Monthly Archives: Tháng Ba 2017

Sắp xếp đổi mới đất nông lâm trường vẫn theo kiểu “bình mới rượu cũ”

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

“Muốn quản lý và sử dụng hiệu quả đất nông lâm trường, cần tăng cường giám sát, rà soát sắp xếp lại đất đai, kịp thời xử lý vi phạm, khắc phục dứt điểm tranh chấp, khiếu kiện kéo dài; xử lý hài hòa đất nông lâm trường và người dân, cũng như có chính sách giải quyết lao động, xóa đói giảm nghèo bền vững.”

Trên đây là những giải pháp “thay đổi công tác quản lý đất nông lâm trường” vừa được các chuyên gia đất rừng đưa ra tại Hội thảo “Quản lý đất đai có nguồn gốc từ Công ty nông lâm nghiệp sau sắp xếp đổi mới: Chính sách và thực tiễn,” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn phối hợp với Liên minh Đất rừng tổ chức chiều 27/2, tại Hà Nội.

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Trần Ngọc Bình, đại diện Vụ Kế hoạch Tài chính-Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: Hiện nay việc sắp xếp đổi mới còn chậm và nhiều địa phương thực hiện theo kiểu “bình mới rượu cũ,” việc rà soát đất đai chậm và chưa dứt điểm do thiếu kinh phí, thiếu nhân lực và thiếu sự tham gia của các cơ quan hữu quan.

Thêm vào đó, tình trạng tranh chấp lấn chiếm vẫn còn tồn tại dai dẳng, việc tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng khó khăn cộng với thiếu cơ chế chính sách, thiếu nhất quán đồng bộ dẫn đến những bất cập trong tổ chức quản lý của các công ty lâm nghiệp, một loại hình doanh nghiệp mang tính đặc thù.

Trong khi đó, ông Nguyễn Anh Phong, đại diện Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, cho rằng quá trình rà soát và chuyển giao đất rừng không có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan. Nhất là chính quyền và cộng đồng địa phương cộng với các bên liên quan lại không nắm rõ các chính sách dẫn đến nhiều bất đồng và mâu thuẫn trong thực hiện rà soát, phân định ranh giới đất và giao đất lâm nghiệp cho người dân địa phương.

“Bởi thế, cần phải rà soát, quy chuẩn lại khung pháp lý cho việc thực hiện chính sách và đánh giá hoạt động giao đất lâm nghiệp đặc biệt đất của lâm trường. Vận động áp dụng khung giám sát, giúp đỡ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có quyền tiếp cận tới tài nguyên đất một cách minh bạch và công bằng,” ông Phong kiến nghị.

Cũng tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận xung quanh Dự thảo Đề cương giám sát thực hiện Nghị quyết 112/2015/QH13 về tăng cường quản lý dất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh.

Theo đó, đa số các đại biểu đều đồng tình rằng cần chấm dứt việc giám sát chỉ dừng lại trên việc đọc và nghe báo cáo tại Hội nghị, thay vào đó là phải tăng cường giám sát trực tiếp tại hiện trường cũng như tiếp cận số liệu gốc để đảm bảo tính chính xác của thông tin. Hơn nữa, cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chí giám sát, kiểm tra để đảm bảo tính công bằng, khách quan.

Từ góc độ địa phương, đại diện đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Quảng Bình cũng kiến nghị, cần có chế độ chính sách đối với lao động dôi dư và đào tạo nghề sau sắp xếp đổi mới cũng như có chính sách vay vốn đầu tư phù hợp với tính chất đặc thù trong sản xuất kinh doanh của công ty nông, lâm nghiệp.

Đại diện Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật tỉnh Gia Lai cũng kiến nghị, cần sớm triển khai đề án tăng cường công tác giám sát thực hiện quản lý và sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường đến nhiều đối tượng có liên quan cũng như có các cính sách; điều chỉnh hỗ trợ tăng cường năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng của các Ban quản lý rừng phòng hộ, các công ty có diện tích đất rừng tự nhiên đang quản lý và bảo vệ../.

Nguồn: theo: http://www.vietnamplus.vn/sap-xep-doi-moi-dat-nong-lam-truong-van-theo-kieu-binh-moi-ruou-cu/433059.vnp

Hội thảo Quản lý đất đai có nguồn gốc từ các NLTQD: Chính sách và Thực tiễn

 

Cần tăng cường giám sát quản lý đất đai có nguồn gốc từ công ty nông, lâm nghiệp

(ĐCSVN) – Cần tăng cường giám sát, rà soát sắp xếp lại đất đai, kịp thời xử lý vi phạm, khắc phục dứt điểm tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, xử lý hài hòa đất nông lâm trường và người dân, có chính sách giải quyết lao động dôi dư sau sắp xếp hợp lý, thực hiện hiệu quả việc làm, xóa đói giảm nghèo bền vững… là những giải pháp cần thiết trong quá trình sắp xếp lại công ty nông, lâm nghiệp.

