Category Archives: Vận động chính sách Nông lâm trường quốc doanh

Sắp xếp đổi mới đất nông lâm trường vẫn theo kiểu “bình mới rượu cũ”

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

“Muốn quản lý và sử dụng hiệu quả đất nông lâm trường, cần tăng cường giám sát, rà soát sắp xếp lại đất đai, kịp thời xử lý vi phạm, khắc phục dứt điểm tranh chấp, khiếu kiện kéo dài; xử lý hài hòa đất nông lâm trường và người dân, cũng như có chính sách giải quyết lao động, xóa đói giảm nghèo bền vững.”

Trên đây là những giải pháp “thay đổi công tác quản lý đất nông lâm trường” vừa được các chuyên gia đất rừng đưa ra tại Hội thảo “Quản lý đất đai có nguồn gốc từ Công ty nông lâm nghiệp sau sắp xếp đổi mới: Chính sách và thực tiễn,” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn phối hợp với Liên minh Đất rừng tổ chức chiều 27/2, tại Hà Nội.

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Trần Ngọc Bình, đại diện Vụ Kế hoạch Tài chính-Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: Hiện nay việc sắp xếp đổi mới còn chậm và nhiều địa phương thực hiện theo kiểu “bình mới rượu cũ,” việc rà soát đất đai chậm và chưa dứt điểm do thiếu kinh phí, thiếu nhân lực và thiếu sự tham gia của các cơ quan hữu quan.

Thêm vào đó, tình trạng tranh chấp lấn chiếm vẫn còn tồn tại dai dẳng, việc tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng khó khăn cộng với thiếu cơ chế chính sách, thiếu nhất quán đồng bộ dẫn đến những bất cập trong tổ chức quản lý của các công ty lâm nghiệp, một loại hình doanh nghiệp mang tính đặc thù.

Trong khi đó, ông Nguyễn Anh Phong, đại diện Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, cho rằng quá trình rà soát và chuyển giao đất rừng không có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan. Nhất là chính quyền và cộng đồng địa phương cộng với các bên liên quan lại không nắm rõ các chính sách dẫn đến nhiều bất đồng và mâu thuẫn trong thực hiện rà soát, phân định ranh giới đất và giao đất lâm nghiệp cho người dân địa phương.

“Bởi thế, cần phải rà soát, quy chuẩn lại khung pháp lý cho việc thực hiện chính sách và đánh giá hoạt động giao đất lâm nghiệp đặc biệt đất của lâm trường. Vận động áp dụng khung giám sát, giúp đỡ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có quyền tiếp cận tới tài nguyên đất một cách minh bạch và công bằng,” ông Phong kiến nghị.

Cũng tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận xung quanh Dự thảo Đề cương giám sát thực hiện Nghị quyết 112/2015/QH13 về tăng cường quản lý dất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh.

Theo đó, đa số các đại biểu đều đồng tình rằng cần chấm dứt việc giám sát chỉ dừng lại trên việc đọc và nghe báo cáo tại Hội nghị, thay vào đó là phải tăng cường giám sát trực tiếp tại hiện trường cũng như tiếp cận số liệu gốc để đảm bảo tính chính xác của thông tin. Hơn nữa, cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chí giám sát, kiểm tra để đảm bảo tính công bằng, khách quan.

Từ góc độ địa phương, đại diện đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Quảng Bình cũng kiến nghị, cần có chế độ chính sách đối với lao động dôi dư và đào tạo nghề sau sắp xếp đổi mới cũng như có chính sách vay vốn đầu tư phù hợp với tính chất đặc thù trong sản xuất kinh doanh của công ty nông, lâm nghiệp.

Đại diện Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật tỉnh Gia Lai cũng kiến nghị, cần sớm triển khai đề án tăng cường công tác giám sát thực hiện quản lý và sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường đến nhiều đối tượng có liên quan cũng như có các cính sách; điều chỉnh hỗ trợ tăng cường năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng của các Ban quản lý rừng phòng hộ, các công ty có diện tích đất rừng tự nhiên đang quản lý và bảo vệ../.

