Category Archives: Vận động chính sách Nông lâm trường quốc doanh

Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng

Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ thầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.

Đây là Quyết định, nhằm cụ thể hóa cho khoản 2 Điều 1 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính Phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

Theo Quyết định này, các hoạt động về sản xuất nông lâm nghiệp như khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất, trồng rừng gỗ lớn… sẽ được hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đặc biệt là tại một số tỉnh biên giới phía Bắc và vùng Tây Nguyên

Chi tiết xem tại: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/quyet-dinh/quyet-dinh-so-38-2016-qd-ttg-ngay-14-9-2016-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-viec-ban-hanh-mot-so-chinh-sach-bao-ve-phat-trien-rung-va-dau-tu-ho-tro-ket-cau-a3141

Thí điểm giam sát việc quản lý sử dụng đất có nguồn gốc từ NLTQD tại Quảng Bình

Trong hai ngày 12-13. 9. 2016, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đã thực hiện hoạt động giám sát việc quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các LTQD theo Nghị quyết 112 của Quốc hội tại 2 xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh), Xuân Trạch (huyện Bố Trạch), và 2 CT Lâm Công nghiệp trong tỉnh là Long Đại và Bắc Quảng Bình.

Hoạt động này được phối hợp thực hiện giữa Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình và FORLAND, trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy tiến trình giám sát việc thu hồi và sử dụng quỹ đất lâm nghiệp được giao lại từ nông lâm trường quốc doanh cho người dân địa phương”

Trong suốt tiến trình thực hiện giám sát thí điểm tại công ty Lâm Công nghiệp Long Đại và công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, các đại biểu đã thảo luận/ chia sẻ nhiều vấn đề gặp phải trong quá trình rà soát, sắp xếp và bàn giao và sử dụng quỹ đất từ 02 công ty lâm công nghiệp, như: khó khăn về tài chính thực hiện, thiếu sự tham gia, phương án thực hiện thiếu khả thi, quỹ đất bàn giao khó/không thể sử dụng sản xuất được…

Một vài hình ảnh của đoàn ai-ve-nltqd-1 ai-ve-nltqd-2

FORLAND

Tuyên Quang: Sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp

TQĐT – Ngày 26-5-2016, UBND tỉnh đã ra các Quyết định số 160, 162, 163, 164, 165/QĐ-UBND phê duyệt cho 4 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương xây dựng phương án chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thời gian thực hiện năm 2016 – 2017; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2016 – 2017.

Qua đánh giá của tổ chức FCS (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cuối tháng 5 vừa qua, cả 5 công ty lâm nghiệp này đều đủ điều kiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với diện tích được cấp trên 11.000 ha và sẽ được cấp chứng chỉ vào tháng 9 năm nay.


Công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Sơn chăm sóc keo giống.

Tuy nhiên theo các công ty lâm nghiệp, trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, các đơn vị cũng đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công ty chưa được đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, dễ phát sinh tranh chấp và gây vướng mắc cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp. Việc xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty gặp nhiều khó khăn vì bản thân các công ty khó xác định được giá trị tài sản hiện có đảm bảo theo đúng yêu cầu. Việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính cũng vướng mắc, do hiện tại các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới lại chưa được thực hiện. Thêm vào đó, chi phí để sắp xếp, chuyển đổi theo quy định không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay; việc giải quyết diện tích đất bị lấn chiếm còn nhiều khó khăn.

Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương chia sẻ, đề án sắp xếp đổi mới công ty đã được phê duyệt từ cuối tháng 5, tuy nhiên, hiện đơn vị đang gặp một số khó khăn như chưa hoàn thành đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa; chưa hoàn thành kiểm kê từng lô rừng để xác định giá trị kinh tế… Đơn vị xác định từ nay đến hết năm, phần việc còn lại là rất nhiều, nhưng đơn vị sẽ dốc sức, tập trung hoàn thành các phần việc theo quy định.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình được giao quản lý 1.850,2 ha đất lâm nghiệp. Sau khi được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty đã xác định được ranh giới đất giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các hộ dân, thuận lợi cho việc xử lý các trường hợp lấn chiếm đất đai, tài nguyên rừng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty đã tổ chức khoán liên doanh trồng rừng sản xuất trên diện tích đất công ty được giao, được thuê với cán bộ, công nhân của công ty và người dân trên địa bàn với diện tích 1.253,6 ha. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng sản xuất đã gắn được quyền lợi và trách nhiệm của công ty với người lao động đến sản phẩm cuối cùng. Sản lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao, rừng đã có chủ thực sự, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng trồng được hạn chế tối đa. Bắt tay vào sắp xếp, đổi mới, công ty lựa chọn phương án sắp xếp, đổi mới thuộc loại hình 2 thành viên trở lên, vì mô hình này phù hợp với điều kiện thực tế cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân đang làm việc tại Công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển chế biến và thị trường; đảm bảo quyền lợi của người lao động; huy động được nguồn vốn đầu tư của tập thể, cá nhân cùng góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Hiện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã chốt phương án về ngành nghề sản xuất kinh doanh, đất đai, quản lý sử dụng rừng, vốn, lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thị trường và tổ chức bộ máy.

Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình – anh Nguyễn Hồng Thái cho biết, một trong những mục tiêu quan trọng của công ty trong thời gian tới là xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với diện tích đất được giao, được thuê. Trong đó, Tuyên Bình lựa chọn loài cây keo là cây trồng chính, tập trung vào giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và phương pháp nuôi cấy mô để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, hiệu quả kinh tế cao hơn. Phấn đấu đến 2020, diện tích keo lai chiếm 80% diện tích rừng của công ty. Đồng thời, đơn vị phấn đấu cấp chứng chỉ rừng cho khoảng 1.000 ha và xây dựng diện tích này vào kinh doanh cây gỗ lớn kết hợp kinh doanh gỗ nguyên liệu.

Sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn then chốt. Quan trọng nhất, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xác định được mục tiêu trọng tâm là tăng giá trị, tăng thu nhập từ việc quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng, từ đó tạo bước chuyển về chất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguồn: Báo Tuyên Quang: http://www.baotuyenquang.com.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/sap-xep-doi-moi-cac-cong-ty-lam-nghiep-70417.html

Để xảy ra phá rừng, giám đốc nông trường bị kỷ luật cảnh cáo

(Chinhphu.vn) – UBND tỉnh Kon Tum vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo. Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Kon Tum cho biết TTXVN biết, UBND tỉnh vừa có quyết định kỷ luật đối với ông Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei.

Hình thức kỷ luật là cảnh cáo, tương đương với hình thức kỷ luật về mặt đảng mà Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đăk Glei đã ra quyết định vì để xảy ra phá rừng tại doanh nghiệp nơi ông Hải làm lãnh đạo.

Đây là cá nhân thứ 4 bị kỷ luật sau khi để xảy ra vụ phá rừng tại Đăk Glei.

Trước đó, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Glei đã ra quyết định kỷ luật cách chức ông Nguyễn Thanh Thủy, Giám đốc Lâm trường Đăk Ba; kỷ luật ông A Tim, Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xã Đăk Roong với hình thức kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng; khiển trách ông Vũ Văn Hợp, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 107; khiển trách ông Đinh Văn Đức, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 120.

Trước đó, vào khoảng giữa tháng 6, tại vị trí nói trên đã xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép được báo chí phản ánh. Sau bài viết, Văn phòng Chính phủ đã có 2 văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra, làm rõ và báo cáo Thủ tướng trước ngày 20/7.

Theo đó, ngành chức năng tỉnh Kon Tum đã đi kiểm tra, phát hiện có 6 cây gỗ bị chặt với khối lượng hơn 7,8 m3; thu giữ 5 xe máy độ chế, 0,2 m3 gỗ, đồng thời xác định được 5 đối tượng vận chuyển gỗ trú ở xã Đăk Kroong.

Sau khi các đối tượng bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính các đối tượng này.

Nguồn: theo báo điện tử Chính Phủ (baochinhphu.vn): http://baochinhphu.vn/Phap-luat/De-xay-ra-pha-rung-giam-doc-nong-truong-bi-ky-luat-canh-cao/283908.vgp

Nhiều cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa mua bán, chiếm dụng đất rừng

Thông qua “động tác” mua bán với người dân, nhiều cán bộ thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Đắk Song) đã chuyển đất rừng thành đất của riêng mình.

NHỮNG VỤ MUA ĐẤT RỪNG VỚI GIÁ RẺ MẠT…

Thời gian qua, dư luận trên địa bàn xã Đắk Môl (Đắk Song) xôn xao về việc có nhiều cán bộ, nhân viên thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (gọi tắt là Công ty Đức Hòa) “bảo kê” cho người dân phá rừng, lấn chiếm đất rồi mua lại chính diện tích đất đó với giá rất rẻ.

Đất rẫy cà phê của ông Hoàng Văn Đại có nguồn gốc từ rừng tự nhiên do Công ty Đức Hòa quản lý

Từ luồng dư luận trên, phóng viên Báo Đắk Nông đã vào cuộc tìm hiểu và nắm bắt được nhiều câu chuyện về việc mua bán đất rừng của cán bộ Công ty Đức Hòa. Câu chuyện được ông N.H.N, một cựu chiến binh sống tại xã Đắk Môl, cung cấp.

Theo ông N, năm 2010, gia đình ông Nguyễn Văn Hải, trú tại xã Đắk Hòa (Đắk Song) sở hữu 4 ha đất ở khá gần với khu dân cư. Sau đó, gia đình ông Hải tiến hành trồng cà phê trên diện tích đất này. Đến năm 2012, cà phê đã phát triển rất đẹp và bắt đầu cho thu hoạch. Theo giá thị trường vào thời điểm đó, 4 ha cà phê của gia đình ông Hải có giá khoảng 1 tỷ đồng.

Thế nhưng, không hiểu vì sao mà cuối năm 2012, gia đình ông Hải đã đột ngột chuyển nhượng toàn bộ 4 ha cà phê cho ông Y Lê Na, cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty Đức Hòa, chỉ với giá 500 triệu đồng. Là một cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm, nên ông N cảm nhận được phi vụ mua bán đất này có “vấn đề” và đã âm thầm tìm hiểu.

Đến đầu năm 2013, ông N đã phát hiện ra rằng, toàn bộ 4ha đất mà ông Y Lê Na mua của ông Nguyễn Văn Hải vốn là rừng tự nhiên nằm trong tiểu khu 1119, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa. Dù không biết chính xác ai là người trực tiếp phá 4 ha rừng để chiếm dụng đất, nhưng ông N cũng thừa biết, việc Y Lê Na mua 4 ha cà phê với giá rẻ là hoàn toàn có “lý do”… Cái “lý do” đó lại càng được củng cố hơn, vì kể từ khi mua 4 ha rẫy cho tới nay, ông Y Lê Na vẫn “vô tư” sử dụng, canh tác mà không hề bị Công ty Đức Hòa hoặc cơ quan chức năng truy xét.

Một vụ mua bán đất rừng khác diễn ra vào năm 2013. Ông Hoàng Văn Đại, cán bộ văn phòng của Công ty Đức Hòa mua 0,5 ha đất của một người dân ở xã Đắk Môl chỉ với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất ông Đại mua cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, nằm trong tiểu khu 1112, thuộc lâm phần của Công ty Đức Hòa.

Sau khi mua đất, ông Đại tiến hành trồng cà phê và một số cây trồng khác. Cũng vào năm 2013, ông Nguyễn Trường Nhật, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Đức Hòa, mua 0,5 đất của ông Bàn Văn Chẹ, trú tại xã Đắk Môl, với giá 3 triệu đồng. Diện tích đất này cũng có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1098, do Công ty Đức Hòa quản lý. Hiện nay, ông Nhật đã trồng cà phê và một số cây trồng khác trên diện tích đất này…

NHỮNG  “GÓC KHUẤT” CỦA VIỆC MUA BÁN ĐẤT RỪNG…

Trên thực tế, không phải đơn thuần mà nhiều cán bộ, nhân viên của Công ty Đức Hòa lại mua được đất rừng từ người dân với giá rẻ như vậy. Ông T.V.C, trú tại xã Đắk Môl, kể lại rằng, vào năm 2004, có một người dân trên địa bàn đã phá 0,7 ha rừng của Công ty Đức Hòa, rồi chiếm dụng và bán lại cho ông với giá 20 triệu đồng. Sau đó, gia đình ông C trồng mì và hoa màu trên diện tích đất đã mua.

Cuối năm 2004, có một nhân viên của Công ty Đức Hòa đến gặp và thông báo với ông C rằng, gia đình ông đã phá rừng, lấn chiếm của Công ty 0,7 ha đất. Do đó, để tránh việc bị truy cứu trách nhiệm, gia đình ông C phải tự nguyện trả lại đất cho Công ty Đức Hòa. Người này còn nhiều lần lấy danh nghĩa của Công ty Đức Hòa để đe dọa cưỡng chế thu hồi 0,7 ha đất của gia đình ông C. Thế nhưng, một thời gian sau, vị nhân viên này lại “xuống nước” và đề cập đến việc mua lại 0,7ha đất của ông C.

Điều đáng nói là vị nhân viên này chỉ đồng ý mua 0,7 ha đất với giá chỉ bằng một nửa so với giá mà ông C đã mua trước đó. Trước sức ép quá lớn như vậy, ông C buộc lòng phải bán lại 0,7 ha đất cho nhân viên Công ty Đức Hòa với giá chỉ có 10 triệu đồng.

Phóng viên Báo Đắk Nông tiếp cận với một số người đã từng bán đất rừng cho cán bộ, nhân viên Công ty Đức Hòa. Phần lớn họ đều khẳng định rằng, trong quá trình người dân phá rừng và lấn chiếm đất rừng, hầu như không hề có sự can thiệp của đơn vị chủ rừng. Thế nhưng, đến khi người dân đã “biến” rừng thành rẫy để canh tác thì lực lượng của Công ty Đức Hòa lại xuất hiện và đòi xử lý.

Đối với những khu vực rẫy có vị trí đẹp, thuận lợi để tưới tiêu thì được cán bộ Công ty Đức Hòa hỏi mua, nhưng với giá rất rẻ mạt. Mặc dù vậy, trước khi thực hiện việc mua bán, hầu hết người dân đều bị cán bộ của Công ty Đức Hòa đe nẹt, hù dọa sẽ thu hồi đất và xử lý về hành vi phá rừng, nên họ buộc phải bán đất rừng với giá rất thấp…

Theo ông Phạm Đình Dũng, Giám đốc Công ty Đức Hòa, bước đầu đã xác định được 12 cán bộ, nhân viên của công ty có sử dụng đất từ nguồn gốc phá rừng tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích hơn 12 ha. Trong số đó, có một số người đã mua đất từ trước khi vào làm việc tại Công ty Đức Hòa.

Riêng trường hợp ông Nguyễn Minh Thùy, cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa, năm 2010 đã tự ý khai phá 1,2 ha đất tại tiểu khu 1107 và hiện nay ông Thùy đã trồng cà phê. “Trong thời gian tới, Công ty Đức Hòa sẽ tiến hành xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp này và thu hồi những diện tích đất đã bị chiếm dụng”, ông Phạm Đình Dũng khẳng định.

Hơn 2.579 ha đất rừng bị chiếm dụng

Năm 2008, Công ty Đức Hòa được UBND tỉnh giao hơn 13.149 rừng và đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ. Trong số đó, có hơn 11.790 ha rừng tự nhiên và 98,25 ha rừng trồng. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên đã bị phá là hơn 2.641 ha. Sau khi phá rừng, người dân đã chiếm dụng hơn 2.579 ha để sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra, Công ty Đức Hòa cũng tự ý đem 17,2 ha đất lâm nghiệp giao khoán, liên kết với người dân để trồng cây nông nghiệp và thu phần trăm sản phẩm hàng năm.

Nguồn: Theo báo Đắk Nông:  http://www.baodaknong.org.vn/phap-luat/nhieu-can-bo-cong-ty-tnhh-mtv-lam-nghiep-duc-hoa-mua-ban-chiem-dung-dat-rung-47651.html

Hội nghị tham vấn và thử nghiệm khung giám sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD tại Quảng Bình

Tiếp theo sự thành công của hội nghị  ở Pleiku – Gia Lai về tham vấn khung giám sát hiệu quả quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ LTQD.  Ngày 18/07/2016 SEEDS-CIRD-CRN/FORLAND đã tổ chức một hội thảo tham vấn khác ở Đồng Hới, Quảng Bình.

Khác với đối tác của FORLAND ở Gia Lai là LHH, HĐND và UBMTTQ tỉnh, đối tác chính của FORLAND trong dự án này ở tỉnh Quảng Bình là Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh. Tại hội nghị, các bên liên quan cũng thảo luận về sự phối hợp giữa các bên liên quan trong triển khai hoạt động này tại tỉnh Quảng Bình.

Tại hội nghị, đại diện FORLAND đã trình bày Khung giám sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD. Sau đó các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến và thống nhất nội dung không giám sát.

Dự kiến việc triển khải bộ công cụ về khung giam sát quản lý sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD tại tỉnh Quảng Bình sẽ được thực hiện vào tháng 8/2016

Một số hình ảnh tại hội nghị:

HT QB 1 HT QB 2 HT QB

Nóng tình trạng phá rừng làm nương rẫy

Tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy của người dân tại Kon Tum vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu giảm.

Cây rừng bị người dân đốn hạ để lấy diện tích đất trồng cây.

Trong nhiều năm qua, những diện tích rừng phòng hộ ở Kon Tum đang bị xâm lấn nghiêm trọng. Dù ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp, tuy nhiên tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy của người dân vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu giảm.

Tan hoang những cánh rừng phòng hộ

Dọc tuyến quốc lộ 24, bắt đầu từ huyện Kon Rẫy xuôi Quảng Ngãi, hàng chục hecta rừng phòng hộ bị đốt, phá nham nhở. Bên cạnh màu xanh bát ngát của những cánh rừng tự nhiên là những mảng rừng đã bị chặt hạ, thay vào đó là màu xanh của sắn (mỳ), nhiều mảng rừng cây sắn mới chỉ nhú chồi.

Tại khu vực đèo Măng Đen, khu vực giáp ranh hai huyện Kon Rẫy và huyện Kon Plông những mảng rừng vừa mới bị đốt, phá còn nguyên những cây gỗ to cháy âm ỉ. Ghi nhận tại khu vực này, phóng viên TTXVN phát hiện, dù khu vực này ngành chức năng đã đóng biển “rừng phòng hộ đầu nguồn, cấm phát nương, làm rẫy”, nhưng phía sau những tấm biển này là những khu rừng bị cạo trọc. Thậm chí ở khu vực này đã được dựng lán trại kiên cố để phục vụ cho việc sản xuất. Nguy hiểm hơn, diện tích rừng bị đốt, phá nằm ngay đỉnh đèo Măng Đen- khu vực rất dễ xảy ra sạt lở nếu không có độ che phủ của rừng.

Ngoài khu vực hai bên quốc lộ 24, những diện tích rừng ở khu vực xã Hiếu giao cho chính quyền xã quản lý, khu vực dọc tuyến đường Đông Trường Sơn cũng đang bị người dân xâm lấn nghiêm trọng. Dọc theo tuyến đường Đông Trường Sơn đi xã Hiếu và về hướng huyện K’Bang rất dễ nhận thấy những mảng rừng bị chặt phá tan hoang, nhiều nơi những thân cây lớn có đường kính 30- 40cm vẫn còn nằm lăn lóc giữa những đám mì mới nhú chồi. Dù những diện tích rừng bị đốt phá chủ yếu nằm sát đường chính, dễ vận chuyển và thuận tiện đi lại cho bà con nhưng dường như lực lượng chức năng không có biện pháp để ngăn chặn ngay từ đầu. Vị vậy, những cách rừng phòng hộ ở khu vực này vẫn ngày đêm bị đốt, phá liên tục. Theo ngành chức năng, từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn của xã Hiếu, khu vực rừng do Lâm trường Măng La quản lý đã xảy ra 12 vụ đốt, phá rừng làm nương rẫy, thiệt hại hơn 3 ha rừng.

Bên cạnh tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy do nhu cầu sử dụng đất, giá nông sản tăng cao thì những Dự án thủy điện chính là tác nhân của tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Sự việc hàng chục người dân ở thôn Kon Pling, Kon Piêng của xã Hiếu phá rừng làm nương rẫy chính là xuất phát từ việc bị thu hồi đất để phục vụ cho Dự án thủy điện Đăk Re.

Khó ngăn chặn, xử lý tình trạng phá rừng làm nương rẫy

Trước tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra phổ biến, nhiều đơn vị quản lý rừng xử lý hàng chục vụ phá rừng làm nương rẫy, trong khi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum lại chỉ nắm được 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích 0,1ha xảy ra tại huyện Tu Mơ Rông. Có thể thấy, chính sự quản lý hời hợt, lỏng lẻo, thiếu quyết liệt khiến những cánh rừng ở tỉnh Kon Tum vẫn ngày đêm bị xâm lấn. Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum lí giải: Công tác quản lý rừng gặp nhiều khó khăn do diện tích rừng rộng, lực lượng bảo vệ của chủ rừng, chính quyền địa phương và lực lượng Kiểm lâm mỏng nên khó khăn trong phát hiện, ngăn chặn. Hai nữa đối tượng vi phạm là người đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn nên không thể xử phạt nghiêm, vì vậy thiếu tính răn đe, giáo dục và thuyết phục.

Hàng loạt cây bị đốn trụi.

Còn theo ông Vũ Văn Bắc, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Kon Plông thì cho rằng: Tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra trong thời gian qua một mặt do áp lực về đất sản xuất, cụ thể là ở thôn 7 – Kon Pling, thôn 8 – Kon Piêng do bà con bị thu hồi đất phục vụ cho Dự án thủy điện Đăk Re. Mặc khác, do những diện tích rừng thuộc Lâm trường Măng La quản lý không có kinh phí nên không giao khoán được cho người dân bảo vệ. Chính điều này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị. Những diện tích rừng nào có kinh phí thực hiện giao khoán cho người dân thì được bảo vệ rất tốt, ngược lại những diện tích rừng nào không giao khoán thì lại bị người dân ngang nhiên xâm lấn.

Về mặt chính quyền địa phương, ông Phan Thế Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Hiếu, huyện Kon Plông khẳng định: Trong thời gian vừa qua, các rẫy ở sát quốc lộ đa phần là rẫy cũ, còn phát mới thì có nhưng ít. Địa bàn đa số là rừng, nhưng nhu cầu đất của bà con lớn, bà con canh tác lại theo phong tục du canh du cư nên khó quản lý.

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện còn rất ít rừng, hiện nay chỉ còn những huyện như Kon Plông, Đăk Glei, Sa Thầy có độ che phủ của rừng lớn. Tuy nhiên, trong thời gian qua những diện tích rừng còn lại đang bị người dân, “lâm tặc” xâm lấn nghiêm trọng. Để bảo vệ những diện tích rừng còn lại cần sự vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng để những cánh rừng còn lại sẽ mãi xanh tươi.

Bài, ảnh: Quang Thái

Nhức nhối đất nông lâm trường

Ủy ban KH-CN và môi trường, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam và Liên minh Đất rừng vừa tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

3-13-43-42_nh-1Nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận tại hội thảo

Thực trạng ngổn ngang Báo cáo của Tổng cục Đất đai (Bộ TN-MT) cho thấy, hệ thống các nông lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành từ năm 1955 – 1958, trải qua nhiều chủ trương sắp xếp, đổi mới đến nay trên cả nước có 653 Cty nông, lâm nghiệp, BQL rừng, khu bảo tồn, VQG đang quản lý và sử dụng gần 8 triệu ha đất. Trong đó 642 nông lâm trường đã được nhà nước thực hiện thủ tục giao đất cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đất đai Nguyễn Văn Chiến, tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông lâm trường hiện là một trong những vấn đề nóng nhất. Hiện cả nước có 54 nông lâm trường, BQL rừng đang diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.000 ha. Ngoài ra, có 76 nông, lâm trường, BQL rừng bị lấn chiếm với diện tích xấp xỉ 60.000 ha.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), ông La Văn Thịnh chỉ ra rằng, trong số 642 nông lâm trường đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha (chiếm 95,0% tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) thì có 526 nông lâm trường được giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích hơn 7,1 triệu ha, chiếm 89,1%, bao gồm: 284 BQL, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý diện tích trên 5,1 triệu ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện SX kinh doanh). Diện tích này theo quy định của pháp luật từ 2004 – 2014 thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Trên thực tế, không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích này là cần thiết, đúng quy định của pháp luật và đúng yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.Hiện phần lớn nông lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, chỉ có một số DN cao su, cà phê làm ăn có lãi, do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các đơn vị cũng đang vướng phải tồn đọng rất lớn.

Tiếp theo, có 242 nông lâm trường quản lý diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, song chưa thực hiện, vì vậy chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định.

Kế đến, có 112 nông lâm trường chuyển sang thuê đất với diện tích 472.709 ha; có 4 nông lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 2.029 ha (chiếm 0,03%) là có thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà nước.

Hiến kế tái cơ cấu

Đóng góp giải pháp để quản lý hiệu quả hơn nữa đất nông lâm trường quốc doanh, lãnh đạo Cty TNHH MTV Cao su Chư Păh (Gia Lai) cho rằng, cần phải có một quy hoạch tổng thể trong việc sử dụng đất của các loại cây trồng, vật nuôi….

3.2Cần có giải pháp giải quyết tận gốc rễ vấn đề đất tại các nông lâm trường quốc doanh

Trong đó, quy hoạch các loại hình SX cho các cây trồng và sau khi đã xác định tính khoa học, tính thực tiễn thì phải tuân thủ. Đặc biệt, phải coi hành vi phá vỡ quy hoạch là một việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.

Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý của Bộ, ngành chủ quản để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. Nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để SX kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không thì dứt khoát phải giao cho DN SX, kinh doanh...

Đặc biệt, khi đã giao đất cho một tổ chức kinh tế nào thì phải ổn định trong thời gian dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung vì lý do này, lý do kia. Trừ trường hợp các công trình trọng điểm quốc gia như đường điện, sân bay, bến bãi hoặc những công trình trọng điểm khác… Ngoài ra, cần tăng cường sự quản lý nhà nước đối với việc quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất. Tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ” hoặc sử dụng không hợp lý kéo dài. Lãnh đạo Cty CP Chè Sông Lô (Tuyên Quang) kiến nghị Bộ, ngành Trung ương sớm có văn bản hướng dẫn xử lý những vướng mắc trong việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng SX và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 04/10/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Có chính sách miễn tiền thuê đất cho các DN SX trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện để người lao động trong DN được hưởng chính sách như người nông dân. Riêng với tỉnh Tuyên Quang, lãnh đạo Cty Chè Sông Lô đề nghị cho phép các DN SX trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục rà soát thanh lý những vườn cây thuộc nguồn vốn tài sản của Nhà nước có năng suất thấp, để DN cùng các hộ nhận khoán trồng lại bằng các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho DN được vay vốn để phát triển các loại cây trồng thích hợp, nhất là vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ lãi suất 2 năm đầu cho DN. Đồng tình quan điểm trên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Phùng Đức Tiến cho rằng, để loại bỏ tận gốc rễ những tồn tại, bất cập về đất đai nông lâm trường, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê, đồng thời tổng kết các mô hình SX kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN, phát triển theo chuỗi giá trị…

“Các nông lâm trường đang gặp khó khăn về vốn đầu tư SX, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vì thế cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển SX… để khuyến khích DN đầu tư trong lĩnh vực này”, ông Tiến đề xuất….

Nguyên Huân/nongnghiep.vn

Chính quyền địa phương chưa phát huy vai trò trung gian

Trong việc giải quyết mâu thuẫn đất đai của doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh với người dân, chính quyền địa phương cấp huyện, xã nắm giữ vai trò quan trọng, là trung gian trong việc giải quyết mâu thuẫn tranh chấp. Tuy nhiên, việc nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc này còn gặp nhiều rào cản.

Trên thực tế, chính quyền địa phương cấp huyện, xã vẫn chưa thể làm tốt vai trò của mình. Các nông lâm trường được khoán trắng đất nên đã tự đưa ra các chính sách và tự sản xuất, mà không có sự tham gia, góp ý, quản lý của chính quyền địa phương. Khi xảy ra mâu thuẫn giữa các nông lâm trường và người dân thì Ủy ban nhân dân xã để hai bên tự giải quyết, như vậy đã thiếu đi phương pháp tiếp cận, và sự tham gia của các bên liên quan. “Vai trò của các tổ chức chính trị xã hội để giải quyết mâu thuẫn là không có, dẫn tới mâu thuẫn kéo dài, không xử lý được cuối cùng là khiếu kiện vượt cấp và thậm chí có liên quan đến hình sự”, ông Ngô Văn Hồng – Forland Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cho biết.

[07/07/2015 09:45:30]  T?i huy?n mi?n núi Ð?ng Xuân, t?nh Phú Yên dang x?y ra tình tr?ng l?i d?ng vi?c tr?ng r?ng s?n xu?t d? phá r?ng nhung chua du?c các co quan ch?c nang cung nhu chính quy?n d?a phuong ki?m tra, x? lý. