Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của FORLAND

Ngày 26/08/2016, tại TP Đà Nẵng, Liên minh đất rừng (FORLAND) tổ chức Hội nghị “Sơ kết hoạch động 6 tháng đầu năm 2016 – FORLAND”.

Hội nghị có sự tham gia của 27 đại biểu đến từ các tổ chức thành viên của FORLAND, đại diện các đối tác (UBKHCN&MT của Quốc Hội, đại diện TCLN, đại diện VUSTA), đại diện nhà tài trợ Oxfam và MLRG, cùng các chuyên gia của FORLAND.

Ông Ngô Văn Hồng- GĐ tổ chức điều phối FORLAND phát biểu khai mạc

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe 06 báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của FORLAND trong 6 tháng đầu năm 2016, bao gồm:
-Báo cáo tiến độ FORLAND 1-6/2016 (gồm 01 báo cáo chính và 03 báo cáo thành phần cho các AIs)
– Báo cáo giám sát đánh giá (MEL)
– Báo cáo truyền thông FORLAND
– Một số ý kiến đóng góp của Oxfam với hoạt động của FORLAND
– Báo cáo Concept Note dự án quỹ IF
Chi tiết các báo cáo có thể xem tại:

BC Forland 1-6.2016

MEL_Bao cao 2016

AI Luat lam nghiep

Bao cao hoat dong truyen thong 2016

AIPFES_KetquahoatdongQII-II2016_Aug2016AI_ NLTQD

Đã có 11 báo cáo và bài tham luận được trình bày và chia sẻ tại hội nghị, sau đó đã có 24 ý kiến phát biểu trực tiếp tại hội nghị. Các đại biểu đã thảo luận vào đóng góp nhiều ý kiến quan trọng, tâm huyết đóng góp cho các hoạt động của FORLAND, cũng như bàn về việc phối hợp giữa các bên liên quan trong triển khai các hoạt động tiếp theo trong năm 2016.

Tin và ảnh: FORLAND

 

Advertisements

Gỡ vướng trong giao đất, giao rừng ở Quảng Bình


Cán bộ lâm nghiệp đo đạc diện tích rừng để giao cho người dân xã Trường Sơn (Quảng Ninh, Quảng Bình) quản lý, bảo vệ.

Thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các ngành, đơn vị tích cực thực hiện giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) để tạo điều kiện cho bà con ổn định đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có nhiều vưỚng mắc làm ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của việc giao đất, giao rừng cho đồng bào.

Trường Sơn là xã biên giới của huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) có 20 thôn, bản với dân số hơn một nghìn hộ, và hơn 4.300 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Theo Chủ tịch UBND xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ, trong tổng số gần 77.500 ha đất tự nhiên, xã Trường Sơn chỉ có hơn 100 ha đất sản xuất, còn lại phần lớn là đất rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp do Công ty Lâm công nghiệp Long Đại và các Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý. Theo kế hoạch giao đất, giao rừng của UBND tỉnh Quảng Bình, xã Trường Sơn sẽ được nhận hơn 3.800 ha đất rừng sau khi các đơn vị trên bóc tách, chuyển sang. Tuy nhiên, đến giữa tháng 6-2016, xã Trường Sơn mới nhận được hơn 360 ha đất rừng. Nếu đưa số diện tích đất lâm nghiệp đã nhận được chia cho số hộ trong xã thì chưa đủ.

Còn xã rẻo cao Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) có diện tích 48 nghìn ha nhưng gần như toàn bộ là đất của các lâm trường và Ban quản lý rừng phòng hộ. Thực tế, xã chỉ quản lý 4.000 ha, nhưng hơn một nửa diện tích bị người dân các xã lân cận xâm canh. Chủ tịch UBND xã Kim Thủy Hồ Văn Tuyên cho biết: “Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Quảng Bình, Công ty Lâm công nghiệp Long Đại đã ba lần cắt, giao cho xã Kim Thủy gần 200 ha đất rừng để chia cho người dân, song đến nay vẫn chưa giao được mét vuông nào do vướng mắc nhiều chỗ. Cụ thể, lần thứ nhất, Công ty cắt hơn 100 ha đất ngay phía sau trụ sở xã để giao cho dân nhưng do trước đó đất được cán bộ dưới xuôi mượn, thuê, nhận khoán thời hạn đến 45 năm, nên họ không chịu trả lại vì chưa hết thời hạn cho nên việc giao nhận mới chỉ trên giấy. Lần thứ hai, Công ty bóc tách bảy ha giao cho người dân ba bản gần biên giới nhưng cũng không giao được. Nguyên nhân trước đây vùng đất này được thiết kế trồng cao-su, nhưng do lùm xùm về thủ tục chuyển đổi cho nên Hạt Kiểm lâm huyện Kim Thủy chưa ký. Lần gần đây, Công ty Long Đại tiếp tục cắt chuyển cho xã 90 ha nhưng khi giao người dân không nhận do quá xa khu dân cư, địa hình phức tạp.

