Nhập nhèm xâm lấn đất rừng

Xâm lấn rừng tự phát là câu chuyện không mới của các địa phương có rừng thời gian qua, tuy nhiên trong quá trình quy hoạch và quản lý rừng đặc dụng thì nhiều nơi vẫn xảy ra tình trạng chồng lấn quyền sử dụng đất, dẫn đến đất rừng bị thu hẹp dần…

14.1-nhap-nhem-xam-lan-dat-rung-1-084102
Nhiều hộ dân được giao đất rừng không hề biết khu đất đang nằm trong khu vực chồng lấn, dẫn đến tranh chấp

Nhóm nghiên cứu gồm các ông Nguyễn Hải Vân, Nguyễn Việt Dũng và các cán bộ thuộc Trung tâm Con người và Thiên Nhiên (PanNature) cho biết, kể từ năm 1980 đến nay thì tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của Việt Nam đã suy giảm ở mức độ nghiêm trọng. Trong đó, tỷ lệ che phủ rừng từ 43% (năm 1943) thì đã giảm chỉ còn 27,8% (năm 1990). Đáng chú ý, Chính phủ đã xây dựng cấp bách Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 1991) và Luật Đất đai (năm 1993) để phân loại rừng sản xuất và khai thác và rừng cần được bảo tồn. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình quy hoạch, thành lập và mở rộng liên tục các khu rừng đặc dụng (RĐD) đã không tránh khỏi những sai sót không đáng có. Trong đó, tình trạng chồng lấn quyền sử dụng đất giữa Ban Quản lý (BQL) các khu RĐD và người dân địa phương.

Theo các khảo sát của PanNature, Trung tâm Tư vấn và Quản lý Tài nguyên (Corenarm) và Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD) thì chỉ trong năm 2014 có đến 47,4% các khu RĐD được tham vấn có hoặc có khả năng hiện tượng chồng lấn quyền sử dụng đất. Đáng chú ý, có đến 61,7% trường hợp chồng lấn xảy ra ở các RĐD thuộc các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, và có xu hướng giảm dần ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (30%) và Nam Bộ (8%).

Thời gian qua, quy mô chồng lấn được phát hiện tại các khu vực vườn quốc gia (VQG) Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế) với diện tích khoảng 1,5 – 2 nghìn ha. Trong khi đó tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông (Hòa Bình) phát hiện đến hơn 1.045 hộ gia đình nằm trong khu vực diện tích 10.000 ha. Hiện nay, các VQG Cúc Phương, Cát Tiên, Bái Tử Long và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Canh đang nỗ lực để giải quyết triệt để tình trạng nêu trên, tuy nhiên kết quả còn nhiều hạn chế.

Tình trạng chồng lấn tranh chấp nêu trên là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy hoạt động phá rừng xâm lấn và xâm canh (trái phép), trực tiếp đe dọa hiệu quả của các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học trong RĐD. Điển hình như Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông hiện đang phải đối mặt với tình trạng khai thác gỗ lậu, xâm canh đất rừng, những mâu thuẫn về quyền tiếp cận và hưởng lợi từ đất rừng, cũng như khó khăn trong việc củng cố niềm tin và thúc đẩy hợp tác giữa các BQL khu bảo tồn thiên nhiên với cộng đồng và chính quyền địa phương. Ngoài Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tại Khu bảo tồn tự nhiên Kim Hỷ (Bắc Cạn) cũng xảy ra tình trạng chồng lấn trên diện tích 2450,44 ha đất lâm nghiệp giữa BQL và các hộ gia đình các xã Kim Hỷ, Ân Tình, Lương Thượng, Lạng San, Côn Minh (huyện Na Rì) và xã Cao Sơn, Vụ Muộn (huyện Bạch Thông). Tình trạng chồng lấn đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khai thác gỗ hợp pháp của cộng đồng cư dân địa phương (được giao đất rừng – PV).

Nhiều nhà nghiên cứu cảnh báo, việc thành lập mới hoặc mở rộng các khu RĐD, thậm chí còn làm cho hàng nghìn người dân mất dần đất sản xuất, cản trở việc tiếp cận, khai thác và sử dụng lâm sản trên các khu vực mà họ đã được Nhà nước giao (50 năm) để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc hoặc phát triển rừng sản xuất theo Nghị định 02/CP của Chính phủ.

Theo PanNature, để giải quyết thực trạng nhức nhối nêu trên, bảo đảm quyền lợi cho các hộ dân được giao đất rừng, cũng như bảo tồn các RĐD, khu bảo tồn thiên nhiên hiện nay thì các BQL rừng phải chủ động tách diện tích chồng lấn và giao lại cho người dân sử dụng.

Lê Anh/daidoanket.vn

Advertisements

Gần nữa số rừng đặc dụng chồng lấn với đất của dân

Có đến 47,47% các khu rừng đặc dụng (RĐD) tại Việt Nam đã hoặc có khả năng (nhưng chưa rà soát) xảy ra hiện tượng chồng lấn quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình hoặc cộng đồng với Ban quản lý RĐD, theo Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature).