Nguồn: theo: http://www.vietnamplus.vn/sap-xep-doi-moi-dat-nong-lam-truong-van-theo-kieu-binh-moi-ruou-cu/433059.vnp

Hội thảo Quản lý đất đai có nguồn gốc từ các NLTQD: Chính sách và Thực tiễn

 

Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng

Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ thầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.

Đây là Quyết định, nhằm cụ thể hóa cho khoản 2 Điều 1 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính Phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

Theo Quyết định này, các hoạt động về sản xuất nông lâm nghiệp như khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất, trồng rừng gỗ lớn… sẽ được hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đặc biệt là tại một số tỉnh biên giới phía Bắc và vùng Tây Nguyên

Chi tiết xem tại: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/quyet-dinh/quyet-dinh-so-38-2016-qd-ttg-ngay-14-9-2016-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-viec-ban-hanh-mot-so-chinh-sach-bao-ve-phat-trien-rung-va-dau-tu-ho-tro-ket-cau-a3141

Thí điểm giam sát việc quản lý sử dụng đất có nguồn gốc từ NLTQD tại Quảng Bình

Trong hai ngày 12-13. 9. 2016, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đã thực hiện hoạt động giám sát việc quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các LTQD theo Nghị quyết 112 của Quốc hội tại 2 xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh), Xuân Trạch (huyện Bố Trạch), và 2 CT Lâm Công nghiệp trong tỉnh là Long Đại và Bắc Quảng Bình.

Hoạt động này được phối hợp thực hiện giữa Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình và FORLAND, trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy tiến trình giám sát việc thu hồi và sử dụng quỹ đất lâm nghiệp được giao lại từ nông lâm trường quốc doanh cho người dân địa phương”

Trong suốt tiến trình thực hiện giám sát thí điểm tại công ty Lâm Công nghiệp Long Đại và công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, các đại biểu đã thảo luận/ chia sẻ nhiều vấn đề gặp phải trong quá trình rà soát, sắp xếp và bàn giao và sử dụng quỹ đất từ 02 công ty lâm công nghiệp, như: khó khăn về tài chính thực hiện, thiếu sự tham gia, phương án thực hiện thiếu khả thi, quỹ đất bàn giao khó/không thể sử dụng sản xuất được…

Một vài hình ảnh của đoàn ai-ve-nltqd-1 ai-ve-nltqd-2

FORLAND

Tuyên Quang: Sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp

TQĐT – Ngày 26-5-2016, UBND tỉnh đã ra các Quyết định số 160, 162, 163, 164, 165/QĐ-UBND phê duyệt cho 4 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương xây dựng phương án chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thời gian thực hiện năm 2016 – 2017; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2016 – 2017.

Qua đánh giá của tổ chức FCS (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cuối tháng 5 vừa qua, cả 5 công ty lâm nghiệp này đều đủ điều kiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với diện tích được cấp trên 11.000 ha và sẽ được cấp chứng chỉ vào tháng 9 năm nay.


Công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Sơn chăm sóc keo giống.

Tuy nhiên theo các công ty lâm nghiệp, trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, các đơn vị cũng đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công ty chưa được đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, dễ phát sinh tranh chấp và gây vướng mắc cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp. Việc xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty gặp nhiều khó khăn vì bản thân các công ty khó xác định được giá trị tài sản hiện có đảm bảo theo đúng yêu cầu. Việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính cũng vướng mắc, do hiện tại các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới lại chưa được thực hiện. Thêm vào đó, chi phí để sắp xếp, chuyển đổi theo quy định không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay; việc giải quyết diện tích đất bị lấn chiếm còn nhiều khó khăn.

Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương chia sẻ, đề án sắp xếp đổi mới công ty đã được phê duyệt từ cuối tháng 5, tuy nhiên, hiện đơn vị đang gặp một số khó khăn như chưa hoàn thành đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa; chưa hoàn thành kiểm kê từng lô rừng để xác định giá trị kinh tế… Đơn vị xác định từ nay đến hết năm, phần việc còn lại là rất nhiều, nhưng đơn vị sẽ dốc sức, tập trung hoàn thành các phần việc theo quy định.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình được giao quản lý 1.850,2 ha đất lâm nghiệp. Sau khi được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty đã xác định được ranh giới đất giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các hộ dân, thuận lợi cho việc xử lý các trường hợp lấn chiếm đất đai, tài nguyên rừng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty đã tổ chức khoán liên doanh trồng rừng sản xuất trên diện tích đất công ty được giao, được thuê với cán bộ, công nhân của công ty và người dân trên địa bàn với diện tích 1.253,6 ha. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng sản xuất đã gắn được quyền lợi và trách nhiệm của công ty với người lao động đến sản phẩm cuối cùng. Sản lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao, rừng đã có chủ thực sự, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng trồng được hạn chế tối đa. Bắt tay vào sắp xếp, đổi mới, công ty lựa chọn phương án sắp xếp, đổi mới thuộc loại hình 2 thành viên trở lên, vì mô hình này phù hợp với điều kiện thực tế cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân đang làm việc tại Công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển chế biến và thị trường; đảm bảo quyền lợi của người lao động; huy động được nguồn vốn đầu tư của tập thể, cá nhân cùng góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Hiện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã chốt phương án về ngành nghề sản xuất kinh doanh, đất đai, quản lý sử dụng rừng, vốn, lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thị trường và tổ chức bộ máy.

Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình – anh Nguyễn Hồng Thái cho biết, một trong những mục tiêu quan trọng của công ty trong thời gian tới là xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với diện tích đất được giao, được thuê. Trong đó, Tuyên Bình lựa chọn loài cây keo là cây trồng chính, tập trung vào giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và phương pháp nuôi cấy mô để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, hiệu quả kinh tế cao hơn. Phấn đấu đến 2020, diện tích keo lai chiếm 80% diện tích rừng của công ty. Đồng thời, đơn vị phấn đấu cấp chứng chỉ rừng cho khoảng 1.000 ha và xây dựng diện tích này vào kinh doanh cây gỗ lớn kết hợp kinh doanh gỗ nguyên liệu.

Sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn then chốt. Quan trọng nhất, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xác định được mục tiêu trọng tâm là tăng giá trị, tăng thu nhập từ việc quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng, từ đó tạo bước chuyển về chất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguồn: Báo Tuyên Quang: http://www.baotuyenquang.com.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/sap-xep-doi-moi-cac-cong-ty-lam-nghiep-70417.html

Để xảy ra phá rừng, giám đốc nông trường bị kỷ luật cảnh cáo

(Chinhphu.vn) – UBND tỉnh Kon Tum vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo. Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum cho biết TTXVN biết, UBND tỉnh vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei.

Hình thức kỷ luật là cảnh cáo, tương đương với hình thức kỷ luật về mặt đảng mà Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đăk Glei đã ra quyết định vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo.

Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Trước đó, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei đã ra quyết định kỷ luật cách chức ông Nguyễn Thanh Thủy, Giám đốc Lâm trường Đăk Ba; kỷ luật ông A Tim, Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xã Đăk Roong với hình thức kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng; khiển trách ông Vũ Văn Hợp, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 107; khiển trách ông Đinh Văn Đức, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 120.

Trước đó, vào khoảng giữa tháng 6, tại vị trí nói trên đã xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép được báo chí phản ánh. Sau bài viết, Văn phòng Chính phủ đã có 2 văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra, làm rõ và báo cáo Thủ tướng trước ngày 20/7.

Theo đó, ngành chức năng tỉnh Kon Tum đã đi kiểm tra, phát hiện có 6 cây gỗ bị chặt với khối lượng hơn 7,8 m3; thu giữ 5 xe máy độ chế, 0,2 m3 gỗ, đồng thời xác định được 5 đối tượng vận chuyển gỗ trú ở xã Đăk Kroong.

Sau khi các đối tượng bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính các đối tượng này.