Theo ông Hồ Văn Tuyên, xã Kim Thủy có hơn 1.000 hộ dân, hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó có 180 hộ không có đất sản xuất cho nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Cũng do thiếu đất sản xuất, nhiều lao động chính ở Kim Thủy phải vào rừng săn bắn và khai thác lâm sản trái phép. Do vậy, áp lực bảo vệ rừng trước sự mưu sinh của bà con là rất lớn và ngày càng phức tạp…

Theo đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, việc giao đất, giao rừng cho đồng bào các dân tộc còn chậm là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, diện tích đất lâm nghiệp bóc tách từ các lâm trường để giao cho người dân chủ yếu là rừng tự nhiên nằm ở vùng có khe suối, núi đá, không có đường đi. Mặt khác, diện tích sau bóc tách giao cho người dân nằm xen kẽ trong diện tích rừng phòng hộ, hoặc rừng sản xuất do Nhà nước và các công ty lâm công nghiệp quản lý, vì vậy việc sản xuất gặp nhiều khó khăn. Thứ hai, một số diện tích rừng đang trong thời gian hợp đồng giữa các lâm trường với các hộ dân hoặc tài sản trên đất chưa giải quyết dẫn đến việc giao đất, giao rừng cho bà con sản xuất có nhiều vướng mắc. Thứ ba, sự phối hợp trong công tác giao đất giữa các ngành, đơn vị còn yếu, việc điều tra hiện trạng, khả năng sản xuất của từng vùng đất từ đó có kế hoạch bóc tách và giao đất phù hợp, sử dụng hiệu quả chưa được các ngành, địa phương chú trọng. Phó Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy Lê Văn Sơn cho rằng, việc giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS gặp khó khăn còn do thiếu sự hợp tác của các cá nhân, tổ chức đã nhận đất, trồng rừng mà các lâm trường giao khoán, cho thuê từ nhiều năm trước.

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, từ năm 2012 đến nay, Sở đã trình UBND tỉnh thu hồi hơn 8.300 ha đất của các nông lâm trường giao về địa phương quản lý và xét giao đất sản xuất ổn định lâu dài cho các hộ dân thiếu đất sản xuất. Tuy nhiên, việc giao đất trên thực địa khó khăn gấp nhiều lần so với giao trên hồ sơ. Do vậy, đến nay, các địa phương trong tỉnh Quảng Bình chỉ giao được hơn 2.800 ha đất cho các hộ dân, bằng một phần ba số diện tích đất thu hồi.

Việc đồng bào DTTS một số địa phương còn thiếu đất sản xuất đã trở thành chủ đề “nóng” tại các kỳ họp của HĐND tỉnh Quảng Bình trong nhiệm kỳ trước và ngay cả trong kỳ họp thứ hai, nhiệm kỳ 2016-2021 tổ chức cuối tháng 7 vừa qua. Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình Hoàng Đăng Quang đã chỉ đạo UBND tỉnh tích cực chỉ đạo các ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc bóc tách, giao đất, giao rừng cho người dân để ổn định sản xuất.

Dưới góc nhìn của một đơn vị thường xuyên hỗ trợ việc giao rừng cho đồng bào dân tộc Vân Kiều ở huyện Quảng Ninh, Giám đốc Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh Phan Mậu Tài cho rằng: Giải pháp cốt lõi để giải “bài toán” nghèo đói là cần bảo đảm đủ đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc. Do đó, UBND tỉnh Quảng Bình và các huyện cần tạo điều kiện cho người dân tham gia quản lý và sử dụng đất rừng tại địa phương, để người dân vừa tạo thu nhập, vừa góp phần bảo vệ hiệu quả đất rừng tự nhiên. Ngoài ra, để thúc đẩy việc giao đất lâm nghiệp, chính quyền các địa phương cần chủ động rà soát lại diện tích đất đề xuất thu hồi, xây dựng phương án giao đất đồng thời vận động tích cực, thường xuyên để người dân tổ chức sản xuất trên diện tích đã có và hạn chế việc mua bán, chuyển nhượng đất rừng.