Kết quả nêu trên được PanNature phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung và Trung tâm Tư vấn & Quản lý Tài nguyên (Corenarm) thực hiện khảo sát tại 99 khu RĐD trong năm 2014.

Theo PanNature, hiện tượng chồng lấn quyền sử dụng đất – tức cùng một khu đất nhưng có đến hai chủ thể quản lý – không phải là cá biệt, mà xảy ra ở nhiều địa phương, nhiều vùng trên toàn quốc. Tình trạng chồng lấn xảy ra phổ biến hơn ở các khu RĐD thuộc các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ với 61,7%, và giảm dần ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (30%), và Nam Bộ (8%).

Quy mô chồng lấn có nhiều khác biệt giữa các khu RĐD, từ quy mô nhỏ liên quan đến 2-3 hộ gia đình với diện tích tranh chấp 1,5 – 2 ha (như VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế), đến quy mô lớn liên quan đến 1.045 hộ gia đình trên diện tích gần 10.000 ha (như Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn-Ngổ Luông, Hòa Bình). Bên cạnh đó, số liệu về quy mô, diện tích chồng lấn vẫn mang nhiều tính ước đoán vì chưa có hoạt động điều tra, khảo sát trên thực địa tại các địa phương.

Tuy nhiên, đáng chú ý là 91,5% các khu RĐD có tình trạng chồng lấn hiện vẫn chưa có phương án hoặc kế hoạch giải quyết cụ thể; chỉ có một số ít các khu (các vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Tiên, Bái Tử Long và Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh) đã và đang nỗ lực giải quyết, nhưng kết quả vẫn còn rất nhiều hạn chế hoặc không thể giải quyết triệt để.

Vậy đâu là nguyên nhân chính của hiện trạng này? Theo PanNature, trước khi một khu RĐD được thành lập, theo nguyên tắc, các diện tích đất lâm nghiệp (có rừng hoặc không có rừng), đã được nhà nước cấp quyền quản lý, sử dụng cho hộ gia đình từ trước đó, hoặc đã được cộng đồng địa phương sử dụng ổn định theo luật tục truyền thống từ lâu đời, nằm trong quy hoạch ranh giới các khu RĐD cần phải được tiến hành thu hồi. Tuy nhiên, quy trình này đã không được thực hiện đúng hoặc bị bỏ qua mà hệ lụy để lại là tình trạng chồng lấn “một đất hai chủ” như hiện nay tại các khu RĐD.

Dù chưa dẫn đến những xung đột gay gắt nhưng hiện tượng chồng lấn lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và hệ lụy dễ thấy nhất đó là hiện tượng bất hợp tác giữa người dân và ban quản lý rừng trong quá trình bảo vệ rừng. Hiện tượng này bắt nguồn từ nhận thức khác biệt, thậm chí đối lập nhau về quyền và trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng giữa cộng đồng, lãnh đạo địa phương và cán bộ ban quản lý các khu RĐD.

Rừng đặc dụng là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; và Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học (theo điều 4 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 9-2004).

Đức Tâm/thesaigontimes.vn

Hội thảo: Thực thi Luật BV&PTR ở Việt Nam – Một số phát hiện và khuyến nghị từ cộng đồng

Với sự hỗ trợ của Mạng lưới Đất rừng (Forland) và Chương trình Hỗ trợ Liên minh (Oxfam Anh), ngày 25/11, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) và Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) đã phối hợp tổ chức hội thảo: “Thực thi luật bảo vệ phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và khuyến nghị từ phía cộng đồng”  nhằm chia sẻ kết quả các nghiên cứu đánh giá viêc thực thi Luật BV&PTR liên quan tới hộ gia đình và cộng đồng với các cơ quan hoạch định chính sách và các bên quan tâm.

Toàn cảnh hội thảo(Ảnh PanNature)
Toàn cảnh hội thảo(Ảnh PanNature)

Chương trình phối hợp hoạt động khoa học công nghệ giữa LHHVN và Tổng cục Lâm nghiệp TCLN đã được ký ngày 18 tháng 6 năm 2014. Theo kế hoạch năm 2014-2015 của Chương trình này về hoạt động tư vấn, phản biện và vận động chính sách, có nội dung: Đánh giá Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004 dưới góc nhìn của các tổ chức xã hội dân sự (hạng mục 2.2). Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và Phát triển (CIRD), đơn vị thành viên của LHHVN, được giao là cơ quan đầu mối để triển khai nội dung này.

Luật BV&PTR được ban hành năm 2004 đã có tác động tích cực đến sự phát triển rừng cũng như đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng đã bộc lộ một số điểm cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả của Luật. Thời gian qua, TCLN đã thành lập tổ chuyên gia đánh giá độc lập 10 năm thực hiện Luật BV&PTR 2004. Nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát ở một số Ban quản lý rừng, Công ty lâm nghiêp, Hiêp hội gỗ và lâm sản, Doanh nghiệp chế biến lâm sản, và Cơ quan kiểm lâm ở 10 tỉnh và thành phố. Tuy nhiên, để đánh giá một Luật lớn như Luật BV&PTR cần phải có thông tin đa dạng và đầy đủ hơn ở tất cả các cấp và các đối tượng khác nhau.

