trường trả lại, chính quyền địa phương thu hồi gần mười nghìn ha đất lâm trường quản lý, sử dụng không hiệu quả giao cho nhân dân. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm đất lâm trường trên địa bàn tỉnh vẫn đang diễn ra ngày càng gay gắt mà chưa có giải pháp khắc phục.

Trong hai năm 2012 và 2013, trước tình trạng nhân dân ở các xã Đôn Phong, Dương Phong và Quang Thuận thuộc huyện Bạch Thông, canh tác trên đất lâm trường, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp (Công ty Lâm nghiệp) Bắc Cạn đã “cắt” cho nhân dân ba xã này 247 ha đất lâm nghiệp.

Thời gian gần đây, cùng với lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đến xã Quang Thuận, chúng tôi thấy, tình trạng nhân dân địa phương trồng cây ăn quả trên đất lâm trường vẫn tiếp tục diễn ra.

Quyền Tổng Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn Nguyễn Hải Đăng cho biết: “Đất lâm trường của chúng tôi quản lý có rừng, nhân dân địa phương phát phá những chòm nhỏ chừng gần một m2, nhưng dày đặc những chòm như vậy để trồng cây ăn quả. Từ xa không phát hiện được, đến gần thấy nhân dân đã trồng toàn cây ăn quả cao 70- 80 cm. Nếu phá cây ăn quả của dân sẽ xảy ra mâu thuẫn”.

Ông Đăng cũng thừa nhận, các lâm trường phối hợp với chính quyền nhiều xã còn hạn chế, bản thân một số lâm trường quản lý đất lâm nghiệp chưa thật sự hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ, công nhân lâm trường mỏng, trình độ hạn chế.

Sau khi sắp xếp lại, các lâm trường trên địa bàn tỉnh trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn, đang quản lý hơn 14 nghìn ha, trong đó có hơn bảy nghìn ha rừng tự nhiên, ba nghìn ha rừng phòng hộ và bốn nghìn ha đất rừng sản xuất. Tình trạng lấn chiếm đất lâm trường thời gia qua diễn ra trên đất rừng tự nhiên và đất rừng sản xuất.

Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn được giao quản lý, bảo vệ hơn mười nghìn ha rừng tự nhiên. Đây là nguồn dự trữ gỗ cho quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái nên không thể chuyển đổi và cũng không thể giao cho dân quản lý, bảo vệ. Sau khi giao trả cho địa phương gần mười nghìn ha đất rừng sản xuất, hiện tại, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn với hơn 140 cán bộ, công nhân đang quản lý, kinh doanh bốn nghìn ha đất rừng sản xuất là không nhiều và phù hợp với khả năng.

Với bốn nghìn ha đất rừng sản xuất, mỗi năm, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn trồng từ 500 đến 600 ha rừng, chu kỳ 8-9 năm khai thác, sau đó lại trồng rừng nên hiện nay không có đất trống, đồi trọc. Một trong những nguyên nhân mà nhân dân các địa phương lấn chiếm đất rừng sản xuất, rừng tự nhiên do các lâm trường quản lý là do chưa được cắm mốc, phân chia danh giới rõ ràng giữa đất lâm trường và đất của nhân dân.

Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đã lập dự án thiết kế kỹ thuật, dự toán rà soát, cắm mốc danh giới đất quốc doanh và đã thống kê, đo, vẽ, trích lục bản đồ địa chính và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 96% diện tích đất được giao quản lý. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, UBND tỉnh Bắc Cạn lại giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện dự án này. Thay đổi đơn vị thực hiện và thiếu kinh phí, nên chưa biết đến bao giờ, việc cắm mốc danh giới đất lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh mới hoàn thành.

Khi nào Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn chưa làm tốt việc phối hợp với chính quyền các xã trong việc quản lý đất quốc doanh, chưa hoàn thành việc cắm mốc danh giới đất lâm trường, tình trạng lấn chiếm đất lâm trường sẽ còn diễn ra, ngày càng phức tạp, thậm chí xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa các lâm trường với người dân địa phương.