Hội thảo trao đổi về giải pháp tăng cường giám sát thực hiện hiệu quả tái phân bổ đất lâm trường (Ảnh: HNV)

Đây là thông tin được khẳng định tại Hội thảo về “Dự án xây dựng khung chính sách để thực hiện hiệu quả việc tái phân bổ đất lâm trường ở Việt Nam” với chủ đề: “Quản lý đất đai có nguồn gốc từ Công ty nông lâm nghiệp sau sắp xếp đổi mới: Chính sách và thực tiễn” diễn ra chiều 27/2, tại Hà Nội.

Thực hiện Nghị quyết số 30/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị và thực hiện Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ, quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp đã được thực hiện triển khai tại nhiều tỉnh trong cả nước, trong đó, nhiều diện tích đất rừng có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh đã được rà soát và lập phương án chuyển trả về cho địa phương quản lý và tái phân bổ cho các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh khó khăn và thiếu đất sản xuất. Nhằm thực hiện tốt việc quản lí quỹ đất lâm nghiệp nói trên, Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết 112/2015/QH13 ngày 27/11/2015 để chỉ đạo thực hiện và giám sát.

Nhiều nghiên cứu đã được triển khai nhằm xây dựng khung giám sát và đánh giá công tác quản lý và tái phân bổ quỹ đất hướng tới tăng cường quản lý bền vững và tiếp cận công bằng nguồn đất rừng cho các nông hộ nhỏ, đồng bào dân tộc thiểu số và đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận.

Tại Hội thảo, ông Trần Ngọc Bình, Vụ Kế hoạch Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá việc sắp xếp đổi mới còn chậm và nhiều địa phương thực hiện theo kiểu “bình mới rượu cũ”, việc rà soát đất đai chậm và chưa dứt điểm do thiếu kinh phí, thiếu nhân lực và thiếu sự tham gia của các cơ quan hữu quan. Thêm vào đó, tình trạng tranh chấp lấn chiếm vẫn còn tồn tại dai dẳng, việc tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng khó khăn cộng với thiếu cơ chế chính sách, thiếu nhất quán đồng bộ dẫn đến những bất cập trong tổ chức quản lý của các công ty lâm nghiệp – một loại hình doanh nghiệp mang tính đặc thù.

Trong khi đó, theo ông Nguyễn Anh Phong, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, quá trình rà soát và chuyển giao đất rừng không có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan đặc biệt là chính quyền và cộng đồng địa phương, cộng với  các bên liên quan lại không nắm rõ các chính sách dẫn đến nhiều bất đồng và mâu thuẫn trong thực hiện rà soát, phân định ranh giới đất và giao đất lâm nghiệp cho người dân địa phương. Bởi thế, cần phải rà soát, quy chuẩn lại khung pháp lý cho việc thực hiện chính sách và đánh giá hoạt động giao đất lâm nghiệp đặc biệt đất của lâm trường.

Vận động áp dụng khung giám sát và đánh giá theo đề án của chính phủ liên quan tới nội dung về tái phân bổ đất lâm trường do đó càng có vai trò quan trọng, góp phần giúp Quốc hội và các cơ quan chính phủ quản lý đất lâm nghiệp hiệu quả và chủ động hơn, giúp đỡ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có quyền tiếp cận tới tài nguyên đất một cách minh bạch và công bằng, từ đó cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo và quản lý bền vững đất rừng.

Cũng tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận xung quanh Dự thảo Đề cương giám sát thực hiện Nghị quyết 112/2015/QH13 về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh. Theo đó, đa số các đại biểu đều đồng tình rằng cần chấm dứt việc giám sát chỉ dừng lại trên việc đọc và nghe báo cáo tại hội nghị, thay vào đó là phải tăng cường giám sát trực tiếp tại hiện trường cũng như tiếp cận số liệu gốc để đảm bảo tính chính xác của thông tin. Hơn nữa, cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chí giám sát, kiểm tra để đảm bảo tính công bằng, khách quan.