Nguồn: theo báo điện tử Chính Phủ (baochinhphu.vn): http://baochinhphu.vn/Phap-luat/De-xay-ra-pha-rung-giam-doc-nong-truong-bi-ky-luat-canh-cao/283908.vgp

Nhiều cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa mua bán, chiếm dụng đất rừng

Thông qua “động tác” mua bán với người dân, nhiều cán bộ thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Đắk Song) đã chuyển đất rừng thành đất của riêng mình.

NHỮNG VỤ MUA ĐẤT RỪNG VỚI GIÁ RẺ MẠT…

Thời gian qua, dư luận trên địa bàn xã Đắk Môl (Đắk Song) xôn xao về việc có nhiều cán bộ, nhân viên thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (gọi tắt là Công ty Đức Hòa) “bảo kê” cho người dân phá rừng, lấn chiếm đất rồi mua lại chính diện tích đất đó với giá rất rẻ.

Đất rẫy cà phê của ông Hoàng Văn Đại có nguồn gốc từ rừng tự nhiên do Công ty Đức Hòa quản lý

Từ luồng dư luận trên, phóng viên Báo Đắk Nông đã vào cuộc tìm hiểu và nắm bắt được nhiều câu chuyện về việc mua bán đất rừng của cán bộ Công ty Đức Hòa. Câu chuyện được ông N.H.N, một cựu chiến binh sống tại xã Đắk Môl, cung cấp.

Theo ông N, năm 2010, gia đình ông Nguyễn Văn Hải, trú tại xã Đắk Hòa (Đắk Song) sở hữu 4 ha đất ở khá gần với khu dân cư. Sau đó, gia đình ông Hải tiến hành trồng cà phê trên diện tích đất này. Đến năm 2012, cà phê đã phát triển rất đẹp và bắt đầu cho thu hoạch. Theo giá thị trường vào thời điểm đó, 4 ha cà phê của gia đình ông Hải có giá khoảng 1 tỷ đồng.

Thế nhưng, không hiểu vì sao mà cuối năm 2012, gia đình ông Hải đã đột ngột chuyển nhượng toàn bộ 4 ha cà phê cho ông Y Lê Na, cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty Đức Hòa, chỉ với giá 500 triệu đồng. Là một cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm, nên ông N cảm nhận được phi vụ mua bán đất này có “vấn đề” và đã âm thầm tìm hiểu.

Đến đầu năm 2013, ông N đã phát hiện ra rằng, toàn bộ 4ha đất mà ông Y Lê Na mua của ông Nguyễn Văn Hải vốn là rừng tự nhiên nằm trong tiểu khu 1119, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa. Dù không biết chính xác ai là người trực tiếp phá 4 ha rừng để chiếm dụng đất, nhưng ông N cũng thừa biết, việc Y Lê Na mua 4 ha cà phê với giá rẻ là hoàn toàn có “lý do”… Cái “lý do” đó lại càng được củng cố hơn, vì kể từ khi mua 4 ha rẫy cho tới nay, ông Y Lê Na vẫn “vô tư” sử dụng, canh tác mà không hề bị Công ty Đức Hòa hoặc cơ quan chức năng truy xét.

Một vụ mua bán đất rừng khác diễn ra vào năm 2013. Ông Hoàng Văn Đại, cán bộ văn phòng của Công ty Đức Hòa mua 0,5 ha đất của một người dân ở xã Đắk Môl chỉ với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất ông Đại mua cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, nằm trong tiểu khu 1112, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa.

Sau khi mua đất, ông Đại tiến hành trồng cà phê và một số cây trồng khác. Cũng vào năm 2013, ông Nguyễn Trường Nhật, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Đức Hòa, mua 0,5 đất của ông Bàn Văn Chẹ, trú tại xã Đắk Môl, với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất này cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1098, do Công ty Đức Hòa quản lý. Hiện nay, ông Nhật đã trồng cà phê và một số cây trồng khác trên diện tích đất này…

NHỮNG  “GÓC KHUẤT” CỦA VIỆC MUA BÁN ĐẤT RỪNG…

Trên thực tế, không phải đơn thuần mà nhiều cán bộ, nhân viên của Công ty Đức Hòa lại mua được đất rừng từ người dân với giá rẻ như vậy. Ông T.V.C, trú tại xã Đắk Môl, kể lại rằng, vào năm 2004, có một người dân trên địa bàn đã phá 0,7 ha rừng của Công ty Đức Hòa, rồi chiếm dụng và bán lại cho ông với giá 20 triệu đồng. Sau đó, gia đình ông C trồng mì và hoa màu trên diện tích đất đã mua.

