Phóng sự: Chi trả dịch vụ môi trường rừng – Niềm hy vọng của những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn

 

Advertisements

Hội thảo – Tập huấn thực hiện Giám sát – Đánh giá trong chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ngày 14-15/02/2017, Mạng lưới Đất rừng (FORLAND), gồm 3 tổ chức Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) và Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Môi trường Bền vững (SEEDs), phối hợp với Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam, Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Thừa Thiên Huế và WWF Việt Nam tổ chức Họp thảo luận về Bộ công cụ Giám sát – Đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng và tập huấn sử dụng thiết bị di dộng trong giám sát tuần tra bảo vệ rừng chi trả dịch vụ môi trường rừng tại thành phố Huế.

140217_dvmtr5

Sự kiện có sự tham gia của các đại biểu đến từ Tổng cục Lâm nghiệp (Vụ Kế hoach – Tài chính, Vụ Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế), 8 Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng tỉnh Kon Tum, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Quảng Nam, Lào Cai, Đắk Lắk và Gia Lai cùng đại diện các chủ rừng tổ chức, kiểm lâm, các tổ quản lý bảo vệ rừng và cả đại diện các đơn vị thủy điện sử dụng DVMTR.

140217_dvmtr7

Hội thảo nhằm mục đích tham vấn ý kiến các bên liên quan để hoàn thiện Hướng dẫn về thực hiện giám sát – đánh giá chi trả DVMTR ở cấp tỉnh, ứng dụng thử nghiệm để cung cấp các thông tin đầu vào cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng một thông tư hướng dẫn thực hiện Giám sát – Đánh giá chi trả DVMTR vào cuối năm 2017.

Nguồn: Theo tổng hợp từ PanNature

Người dân hưởng lợi nhiều hơn từ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ngày 02/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2016/NĐ-CP (Nghị định 147) về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99/2010/NĐ-CP (Nghị định 99) ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).

Việc ban hành Nghị định 147 đã đáp ứng được mong mỏi của các bên liên quan đặc biệt là những người dân đang hàng ngày chăm sóc, bảo vệ rừng, cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

Theo đó, Nghị định 147 bao gồm một số nội dung chính như sau:

Về đối tượng được chi trả tiền DVMTR (tại Điều 8 Nghị định 99) đã được bổ sung 02 đối tượng là Ủy ban nhân dân cấp xã và Các tổ chức chính trị – xã hội được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật có cung ứng DVMTR;

Về mức chi trả tiền DVMTR (tại Điều 11 Nghị định 99) được sửa đổi: đối với các cơ sở sản xuất thủy điện, mức chi trả tiền DVMTR được quy định là 36 đồng/kwh điện thương phẩm (so với mức quy định cũ là 20 đồng/kwh); đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch, mức chi trả tiền DVMTR được quy định là 52 đồng/m3 nước thương phẩm (so với mức quy định cũ là 40 đồng/m3). Như vậy, với mức chi trả mới này, thu nhập của người dân từ DVMTR tăng lên trung bình từ 1,7-1,8 lần/ha/năm.

Về việc sử dụng tiền DVMTR (tại Điều 15 Nghị định 99), ngoài việc sử dụng kinh phí dự phòng khi có thiên tai, khô hạn, Nghị định 147 bổ sung cho phép sử dụng hỗ trợ trong trường hợp mức chi trả tiền DVMTR trên cùng 1 đơn vị diện tích thấp hơn mức chi trả của năm trước liền kề. Nghị định 147 cũng quy định đối với diện tích rừng có mức chi trả DVMTR lớn hơn 2 lần mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho khoán bảo vệ rừng, tùy theo đối tượng trên cùng địa bàn tỉnh, UBND tỉnh quyết định mức điều tiết phù hợp.

Ngoài ra, đối với đối tượng được chi trả tiền DVMTR là UBND cấp xã được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng chưa giao, cho thuê theo quy định của pháp luật thì tiền DVMTR nhận được coi là nguồn thu của Quỹ BV&PTR cấp xã, quản lý chi theo quy định tại Điều 3, Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành 1 số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; Đối với Tổ chức chính trị-xã hội được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật phải lập phương án sử dụng kinh phí quản lý bảo vệ rừng từ nguồn tiền chi trả DVMTR trình UBND cấp huyện phê duyệt thay vì trước đây phải gửi Sở NN&PTNT thẩm định, tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định tại điểm d, khoản 3, Điều 5 Thông tư 62/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 quy định nguyên tắc, phương pháp xác định diện tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả DVMTR.