Nhân dịp này, đại diện đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Quảng Bình kiến nghị, cần có chế độ chính sách đối với lao động dôi dư và đào tạo nghề sau sắp xếp đổi mới cũng như có chính sách vay vốn đầu tư phù hợp với tính chất đặc thù trong sản xuất kinh doanh của công ty nông, lâm nghiệp. Còn phía Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật tỉnh Gia Lai đề xuất, cần sớm triển khai đề án tăng cường công tác giám sát thực hiện quản lý và sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường đến nhiều đối tượng có liên quan cũng như có các chính sách điều chỉnh hỗ trợ tăng cường năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng của các Ban quản lý rừng phòng hộ, các công ty có diện tích đất rừng tự nhiên đang quản lý và bảo vệ…

Tính đến nay, Bộ NN&PTNT đã tổ chức thẩm định 29/30 phương án tổng thể với 132 công ty với tổng diện tích trước sắp xếp là 1.837.511 ha, tổng diện tích dự kiến giữ lại là 1,481.793ha và trả về địa phương 355.718ha.
Sau khi phương án tổng thể được phê duyệt, các địa phương đã tổ chức thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và theo báo cáo nhanh của các địa phương, doanh nghiệp, hiện có 3/3 công ty có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC đối với rừng tự nhiên được phê duyệt hình thức duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước; 43/61 công ty đã được phê duyệt hình thức duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đã và đang triển khai công tác tái cơ cấu và sắp xếp lại tổ chức để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. (Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp)

Nguồn: http://dangcongsan.vn/kinh-te/can-tang-cuong-giam-sat-quan-ly-dat-dai-co-nguon-goc-tu-cong-ty-nong-lam-nghiep-428262.html

Cần tôn trọng luật tục truyền thống trong bảo vệ và phát triển rừng

(ĐCSVN) – Nhằm tiếp tục tham vấn, đóng góp ý kiến cho dự thảo lần thứ 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các nhà quản lý, các chuyên gia trong lĩnh vực lâm nghiệp đều nhất trí cao rằng, cần tôn trọng luật tục truyền thống phù hợp với hiện tại và không trái quy định của pháp luật hiện hành trong bảo vệ và phát triển rừng.
Hội thảo nhằm lấy thêm ý kiến tham vấn, đóng góp cho dự thảo lần 5 của Luật. (Ảnh: HNV)

Hội thảo “Tham vấn ý kiến đóng góp cho dự thảo lần 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi” diễn ra ngày 13/3 tại Hà Nội, do Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển (CIRD) và Liên minh đất rừng (FORLAND) tổ chức.

Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng lần thứ 5 đã được hoàn thành, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét thẩm tra trước khi thông qua kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV dự kiến vào tháng 10/2017. Lần này, mặc dù có nhiều thay đổi tích cực nhưng nhiều ý kiến cho rằng vẫn còn nhiều điểm chưa thực hiện rõ và hạn chế về quyền của chủ rừng, một số nội dung về sở hữu rừng, về hệ thống quản lý, về quy hoạch lâm nghiệp, tài chính xanh gắn với tăng trường xanh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn trong phát triển của lâm nghiệp.

Tại Hội thảo, ông Ngô Văn Hồng, Giám đốc CIRD, thành viên FORLAND cho biết, ở lần sửa đổi này, Luật đã có các quy định chi tiết, cụ thể về quyền hưởng lợi đối với nhiều loại rừng khác nhau, loại chủ rừng khác nhau cũng như quy định cụ thể về quản lý, khai thác rừng bền vững đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trong đó có quyền hưởng lợi từ khai thác rừng. Hơn nữa, khái niệm cộng đồng dân cư là chủ rừng đã được điều chỉnh mở rộng cho phù hợp, không đồng nhất với khái niệm thôn, bản trong quản lý hành chính khu vực nông thôn, mà gắn với luật tục, hương ước, quy tắc của cộng đồng về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

GS.TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng, Dự thảo Luật đã mở rộng khái niệm cộng đồng dân cư là chủ rừng dựa trên hương ước, luật tục chứ không dựa trên điểm dân cư nông thôn. Theo ông Võ, Dự thảo Luật đã có quy định cụ thể về quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư gắn với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, bảo đảm quyền tiếp cận truyền thống đối với rừng của cộng đồng dân cư địa phương. Nhưng vẫn cần điều chỉnh lại khái niệm cộng đồng dân cư, thay thế cụm từ “trên cùng địa bàn thôn, bản” bằng “trên cùng địa bàn xã, phường, thị trấn” và thay thế yêu cầu “hương ước, luật tục phải phù hợp pháp luật” bằng yêu cầu “hương ước, luật tục không trái pháp luật”.

Đồng tình với phân tích trên, theo ông Ngô Văn Hồng, vẫn cần mở rộng khái niệm về cộng đồng dân cư theo hướng “Cộng đồng dân cư là cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn xã, phường, thị trấn có cùng tập quán, có chung hương ước hoặc luật tục hoặc quy định riêng liên quan tới quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng mà không trái với quy định của pháp luật”. Từ đó, xem xét quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là cộng đồng dân cư một cách bình đẳng với các chủ rừng là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân.

Ông Ngô Văn Hồng khẳng định, không thể phủ nhận được vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ đã tham gia bảo vệ rừng rất hiệu quả từ trước đến nay. Cuộc sống của đa phần họ không chỉ có sinh kế mà còn có văn hóa gắn chặt với rừng dẫn tới họ bảo vệ rừng không chỉ giai đoạn trước mắt mà cho con cháu của họ lâu dài. Trong khi đó, mỗi dân tộc, mỗi vùng có những nét văn hoá riêng, có cách tổ chức, quản lý và bảo vệ rừng riêng, và thường khác so với cách nghĩ, cách làm của người Kinh ở đồng bằng và tư duy của nhà lập định chính sách. Vì thế, những khu rừng được bảo vệ bằng ý thức, niềm tin, luật tục của người dân và mức độ nghiêm ngặt không thua kém bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Nhưng, để phù hợp với thực tế hiện nay cần bổ sung một số điều khoản hoặc bổ sung vào các điều 19, 20 về việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào DTTS sinh sống tại chỗ hoặc các điều về quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng cũng như cần bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng, có thu nhập bảo đảm từ rừng. Đặc biệt, có quy định chi tiết về quyền của người dân sống ở vùng lõi các rừng đặc dụng, rừng bảo tồn với các Ban quản lý rừng, các vườn quốc gia. Người dân địa phương cần có quyền tiếp cận rừng, được lấy các lâm sản phụ như mây, tre, nứa, cây dược liệu, được xen các cây hoa màu, cây dược liệu dưới tán rừng để bảo đảm cuộc sống.

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đại biểu là các nhà quản lý, các chuyên gia lâm nghiệp. (Ảnh: HNV)

Đồng quan điểm này, ông Đoàn Diễm, Chuyên gia Lâm nghiệp cho hay, quyền hưởng dụng rừng tự nhiên nên trao cho tập thể thay vì cho cá nhân và quyền được trao ở mức độ khác nhau tùy theo năng lực. Giao cho cộng đồng rừng có chất lượng cùng với các hỗ trợ, chứ không phải là giao cho họ rừng nghèo và kèm theo là trách nhiệm. Nhà nước cần  hỗ trợ để bảo vệ quyền ngăn chặn của cộng đồng. Tiếp tục thử nghiệm cơ chế đồng quản lý rừng và hoàn thiện cơ chế quản lý rừng cộng đồng. Hổ trợ xây dựng năng lực và hỗ trợ tiếp cận thị trường để tạo điều kiện cho họ thu được nhiều lợi ích hơn việc chỉ cấp quyền đơn thuần. Bảo đảm tính đại diện và trách nhiệm giải trình của những người  đại diện cho cộng đồng. Hỗ trợ  xây dựng và duy trì  những quyền truyền thống và luật tục tiến bộ để  cộng đồng tự quản lý và sử dụng rừng một bền vững thay vì áp đặt cho việc cải thiện sinh kế và bảo vệ rừng.

Trong khi đó, theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, dự thảo Luật BV&PTR còn thiếu toàn bộ một chương về thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý rừng, trong đó có quy định về sự tham gia giám sát của người dân (trực tiếp và gián tiếp). Vì thế, nội dung này cần được quy định cụ thể trong chương Quản lý Nhà nước (Chương 11) hoặc bổ sung thêm 1 chương mới nếu không sẽ không đảm bảo điều kiện thực thi pháp luật. Song song với đó, các cơ quan có trách nhiệm cần xem xét kỹ việc tiếp thu, hướng tới một luật về tài nguyên rừng phù hợp cho giai đoạn hiện nay tạo hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên rừng cao nhất.

Ngoài ra, theo ông Đoàn Diễm, cần cân nhắc thêm cơ chế đồng quản lý rừng giữa các ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ với cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương, từng bước thay thế cơ chế khoán bảo vệ rừng hiện tại chưa phát huy được vai trò làm chủ của người dân, vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương và vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát của các ban quản lý rừng. GS.TSKH Đặng Hùng Võ kiến nghị, cần loại bỏ cơ chế giao khoán rừng đối với rừng sản xuất mà các lâm trường đã sử dụng trước đây; Bảo đảm tính đồng bộ giữa giao, cho thuê đất rừng với giao, cho thuê rừng…

Theo thống kê của CIRD, tính đến thời điểm này, mới có 15 bộ, ngành; 26 tỉnh, thành phố cùng  6 tổ chức và 2 cá nhân gửi kiến nghị góp ý với dự thảo Luật. Con số này cho thấy, vẫn chưa thực sự có nhiều ý kiến quan tâm đóng góp, bổ sung cho một trong nội dung có ảnh hưởng quan trọng tới kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguồn: theo: http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/can-ton-trong-luat-tuc-truyen-thong-trong-bao-ve-va-phat-trien-rung-429862.html