Cuối năm 2004, có một nhân viên của Công ty Đức Hòa đến gặp và thông báo với ông C rằng, gia đình ông đã phá rừng, lấn chiếm của Công ty 0,7 ha đất. Do đó, để tránh việc bị truy cứu trách nhiệm, gia đình ông C phải tự nguyện trả lại đất cho Công ty Đức Hòa. Người này còn nhiều lần lấy danh nghĩa của Công ty Đức Hòa để đe dọa cưỡng chế thu hồi 0,7 ha đất của gia đình ông C. Thế nhưng, một thời gian sau, vị nhân viên này lại “xuống nước” và đề cập đến việc mua lại 0,7ha đất của ông C.

Điều đáng nói là vị nhân viên này chỉ đồng ý mua 0,7 ha đất với giá chỉ bằng một nửa so với giá mà ông C đã mua trước đó. Trước sức ép quá lớn như vậy, ông C buộc lòng phải bán lại 0,7 ha đất cho nhân viên Công ty Đức Hòa với giá chỉ có 10 triệu đồng.

Phóng viên Báo Đắk Nông tiếp cận với một số người đã từng bán đất rừng cho cán bộ, nhân viên Công ty Đức Hòa. Phần lớn họ đều khẳng định rằng, trong quá trình người dân phá rừng và lấn chiếm đất rừng, hầu như không hề có sự can thiệp của đơn vị chủ rừng. Thế nhưng, đến khi người dân đã “biến” rừng thành rẫy để canh tác thì lực lượng của Công ty Đức Hòa lại xuất hiện và đòi xử lý.

Đối với những khu vực rẫy có vị trí đẹp, thuận lợi để tưới tiêu thì được cán bộ Công ty Đức Hòa hỏi mua, nhưng với giá rất rẻ mạt. Mặc dù vậy, trước khi thực hiện việc mua bán, hầu hết người dân đều bị cán bộ của Công ty Đức Hòa đe nẹt, hù dọa sẽ thu hồi đất và xử lý về hành vi phá rừng, nên họ buộc phải bán đất rừng với giá rất thấp…

Theo ông Phạm Đình Dũng, Giám đốc Công ty Đức Hòa, bước đầu đã xác định được 12 cán bộ, nhân viên của công ty có sử dụng đất từ nguồn gốc phá rừng tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích hơn 12 ha. Trong số đó, có một số người đã mua đất từ trước khi vào làm việc tại Công ty Đức Hòa.

Riêng trường hợp ông Nguyễn Minh Thùy, cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa, năm 2010 đã tự ý khai phá 1,2 ha đất tại tiểu khu 1107 và hiện nay ông Thùy đã trồng cà phê. “Trong thời gian tới, Công ty Đức Hòa sẽ tiến hành xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp này và thu hồi những diện tích đất đã bị chiếm dụng”, ông Phạm Đình Dũng khẳng định.

Hơn 2.579 ha đất rừng bị chiếm dụng

Năm 2008, Công ty Đức Hòa được UBND tỉnh giao hơn 13.149 rừng và đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ. Trong số đó, có hơn 11.790 ha rừng tự nhiên và 98,25 ha rừng trồng. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên đã bị phá là hơn 2.641 ha. Sau khi phá rừng, người dân đã chiếm dụng hơn 2.579 ha để sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra, Công ty Đức Hòa cũng tự ý đem 17,2 ha đất lâm nghiệp giao khoán, liên kết với người dân để trồng cây nông nghiệp và thu phần trăm sản phẩm hàng năm.