Bên cạnh đó, Nghị định 147 đã bãi bỏ khoản 7 và điểm b, khoản 9, Điều 22 của Nghị định 99 về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, theo đó UBND tỉnh không cần phải xác nhận danh sách các chủ rừng là tổ chức và UBND cấp huyện cũng không cần phải xác nhận danh sách các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có cung ứng cho 1 đơn vị sử dụng DVMTR. Điều này góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thực hiện chính sách.

Nghị định 147 được ban hành đã thể hiện sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với chính sách, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên liên quan được đảm bảo. Điều này không chỉ dừng lại ở việc gia tăng nguồn thu tiền DVMTR hàng năm mà cũng đồng nghĩa với việc số tiền người dân tham gia bảo vệ, cung ứng DVMTR nhận được hàng năm cũng tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, cải thiện thu nhập, sinh kế nhất là đối với đồng bào dân tộc nghèo vùng núi; giúp họ có thêm động lực tham gia giữ rừng, bảo vệ rừng.

Sau 5 năm từng bước đưa chính sách mới vào thực tiễn, việc Chính phủ ban hành Nghị định 147 đã tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc nảy sinh thời gian qua, và là cơ sở quan trọng để tiếp tục triển khai hiệu quả chính sách hơn nữa trong thời gian tới, thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng của Đảng và Nhà nước.

Theo quy định, Nghị định 147 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Riêng mức chi trả tiền DVMTR đối với các cơ sở sản xuất thủy điện được áp dụng kể từ lần điều chỉnh giá bán lẻ điện đầu tiên sau khi Nghị định 147 có hiệu lực.

Nguồn: http://vnff.vn/tin-tuc/tin-trung-uong/2016/11/nguoi-dan-huong-loi-nhieu-hon-tu-nghi-dinh-sua-doi-bo-sung-nghi-dinh-99-ve-chinh-sach-chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung

Chi trả dịch vụ môi trường rừng – “Trông người mà ngẫm đến ta”!

Sau gần 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, tỉnh Lâm Đồng trở thành điển hình trong cả nước. Nếu so sánh trong mối tương quan thì Hà Tĩnh thuộc hàng… “em út”. Ngoại trừ những yếu tố khách quan thì vẫn còn nhiều tác động chủ quan khiến công tác thu DVMT rừng ở Hà Tĩnh chưa đạt kết quả như mong muốn.
1.2-106dtl85328
Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc), một trong những đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng

Không thể phủ nhận tỉnh Lâm Đồng có những lợi thế đặc biệt. Địa phương này hiện có khoảng 532.000 ha rừng, trong đó, khu vực rừng nằm trong các lưu vực được chi trả là 514.800 ha. Năm 2011, Lâm Đồng có 272.000 ha nhận tiền DVMT rừng. Năm 2014 là 328.000 ha và năm 2015 là 363.850 ha, chiếm 70% diện tích rừng toàn tỉnh.

Hàng năm, ở Lâm Đồng có trên 16.000 hộ dân được nhận khoán bảo vệ rừng. Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có 50 đơn vị sử dụng DVMT rừng, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, có 30 đơn vị sản xuất thủy điện, 9 đơn vị sản xuất nước sạch và 12 đơn vị kinh doanh du lịch.

Số tiền thu từ DVMT rừng hàng năm cũng tăng dần. Cụ thể là năm 2011: 58,4 tỷ đồng; năm 2012 là 105,5 tỷ đồng; năm 2013 là 127,1 tỷ đồng và năm 2014 xấp xỉ 170 tỷ đồng. Nguồn thu từ DVMT rừng tăng nên định mức khoán trực tiếp cho các hộ bảo vệ rừng theo đó cũng được nâng lên nhiều so với những năm trước đây và “chốt” ở mức 450.000 đồng/ha năm 2014.

Qua 4 năm thực hiện Nghị định 99, tổng kinh phí đã chi trả cho công tác bảo vệ rừng ở Lâm Đồng khoảng 440 tỷ đồng (400 tỷ đồng khoán bảo vệ rừng và 40 tỷ đồng chi phí quản lý của chủ rừng).

Đề cập đến vấn đề này tại Hà Tĩnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Nguyễn Công Tố ngậm ngùi nói rằng, nguồn thu từ DVMT rất… “bèo bọt”. Đã vậy, có tiền rồi cũng không thể… chi được.

Từ năm 2011-2013, Hà Tĩnh bắt đầu truy thu số tiền hơn 6,6 tỷ đồng DVMT rừng ở 5 đơn vị gồm: Công ty Thủy điện Hương Sơn, Công ty Đầu tư & Phát triển Miền Bắc 1 – đơn vị chủ quản của Nhà máy Thủy điện Hố Hô, Công ty TNHH MTV Cấp nước & Xây dựng Hà Tĩnh, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh – đơn vị chủ quản của Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc) và Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ. Tuy nhiên, cho đến nay, số tiền này không thể giải ngân được.