Nguồn: Theo báo Nhân Dân: http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/moi-truong/item/30334002-lan-chiem-dat-lam-truong-o-bac-can.html

Toàn quốc có khoảng 14 triệu hécta rừng, độ che phủ đạt gần 41%

Rừng ngập mặn Cần Giờ. (Ảnh: Mạnh Linh/TTXVN)

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa ra Quyết định công bố hiện trạng rừng Việt Nam. Theo đó, hiện trạng rừng toàn quốc đến ngày 31/12/2015 có khoảng hơn 14,061 triệu hécta. Trong số đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu hécta, rừng trồng là hơn 3,886 triệu hécta.

Theo công bố hiện trạng rừng mới nhất này, diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu hécta với độ che phủ đạt 40,84%. Diện tích cây lâm nghiệp đạt độ che phủ là 39,5%, còn diện tích cây lâu năm (cao su, cây đặc sản) trồng trên đất lâm nghiệp chỉ chiếm 1,34%.

Đặc biệt trong văn bản công bố hiện trạng rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chỉ rõ trách nhiệm quản lý, tổ chức bảo vệ và phát triển rừng sau khi công bố được đưa ra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn chỉ rõ, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ thiết lập dữ liệu tài nguyên rừng và hướng dẫn các địa phương, tổ chức cập nhật diễn biến của rừng. Từ đó có thể khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu rừng và đất lâm nghiệp trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần khẩn trương giao các đơn vị cơ sở, các chủ rừng thực hiện trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. Cùng với đó địa phương cần chủ động sử dụng kết quả kiểm kê rừng làm cơ sở để khởi tạo dữ liệu ban đầu và cập nhật diễn biến hằng năm.

“Các địa phương thực hiện tổ chức rà soát, quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, trong đó tập trung rà soát diện tích rừng ngoài quy hoạch. Đối với các địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2015 cần làm rõ nguyên nhân, xem xét trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định,” Thứ trưởng Hà Công Tuấn yêu cầu./.

Nguồn: theo báo VietnamPlus: http://www.vietnamplus.vn/toan-quoc-co-khoang-14-trieu-hecta-rung-do-che-phu-dat-gan-41/398757.vnp

Quản lý rừng Tây Nguyên: “Vướng” từ cơ chế hưởng lợi

NEWS.VN  Cơ chế hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm thu nhập để thu hút, kích thích các thành phần kinh tế, cá nhân tham gia vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Ông Trần Việt Hùng, nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên. Ảnh: Việt Dũng/TTXVN

Bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên là vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp thiết không những cho khu vực Tây Nguyên mà cho cả các tỉnh ven biển Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Đông Bắc cũng như các nước bạn Campuchia và Lào.

Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Trần Việt Hùng, nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên.

Phóng viên: Xin ông cho biết thực trạng rừng, đất rừng của Tây Nguyên hiện nay?

Ông Trần Việt Hùng: Tây Nguyên gồm có 5 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông và Lâm Đồng. Sau 30 năm đổi mới, kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên đã có nhiều chuyển biến tích cực, làm thay đổi bộ mặt đời sống đồng bào Tây Nguyên.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực hiện chủ trương, chính sách và phát triển vùng Tây Nguyên vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, bao gồm cả các bất cập trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Nguồn tài nguyên rừng Tây Nguyên đang bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng và đa dạng sinh học. Từ năm 2010 đến năm 2014, rừng Tây Nguyên đã giảm 307.000 ha, độ che phủ rừng giảm nhanh từ 51,9% xuống còn 45,8%, trữ lượng rừng giảm 57 triệu m3; trong đó tỷ lệ rừng gỗ loại giàu chỉ còn 10,4%, loại trung bình là 22,7%, còn lại gần 67% thuộc loại nghèo kiệt. Số lượng động vật rừng, thảo dược quý hiếm cũng giảm mạnh…

Hiện nay, Tây Nguyên quy hoạch đất cho lâm nghiệp trên 3,354 triệu ha; trong đó diện tích có rừng là trên 2,567 triệu ha.