Nguồn: Theo báo Đắk Nông:  http://www.baodaknong.org.vn/phap-luat/nhieu-can-bo-cong-ty-tnhh-mtv-lam-nghiep-duc-hoa-mua-ban-chiem-dung-dat-rung-47651.html

Hội nghị tham vấn và thử nghiệm khung giám sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD tại Quảng Bình

Tiếp theo sự thành công của hội nghị  ở Pleiku – Gia Lai về tham vấn khung giám sát hiệu quả quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ LTQD.  Ngày 18/07/2016 SEEDS-CIRD-CRN/FORLAND đã tổ chức một hội thảo tham vấn khác ở Đồng Hới, Quảng Bình.

Khác với đối tác của FORLAND ở Gia Lai là LHH, HĐND và UBMTTQ tỉnh, đối tác chính của FORLAND trong dự án này ở tỉnh Quảng Bình là Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh. Tại hội nghị, các bên liên quan cũng thảo luận về sự phối hợp giữa các bên liên quan trong triển khai hoạt động này tại tỉnh Quảng Bình.

Tại hội nghị, đại diện FORLAND đã trình bày Khung giám sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD. Sau đó các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến và thống nhất nội dung không giám sát.

Dự kiến việc triển khải bộ công cụ về khung giam sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD tại tỉnh Quảng Bình sẽ được thực hiện vào tháng 8/2016

Một số hình ảnh tại hội nghị:

HT QB 1 HT QB 2 HT QB

Nóng tình trạng phá rừng làm nương rẫy

Tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy của người dân tại Kon Tum vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu giảm.

Cây rừng bị người dân đốn hạ để lấy diện tích đất trồng cây.

Trong nhiều năm qua, những diện tích rừng phòng hộ ở Kon Tum đang bị xâm lấn nghiêm trọng. Dù ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp, tuy nhiên tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy của người dân vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu giảm.

Tan hoang những cánh rừng phòng hộ

Dọc tuyến quốc lộ 24, bắt đầu từ huyện Kon Rẫy xuôi Quảng Ngãi, hàng chục hecta rừng phòng hộ bị đốt, phá nham nhở. Bên cạnh màu xanh bát ngát của những cánh rừng tự nhiên là những mảng rừng đã bị chặt hạ, thay vào đó là màu xanh của sắn (mỳ), nhiều mảng rừng cây sắn mới chỉ nhú chồi.

Tại khu vực đèo Măng Đen, khu vực giáp ranh hai huyện Kon Rẫy và huyện Kon Plông những mảng rừng vừa mới bị đốt, phá còn nguyên những cây gỗ to cháy âm ỉ. Ghi nhận tại khu vực này, phóng viên TTXVN phát hiện, dù khu vực này ngành chức năng đã đóng biển “rừng phòng hộ đầu nguồn, cấm phát nương, làm rẫy”, nhưng phía sau những tấm biển này là những khu rừng bị cạo trọc. Thậm chí ở khu vực này đã được dựng lán trại kiên cố để phục vụ cho việc sản xuất. Nguy hiểm hơn, diện tích rừng bị đốt, phá nằm ngay đỉnh đèo Măng Đen- khu vực rất dễ xảy ra sạt lở nếu không có độ che phủ của rừng.

Ngoài khu vực hai bên quốc lộ 24, những diện tích rừng ở khu vực xã Hiếu giao cho chính quyền xã quản lý, khu vực dọc tuyến đường Đông Trường Sơn cũng đang bị người dân xâm lấn nghiêm trọng. Dọc theo tuyến đường Đông Trường Sơn đi xã Hiếu và về hướng huyện K’Bang rất dễ nhận thấy những mảng rừng bị chặt phá tan hoang, nhiều nơi những thân cây lớn có đường kính 30- 40cm vẫn còn nằm lăn lóc giữa những đám mì mới nhú chồi. Dù những diện tích rừng bị đốt phá chủ yếu nằm sát đường chính, dễ vận chuyển và thuận tiện đi lại cho bà con nhưng dường như lực lượng chức năng không có biện pháp để ngăn chặn ngay từ đầu. Vị vậy, những cách rừng phòng hộ ở khu vực này vẫn ngày đêm bị đốt, phá liên tục. Theo ngành chức năng, từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn của xã Hiếu, khu vực rừng do Lâm trường Măng La quản lý đã xảy ra 12 vụ đốt, phá rừng làm nương rẫy, thiệt hại hơn 3 ha rừng.