Nguồn: Báo Nhân Dân (bản điện tử): http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/30494102-go-vuong-trong-giao-dat-giao-rung-o-quang-binh.html

Giải pháp đơn giản, giá rẻ và hiệu quả giúp hạn chế mất rừng

 MT&ĐS – Trả tiền cho chủ sở hữu đất rừng để họ không đốn cây lấy gỗ bán hoặc lấy đất sản xuất nhằm bảo vệ rừng là một biện pháp hiệu quả, có chi phí hợp lý để ngăn chặn nạn phá rừng. Đó là kết quả của một nghiên cứu được thực hiện tại Uganda, quốc gia có tỷ lệ mất rừng thuộc hàng cao nhất thế giới.

Nghiên cứu này được Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ công bố trong khuôn khổ một chương trình Chi trả dịch vụ hệ sinh thái ((Payment for Ecosystems Services – PES) lớn, do nhóm chuyên gia của Đại học Northwestern và Đại học Stanford (Mỹ) thực hiện với nguồn kinh phí chủ yếu từ Quỹ Môi trường Toàn Cầu và một phần nhỏ từ chính phủ Uganda.

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một giải pháp khả quan để bảo vệ một khu vực rừng có tính đa dạng sinh học cao và là môi trường sống của những con tinh tinh đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy tính hiệu quả của Chi trả dịch vụ hệ sinh thái trong cuộc chiến chống mất rừng trên toàn cầu.

Có nhiều chương trình giúp bảo vệ rừng nằm trong một sáng kiến mang tính bao quát của Liên Hợp Quốc là Sáng kiến Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+). Theo đó, các nước giàu hơn và các nhà gây quỹ quốc tế sẽ chi trả cho các nước đang phát triển để họ bảo vệ cây rừng của chính quốc gia mình. Việc làm này càng trở lên cấp thiết hơn sau lời kêu gọi về tầm quan trọng của REDD+ và cuộcchiến chống mất rừng trong Thỏa thuận Khí hậu tại Paris 2015.

Theo nghiên cứu mới này, các chủ sở hữu đất trồng rừng ở 60 làng thuộc hai quận Hoima và Kibaale phía Tây Uganda được cấp 28 USD/ha/năm trong vòng 2 năm nếu họ không đốn cây để làm nông nghiệp hay phục vụ cho các mục đích kinh tế khác. Trong khi đó, ở 61 làng khác trong khu vực không được cấp bất kỳ khoản nào và tốc độ mất rừng được kiểm soát bằng vệ tinh. Kết quả cho thấy trong khi độ che phủ rừng giảm từ 7-10% ở nhóm thứ hai thì với nhóm thứ nhất độ che phủ rừng chỉ giảm khoảng 2-5%. Điều này cho thấy các khoản tiền khuyến khích đã ngăn được nhiều chủ rừng chặt cây lấy gỗ bán, làm than củi hoặc phá rừng lấy đất để trồng hoa màu.

Nhà kinh tế học Seema Jayachandran (Đại học Northwestern) thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: Nghiên cứu này là bằng chứng quan trọng về tầm ảnh hưởng to lớn của chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái và số tiền chi trả đã đem lại những khu vực được rừng nguyên vẹn mà đáng lẽ nó đã có thể bị mất đi.

Nghiên cứu cũng chứng minh đây là cách làm hiệu quả về mặt chi phí để chống mất rừng và là một chính sách khả quan trước tình hình bất bình đẳng kinh tế trên toàn cầu. Hoạt động này sẽ khuyến khích bảo tồn rừng ở những nước nghèo, đang phát triển – nơi người dân sống chủ yếu dựa vào rừng.

Bà Jayachandran cũng cho biết: “Về mặt tác động toàn cầu, chúng tôi không quan tâm người ta giữ một cái cây nguyên vẹn ở Mỹ hay Uganda, nhưng chi phí của việc bảo vệ một cây giống nhau ở Uganda chắc chắn sẽ thấp hơn ở Mỹ”.

Dựa trên các tính toán sử dụng phương pháp đo lường chi phí xã hội carbon tiêu chuẩn của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), nghiên cứu tính toán rằng chi phí của việc trì hoãn phát thải 1 tấn CO2 vào không khí theo chương trình này sẽ chỉ là khoảng 57 cents nhưng sẽ mang lại lợi ích tương đương 1,11 USD.