Khai thác, chặt phá rừng trái phép vẫn diễn ra trong nhiều năm với mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Việc mất rừng còn do chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, với hơn 72.000 ha, chuyển đất rừng để xây dựng 50 công trình thủy điện…

Trong khi đó, công tác quản lý, khôi phục rừng còn nhiều bất cập. 55 công ty lâm nghiệp chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp nhưng vẫn hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước với nguồn nhân lực mỏng, năng lực và trách nhiệm có hạn, quản lý còn nhiều bất cập… dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, buông lỏng quản lý rừng.

Nhiều cơ sở chế biến gỗ hình thành tự phát không theo quy hoạch, dẫn đến tình trạng tiêu thụ gỗ bất hợp pháp, làm gia tăng tình trạng khai thác gỗ trái phép, thậm chí tạo thành đường dây khai thác gỗ trái phép có hệ thống.

Công tác giao đất, giao rừng còn nhiều thiếu sót. Chủ rừng không có phương án sản xuất phù hợp dưới tán rừng, thiếu vốn sản xuất… Hay tình trạng dân di cư đến ngoài kế hoạch cũng ồ ạt phá rừng trái phép. Trong khi vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp chưa thật sự coi trọng và thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ rừng.

Phóng viên: Theo ông, những vướng mắc khó khăn trong bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên hiện nay là gì?

Ông Trần Việt Hùng: Thực tế, hiện nay mô hình các đơn vị quản lý bảo vệ, kinh doanh nghề rừng chưa ổn định, tổ chức và hoạt động không thống nhất. Các chủ rừng chịu trách nhiệm rất lớn nhưng các điều kiện cần thiết như kinh phí cấp hàng năm thấp, phân bổ chậm, đầu tư trang thiết bị hạn chế, lực lượng thiếu, yếu, nhiệm vụ, quyền hạn chưa rõ ràng, các chế độ đãi ngộ thấp…

Quản lý rừng Tây Nguyên: “Vướng” từ cơ chế hưởng lợi. Ảnh minh họa: TTXVN

Cơ chế hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm thu nhập để thu hút, kích thích các thành phần kinh tế, cá nhân tham gia vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Người dân sống gần rừng không có lợi ích từ việc giữ rừng, trong khi đó nhu cầu mở rộng đất sản xuất để phát triển kinh tế, nhu cầu về gỗ, củi, các sản phẩm từ rừng phục vụ cho đời sống ngày càng lớn nên người dân đã xâm hại rừng.

UBND cấp xã được giao quản lý diện tích rừng rất lớn nhưng không được giao kinh phí, cũng không có cơ chế, trách nhiệm chưa rõ ràng, thiếu sự kiểm tra, giám sát dẫn đến tình trạng như không có chủ quản lý bảo vệ rừng.

Phóng viên: Để khôi phục và phát triển rừng vùng Tây Nguyên bền vững giai đoạn 2016-2020, theo ông cần có giải pháp gì?

Ông Trần Việt Hùng: Mục tiêu bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng Tây Nguyên đến năm 2020 đạt 2,71 triệu ha và nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 49,8%. Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng.

Từ đó, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao mức sống cho người dân và giữ vững an ninh quốc phòng của khu vực Tây Nguyên.

Theo đó, trước mắt cần hoàn thành việc rà soát, lập quy hoạch bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên vào năm 2017. Thực hiện nghiêm việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng bảo vệ chặt chẽ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất.

Rà soát, đánh giá cụ thể bố trí cây trồng nông nghiệp ở Tây Nguyên, bao gồm cả cây trồng nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn Tây Nguyên.

Chủ tịch UBND các tỉnh Tây Nguyên chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của từng địa phương. Trên cơ sở Tổng điều tra kiểm kê rừng đã được công bố, giao trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng đến Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã, chủ rừng.

Huy động các tổ chức chính trị – xã hội kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn tình trạng phá rừng lấy gỗ, lâm sản, đất sản xuất trái pháp luật, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

Không chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp trong khu vực trên 2,2 triệu ha rừng tự nhiên sang mục đích khác kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai. Đồng thời, quản lý chặt chẽ việc cải tạo rừng tự nhiên nghèo, nhất là rừng khộp.