Bên cạnh tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy do nhu cầu sử dụng đất, giá nông sản tăng cao thì những Dự án thủy điện chính là tác nhân của tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Sự việc hàng chục người dân ở thôn Kon Pling, Kon Piêng của xã Hiếu phá rừng làm nương rẫy chính là xuất phát từ việc bị thu hồi đất để phục vụ cho Dự án thủy điện Đăk Re.

Khó ngăn chặn, xử lý tình trạng phá rừng làm nương rẫy

Trước tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra phổ biến, nhiều đơn vị quản lý rừng xử lý hàng chục vụ phá rừng làm nương rẫy, trong khi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum lại chỉ nắm được 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích 0,1ha xảy ra tại huyện Tu Mơ Rông. Có thể thấy, chính sự quản lý hời hợt, lỏng lẻo, thiếu quyết liệt khiến những cánh rừng ở tỉnh Kon Tum vẫn ngày đêm bị xâm lấn. Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum lí giải: Công tác quản lý rừng gặp nhiều khó khăn do diện tích rừng rộng, lực lượng bảo vệ của chủ rừng, chính quyền địa phương và lực lượng Kiểm lâm mỏng nên khó khăn trong phát hiện, ngăn chặn. Hai nữa đối tượng vi phạm là người đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn nên không thể xử phạt nghiêm, vì vậy thiếu tính răn đe, giáo dục và thuyết phục.

Hàng loạt cây bị đốn trụi.

Còn theo ông Vũ Văn Bắc, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kon Plông thì cho rằng: Tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra trong thời gian qua một mặt do áp lực về đất sản xuất, cụ thể là ở thôn 7 – Kon Pling, thôn 8 – Kon Piêng do bà con bị thu hồi đất phục vụ cho Dự án thủy điện Đăk Re. Mặc khác, do những diện tích rừng thuộc Lâm trường Măng La quản lý không có kinh phí nên không giao khoán được cho người dân bảo vệ. Chính điều này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị. Những diện tích rừng nào có kinh phí thực hiện giao khoán cho người dân thì được bảo vệ rất tốt, ngược lại những diện tích rừng nào không giao khoán thì lại bị người dân ngang nhiên xâm lấn.

Về mặt chính quyền địa phương, ông Phan Thế Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Hiếu, huyện Kon Plông khẳng định: Trong thời gian vừa qua, các rẫy ở sát quốc lộ đa phần là rẫy cũ, còn phát mới thì có nhưng ít. Địa bàn đa số là rừng, nhưng nhu cầu đất của bà con lớn, bà con canh tác lại theo phong tục du canh du cư nên khó quản lý.

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện còn rất ít rừng, hiện nay chỉ còn những huyện như Kon Plông, Đăk Glei, Sa Thầy có độ che phủ của rừng lớn. Tuy nhiên, trong thời gian qua những diện tích rừng còn lại đang bị người dân, “lâm tặc” xâm lấn nghiêm trọng. Để bảo vệ những diện tích rừng còn lại cần sự vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng để những cánh rừng còn lại sẽ mãi xanh tươi.

Bài, ảnh: Quang Thái

Nhức nhối đất nông lâm trường

Ủy ban KH-CN và môi trường, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam và Liên minh Đất rừng vừa tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

3-13-43-42_nh-1Nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận tại hội thảo