Phương pháp tiếp cận Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) đang được sử dụng phổ biến trong hoạt động bảo tồn quốc tế, một phần là do nó chỉ dựa trên một thỏa thuận tự nguyện mà chủ đất có thể chấp nhận hoặc từ chối dựa trên những lợi ích kinh tế của họ thay vì một chương trình bắt buộc như các quy định hay luật lệ. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu mất những nghiên cứu ngẫu nhiên để kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động này từ khi bắt đầu tới khi kết thúc. Và theo bà Jayachandran đây chính là nghiên cứu đầu tiên: “Ít nhất theo như tôi được biết, nghiên cứu này là đánh giá ngẫu nhiên đầu tiên”.

Trong các làng được nghiên cứu ở Uganda, bình quân một chủ đất sở hữu 2 ha đất rừng, có nghĩa là mỗi người có thể nhận được 56 USD chỉ để hoàn toàn không động đến rừng trong một năm. Theo các nhà nghiên cứu, số tiền này chiếm 5% thu nhập bình quân đầu người theo năm của khu vực. Nhóm tác giả cũng chỉ rõ rằng số tiền trung bình người dân thu được từ bán gỗ ở đây là 151 USD/năm và thêm khoảng 30-100 USD/ha/năm từ hoạt động nông nghiệp.

“Phần lớn thu nhập của người dân trong làng không đến từ các sản phẩm rừng mà từ việc kinh doanh, buôn bán nhỏ, nhưng việc bán cây lấy gỗ hay bán than củi cũng giúp họ kiếm được khá nhiều tiền và họ coi đó như một nguồn tiền tích lũy khi cần tiền gấp”. – Bà Jayachandran cho biết

Vì thế trong khi các chủ đất Uganda khai thác rừng để bổ sung thêm vào thu nhập khi cần thiết thì khoản tiền nhận được từ chương trình có thể khuyến khích họ, ít nhất là hoãn việc khai thác rừng trong vòng 1-2 năm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là rừng hoàn toàn được bảo vệ sau khi kết thúc thời gian 2 năm nghiên cứu – và chính các nhà nghiên cứu cũng giả định điều đó sẽ không xảy ra.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ việc trì hoãn phát thải carbon từ mất rừng cũng đem lại nhiều giá trị về mặt kinh tế. Đó là chưa kể đến những thành quả khác từ việc bảo tồn đa dạng sinh học rừng trong khu vực sinh thái nhạy cảm này.

Bà Jayachandra cũng lưu ý thêm rằng khi tham gia Sáng kiến REDD+, người dân mong đợi nhiều khoản chi từ chính phủ các nước phát triển để giúp các nước đang phát triển bảo tồn rừng (thắt chặt bảo vệ rừng, trừng trị việc đốn gỗ trái phép và làm sạch đất). Nhưng những chương trình như PES cũng có thể hỗ trợ phần nào bằng cách đưa ra những khuyến khích bảo tồn với các chủ đất rừng – những người có quyền phá rừng hợp pháp. “Đối với những vùng đất thuộc sở hữu cá nhân hoặc cộng đồng, đây sẽ là một công cụ chính sách đầy hứa hẹn cho REDD+” – Bà Jayachandra khẳng định.

Diệu Linh (Theo Washingtonpost)

Nguồn: báo Môi trường & Đời sống: http://moitruongvadoisong.vn/2016/08/25/giai-phap-don-gian-gia-re-va-hieu-qua-giup-han-che-mat-rung/

Tuyên Quang: Sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp

TQĐT – Ngày 26-5-2016, UBND tỉnh đã ra các Quyết định số 160, 162, 163, 164, 165/QĐ-UBND phê duyệt cho 4 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương xây dựng phương án chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thời gian thực hiện năm 2016 – 2017; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2016 – 2017.

Qua đánh giá của tổ chức FCS (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cuối tháng 5 vừa qua, cả 5 công ty lâm nghiệp này đều đủ điều kiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với diện tích được cấp trên 11.000 ha và sẽ được cấp chứng chỉ vào tháng 9 năm nay.


Công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Sơn chăm sóc keo giống.

Tuy nhiên theo các công ty lâm nghiệp, trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, các đơn vị cũng đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công ty chưa được đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, dễ phát sinh tranh chấp và gây vướng mắc cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp. Việc xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty gặp nhiều khó khăn vì bản thân các công ty khó xác định được giá trị tài sản hiện có đảm bảo theo đúng yêu cầu. Việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính cũng vướng mắc, do hiện tại các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới lại chưa được thực hiện. Thêm vào đó, chi phí để sắp xếp, chuyển đổi theo quy định không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay; việc giải quyết diện tích đất bị lấn chiếm còn nhiều khó khăn.

Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương chia sẻ, đề án sắp xếp đổi mới công ty đã được phê duyệt từ cuối tháng 5, tuy nhiên, hiện đơn vị đang gặp một số khó khăn như chưa hoàn thành đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa; chưa hoàn thành kiểm kê từng lô rừng để xác định giá trị kinh tế… Đơn vị xác định từ nay đến hết năm, phần việc còn lại là rất nhiều, nhưng đơn vị sẽ dốc sức, tập trung hoàn thành các phần việc theo quy định.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình được giao quản lý 1.850,2 ha đất lâm nghiệp. Sau khi được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty đã xác định được ranh giới đất giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các hộ dân, thuận lợi cho việc xử lý các trường hợp lấn chiếm đất đai, tài nguyên rừng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty đã tổ chức khoán liên doanh trồng rừng sản xuất trên diện tích đất công ty được giao, được thuê với cán bộ, công nhân của công ty và người dân trên địa bàn với diện tích 1.253,6 ha. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng sản xuất đã gắn được quyền lợi và trách nhiệm của công ty với người lao động đến sản phẩm cuối cùng. Sản lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao, rừng đã có chủ thực sự, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng trồng được hạn chế tối đa. Bắt tay vào sắp xếp, đổi mới, công ty lựa chọn phương án sắp xếp, đổi mới thuộc loại hình 2 thành viên trở lên, vì mô hình này phù hợp với điều kiện thực tế cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân đang làm việc tại Công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển chế biến và thị trường; đảm bảo quyền lợi của người lao động; huy động được nguồn vốn đầu tư của tập thể, cá nhân cùng góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Hiện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã chốt phương án về ngành nghề sản xuất kinh doanh, đất đai, quản lý sử dụng rừng, vốn, lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thị trường và tổ chức bộ máy.

Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình – anh Nguyễn Hồng Thái cho biết, một trong những mục tiêu quan trọng của công ty trong thời gian tới là xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với diện tích đất được giao, được thuê. Trong đó, Tuyên Bình lựa chọn loài cây keo là cây trồng chính, tập trung vào giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và phương pháp nuôi cấy mô để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, hiệu quả kinh tế cao hơn. Phấn đấu đến 2020, diện tích keo lai chiếm 80% diện tích rừng của công ty. Đồng thời, đơn vị phấn đấu cấp chứng chỉ rừng cho khoảng 1.000 ha và xây dựng diện tích này vào kinh doanh cây gỗ lớn kết hợp kinh doanh gỗ nguyên liệu.

Sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn then chốt. Quan trọng nhất, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xác định được mục tiêu trọng tâm là tăng giá trị, tăng thu nhập từ việc quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng, từ đó tạo bước chuyển về chất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguồn: Báo Tuyên Quang: http://www.baotuyenquang.com.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/sap-xep-doi-moi-cac-cong-ty-lam-nghiep-70417.html

Để xảy ra phá rừng, giám đốc nông trường bị kỷ luật cảnh cáo

(Chinhphu.vn) – UBND tỉnh Kon Tum vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo. Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum cho biết TTXVN biết, UBND tỉnh vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei.

Hình thức kỷ luật là cảnh cáo, tương đương với hình thức kỷ luật về mặt đảng mà Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đăk Glei đã ra quyết định vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo.

Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Trước đó, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei đã ra quyết định kỷ luật cách chức ông Nguyễn Thanh Thủy, Giám đốc Lâm trường Đăk Ba; kỷ luật ông A Tim, Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xã Đăk Roong với hình thức kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng; khiển trách ông Vũ Văn Hợp, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 107; khiển trách ông Đinh Văn Đức, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 120.

Trước đó, vào khoảng giữa tháng 6, tại vị trí nói trên đã xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép được báo chí phản ánh. Sau bài viết, Văn phòng Chính phủ đã có 2 văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra, làm rõ và báo cáo Thủ tướng trước ngày 20/7.

Theo đó, ngành chức năng tỉnh Kon Tum đã đi kiểm tra, phát hiện có 6 cây gỗ bị chặt với khối lượng hơn 7,8 m3; thu giữ 5 xe máy độ chế, 0,2 m3 gỗ, đồng thời xác định được 5 đối tượng vận chuyển gỗ trú ở xã Đăk Kroong.

Sau khi các đối tượng bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính các đối tượng này.

Nguồn: theo báo điện tử Chính Phủ (baochinhphu.vn): http://baochinhphu.vn/Phap-luat/De-xay-ra-pha-rung-giam-doc-nong-truong-bi-ky-luat-canh-cao/283908.vgp