Các tỉnh Tây Nguyên cũng cần rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng sang các cây trồng khác và các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp từ năm 2006 đến nay. Kiên quyết thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp thuộc các dự án vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng dự án được phê duyệt.

Giải quyết kịp thời tình trạng di dân đến ngoài kế hoạch trước khi người dân phá rừng lấy đất sản xuất; tổ chức giải toả, thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép để có kế hoạch trồng lại rừng. Các tỉnh Tây Nguyên cũng tổ chức sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp theo đúng phương án tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt, quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ…

Để thực hiện các giải pháp trên cần xây dựng và triển khai các đề án phát triển các chuỗi giá trị rừng đối với từng đối tượng rừng; trong đó xác định rõ vai trò, lợi ích của từng chủ thể tham gia chuỗi giá trị. Có như vậy mới giải quyết được tận gốc tình trạng tranh chấp về lợi ích giữa việc phá rừng với việc bảo vệ và phát triển rừng.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông !

Nguồn: theo Bnew.vn: http://bnews.vn/quan-ly-rung-tay-nguyen-vuong-tu-co-che-huong-loi/21242.html

Thay đổi lịch trình xây dựng và thảo luận xem xét thông qua Luật Lâm nghiệp

Trong báo cáo thuyết minh đề xuất lập dự án Luật Lâm nghiệp thay thế Luật BV&PTR 2004, Tổng Cục Lâm nghiệp đã dự kiến lộ trình như sau:
Dự thảo Luật Lâm nghiệp sẽ được tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, trình Chính phủ xem xét tháng 12/2016;
Tiếp tục hoàn thiện, trình Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường thẩm tra, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến: tháng 6/2017;
Trình xin ý kiến Quốc hội lần thứ nhất: phiên họp cuối năm 2017;
Tiếp tục hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua: kỳ họp Quốc hội năm 2018.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Bộ Tư pháp xem xét, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét chấp thuận dự án Luật Lâm nghiệp thuộc Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh Quốc hội Khóa XIV nhiệm kỳ 2016-2021.
Hiện nay, Quốc hội đã đồng ý đưa Luật Lâm nghiệp mới này vào chương trình làm luật của năm 2017. Theo tin chính thức từ Vụ Pháp chế – Thanh tra của Tổng Cục Lâm nghiệp trong cuộc họp sáng nay (3. 8. 2016) với nhóm CSOs Lâm nghiệp và MRLG tại Hà Nội, thì lộ trình xây dựng và ban hành Luật Lâm nghiệp phải theo khung thời gian mới, đó là:
Tháng 9/ 2016: Tổng cục Lâm nghiệp phải hoàn thiện xong bản dự thảo Luật;
Tháng 11/ 2016: Tổng cục Lâm nghiệp phải đăng lên web để lấy ý kiến góp ý;
Tháng 1/ 2017: Dự thảo Luật được trình sang Bộ Tư pháp;
Tháng 3/ 2017: Dự thảo Luật được trình Chính phủ thông qua;
Tháng 4/ 2017: Chính phủ trình dự thảo Luật cho UB Thường vụ của Quốc hội;
Tháng 5/ 2017: Dự thảo Luật được trình cho Quốc hội ở kỳ họp lần thứ nhất của năm 2017;
Tháng 10/ 2017: Dự thảo Luật được trình cho Quốc hội ở kỳ họp lần thứ hai của năm 2017. Dự kiến là Luật sẽ được Quốc hội xem xét và thông qua ở kỳ họp này luôn.
Về khung dự thảo Luật, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết là sẽ có điều chỉnh, bổ sung một số nội dung (so với dự thảo đã đăng lên web của Tổng cục vào năm ngoái) trong giữa tháng 8 này.
Điều này cũng có nghĩa là AI về Luật Lâm nghiệp của CIRD-CRD/FORLAND và các dự án VĐCS về Luật Lâm nghiệp của các tổ chức khác… sẽ buộc phải thay đổi/điều chỉnh về nội dung, thời gian… để phù hợp với lộ trình mới mà Chính phủ, Quốc hội đã ấn định.