Theo lý giải của Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Trần Chí Thanh thì: “Đến năm 2013, quỹ mới thành lập nên quá niên độ tài chính. Hay nói cách khác là ở thời điểm đó, các chủ rừng đã được cấp kinh phí hoạt động nên không thể chuyển tiền”. Toàn bộ số tiền này hiện đang chờ quyết định từ Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2014, thu từ DVMT rừng ở 5 đơn vị trên lẽ ra phải đạt gần 2,5 tỷ đồng, tuy nhiên, chỉ có 4 đơn vị nộp đủ; còn lại 132.805.000 đồng (có cả tiền truy thu từ những năm trước), Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ không chịu trả. Mặc dù Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã nhiều lần phát văn bản yêu cầu thanh toán ngay nhưng công ty vẫn phớt lờ.

Khách quan mà xét thì số tiền thu DVMT rừng phụ thuộc nhiều vào công suất nhà máy thủy điện; các cơ sở cấp nước và du lịch chỉ đáp ứng phần nào nguồn thu từ DVMT rừng. Trong khi đó, công suất các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh quá nhỏ. Theo quy định của Nghị định 99 thì mỗi kW điện thương phẩm, nhà máy thủy điện phải đóng 20 đồng phí DVMT rừng và các nhà máy sản xuất nước phải trả 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Tuy nhiên, 2 nhà máy thủy điện: Hố Hô và Hương Sơn có công suất chỉ bằng 2/10 so với Nhà máy Thủy điện Đa Nhim – Lâm Đồng (công suất 160 MW và hàng năm phải trả 50 tỷ đồng cho DVMT rừng) nên nguồn thu ít là đương nhiên.

Đã vậy, mức giá DVMT rừng theo Nghị định 99 vẫn… “giẫm chân tại chỗ” trong khi giá nước, điện 4 năm qua đã được điều chỉnh nhiều lần nên không còn phù hợp. Đặc biệt, số tiền người dân được nhận từ DVMT rừng cho công tác nhận khoán bảo vệ rừng lại quá ít. Toàn tỉnh hiện chỉ có 272 hộ dân thuộc 3 xã huyện Hương Khê là Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh được nhận tiền DVMT rừng với tổng số tiền xấp xỉ 20 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận khoảng 70.000 đồng/ha/năm.

Từ đầu năm đến nay, tổng số tiền thu từ DVMT rừng đạt hơn 9,4 tỷ đồng, còn thiếu gần 240 triệu đồng. Đây được coi là tín hiệu vui vì tiền thu được tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho các chủ rừng và người nhận khoán làm tốt hơn công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, con số này chưa là gì, bởi theo ông Đặng Bá Thức – chuyên gia lâm nghiệp tỉnh nhà thì “Hà Tĩnh trong những năm tới đây phải thu ít nhất từ 50-70 tỷ đồng từ DVMT rừng. Bởi rồi đây, nguồn thu từ công trình thủy lợi Ngàn Trươi – Cẩm Trang và hồ chứa nước Rào Trổ ở Kỳ Anh là khá dồi dào. Tất nhiên, phải được Chính phủ cho phép thu từ sản xuất nước công nghiệp ở hồ Rào Trổ”.

“Hà Tĩnh cần phải khẩn trương hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng, từ đó mới có thể tính toán chính xác các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMT rừng để thu đúng, đủ. Thêm nữa, tỉnh phải kiên trì kiến nghị Chính phủ thu thêm tiền DVMT rừng ở hồ Kẻ Gỗ, Sông Rác vì Nhà nước miễn thủy lợi phí thì phải có số tiền lớn để hỗ trợ chủ rừng và người dân trong lưu vực bị ảnh hưởng” – ông Thức nói thêm.

Cùng đó, các ngành chức năng cần rà soát, xem xét kỹ lưỡng vì còn rất nhiều đơn vị hưởng lợi trực tiếp từ rừng nhưng lại đứng “ngoài hàng rào” trả tiền DVMT rừng, đồng thời, phải xử lý dứt điểm tình trạng chây ì nợ tiền DVMT rừng. Có như vậy, “cuộc chiến” bảo vệ rừng mới thực sự có hiệu quả bền vững.

Hoài Nam/baohatinh.vn

Phát huy hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Nghị định 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được ban hành vào tháng 9/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tại tỉnh Kon Tum, chính sách này đã tạo một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khi hướng người dân, cộng đồng ở gần rừng gắn bó với rừng. Qua đó, rừng được quản lý bảo vệ tốt hơn.

Phóng sự được thực hiện trong khuôn khổ phối hợp giữa Liên minh Đất rừng FORLAND và Kênh truyền hình Quốc hội

FORLAND