Thực trạng ngổn ngang Báo cáo của Tổng cục Đất đai (Bộ TN-MT) cho thấy, hệ thống các nông lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành từ năm 1955 – 1958, trải qua nhiều chủ trương sắp xếp, đổi mới đến nay trên cả nước có 653 Cty nông, lâm nghiệp, BQL rừng, khu bảo tồn, VQG đang quản lý và sử dụng gần 8 triệu ha đất. Trong đó 642 nông lâm trường đã được nhà nước thực hiện thủ tục giao đất cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đất đai Nguyễn Văn Chiến, tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông lâm trường hiện là một trong những vấn đề nóng nhất. Hiện cả nước có 54 nông lâm trường, BQL rừng đang diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.000 ha. Ngoài ra, có 76 nông, lâm trường, BQL rừng bị lấn chiếm với diện tích xấp xỉ 60.000 ha.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), ông La Văn Thịnh chỉ ra rằng, trong số 642 nông lâm trường đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha (chiếm 95,0% tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) thì có 526 nông lâm trường được giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích hơn 7,1 triệu ha, chiếm 89,1%, bao gồm: 284 BQL, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý diện tích trên 5,1 triệu ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện SX kinh doanh). Diện tích này theo quy định của pháp luật từ 2004 – 2014 thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Trên thực tế, không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích này là cần thiết, đúng quy định của pháp luật và đúng yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.Hiện phần lớn nông lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, chỉ có một số DN cao su, cà phê làm ăn có lãi, do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các đơn vị cũng đang vướng phải tồn đọng rất lớn.

Tiếp theo, có 242 nông lâm trường quản lý diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, song chưa thực hiện, vì vậy chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định.

Kế đến, có 112 nông lâm trường chuyển sang thuê đất với diện tích 472.709 ha; có 4 nông lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 2.029 ha (chiếm 0,03%) là có thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà nước.

Hiến kế tái cơ cấu

Đóng góp giải pháp để quản lý hiệu quả hơn nữa đất nông lâm trường quốc doanh, lãnh đạo Cty TNHH MTV Cao su Chư Păh (Gia Lai) cho rằng, cần phải có một quy hoạch tổng thể trong việc sử dụng đất của các loại cây trồng, vật nuôi….

3.2Cần có giải pháp giải quyết tận gốc rễ vấn đề đất tại các nông lâm trường quốc doanh

Trong đó, quy hoạch các loại hình SX cho các cây trồng và sau khi đã xác định tính khoa học, tính thực tiễn thì phải tuân thủ. Đặc biệt, phải coi hành vi phá vỡ quy hoạch là một việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.

Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý của Bộ, ngành chủ quản để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. Nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để SX kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không thì dứt khoát phải giao cho DN SX, kinh doanh...

Đặc biệt, khi đã giao đất cho một tổ chức kinh tế nào thì phải ổn định trong thời gian dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung vì lý do này, lý do kia. Trừ trường hợp các công trình trọng điểm quốc gia như đường điện, sân bay, bến bãi hoặc những công trình trọng điểm khác… Ngoài ra, cần tăng cường sự quản lý nhà nước đối với việc quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất. Tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ” hoặc sử dụng không hợp lý kéo dài. Lãnh đạo Cty CP Chè Sông Lô (Tuyên Quang) kiến nghị Bộ, ngành Trung ương sớm có văn bản hướng dẫn xử lý những vướng mắc trong việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng SX và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 04/10/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Có chính sách miễn tiền thuê đất cho các DN SX trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện để người lao động trong DN được hưởng chính sách như người nông dân. Riêng với tỉnh Tuyên Quang, lãnh đạo Cty Chè Sông Lô đề nghị cho phép các DN SX trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục rà soát thanh lý những vườn cây thuộc nguồn vốn tài sản của Nhà nước có năng suất thấp, để DN cùng các hộ nhận khoán trồng lại bằng các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho DN được vay vốn để phát triển các loại cây trồng thích hợp, nhất là vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ lãi suất 2 năm đầu cho DN. Đồng tình quan điểm trên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Phùng Đức Tiến cho rằng, để loại bỏ tận gốc rễ những tồn tại, bất cập về đất đai nông lâm trường, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê, đồng thời tổng kết các mô hình SX kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN, phát triển theo chuỗi giá trị…

“Các nông lâm trường đang gặp khó khăn về vốn đầu tư SX, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vì thế cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển SX… để khuyến khích DN đầu tư trong lĩnh vực này”, ông Tiến đề xuất….

Nguyên Huân/nongnghiep.vn