Xuất phát từ thực tế đó, được sự tài trợ của Oxfam, Trung tâm CIRD đã phối hợp với các tổ chức khác của Mạng lưới Đất rừng (FORLAND) tiến hành ba dự án nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu và đánh giá tình hình thực thi Luật BV&PTR 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng. Các nội dung nghiên cứu cụ thể về: Đánh giá việc thực thi Luật BV&PTR 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng; Đánh giá hiện trạng chồng lấn quyền sử dụng đất trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam và Lồng ghép giới trong thực thi Luật BV&PTR 2004 và một số văn bản dưới luật liên quan.

Tham dự hội thảo có hơn 100 khách mời từ các cơ quan quản lý, các chuyên gia, nhà nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực lâm nghiệp.  Một số vấn đề về quá trình thực thi Luật BVPTR 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng được Mạng lưới Đất rừng phát hiện đã được đưa ra trình bày, thảo luận tại hội thảo.

Hội thảo là bước đầu tiên trong tiến trình thực hiện nội dung của văn bản đã ký kết giữa LHHVN và TCLN nhằm tổ chức một hội thảo lớn hơn: “Đánh giá Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 dưới góc nhìn của các tổ chức xã hội dân sự” trong thời gian tới.

Tài liệu hội thảo:

Chương trình hội thảo

Giới thiệu Mạng lưới Đất rừng (Forland)
PGS.TS. Hoàng Mạnh Quân – Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD)

Kết quả Tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về Luật BV&PT rừng năm 2004
Ông Lê Văn Lân – Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD)

Giới và Chính sách Bảo vệ và Phát triển Rừng
Bà Lâm Thị Thu Sửu – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD)

Hiện trạng chồng lấn quyền sử dụng đất trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
Ông Nguyễn Việt Dũng – Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature)

Luật BV&PTR 2004 với công tác quản lý rừng cộng đồng ở Thừa Thiên Huế: Những khó khăn và đề xuất
Ông Mai Văn Tâm – Phòng Quản lý Bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế)

Báo cáo tóm tắt: Kết quả tham vấn Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng

Báo cáo tóm tắt: Lồng ghép giới trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các văn bản dưới luật liên quan

Báo cáo tóm tắt: Hiện trạng chồng lấn quyền sử dụng đất trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam

Báo cáo tóm tắt:  Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 với công tác quản lý rừng cộng đồng ở Thừa Thiên Huế: Những khó khăn và đề xuất

Báo cáo tóm tắt: Đánh giá các chính sách liên quan đến quản lý rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình ở vùng miền núi Bắc Bộ

Theo PanNature

Đánh giá hiện trạng tranh chấp và xung đột quyền sử dụng đất trong hệ thống khu bảo tồn ở Việt Nam

Thực hiện Quyết định 57/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (TTg) về phê duyệt Kế hoạch hành động bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, trong phân kỳ 2014-2015 Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT đang triển khai xây dựng một số văn bản pháp lý và chính sách quan trọng, bao gồm Quyết định của TTg về chính sách đồng quản lý rừng (2014), rà soát và đánh giá chính sách thí điểm chia sẻ lợi ích từ quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng (2014/2015) theo Quyết định 126/QĐ-TTg năm 2012 của TTg, Quyết định của TTg về một số cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng rừng cộng đồng (2014 dự thảo khung nội dung), đồng thời nghiên cứu ban hành một số thông tư thực hiện các quyết định nói trên cũng như Quyết định 24/2012/QĐ-TTg về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Nội dung dự thảo các chính sách nói trên có liên quan trực tiếp đến giải quyết mối quan hệ giữa hộ gia đình, cộng đồng địa phương và Ban quản lý các khu rừng đặc dụng (VQG/KBT) về tình trạng chồng lấn, tranh chấp và xung đột quyền sử dụng đất trong quá trình quy hoạch, thành lập và mở rộng các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam từ sau năm 1990. Tình trạng này khá phổ biến ở nhiều VQG/KBT, tuy nhiên chưa được giải quyết đồng bộ, gây nên thách thức lớn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên.

FORLAND tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá được hiện trạng và tác động của chồng lấn, tranh chấp, xung đột quyền sử dụng đất ở các VQG/KBT rừng đặc dụng của Việt Nam và đưa ra các khuyến nghị về giải quyết tranh chấp này, góp phần tác động đến quá trình xây dựng và thực thi chính sách đồng quản lý rừng, chia sẻ lợi ích và chính sách liên quan khác theo hướng hài hòa quyền và lợi ích của cộng đồng địa phương đối với rừng và đất rừng cũng như đảm bảo các mục tiêu quản lý bền vững khu bảo tồn và đa dạng sinh học.

Thời gian thực hiện: 09 tháng, từ tháng 01/3/2014 đến tháng 30/11/2014

FORLAND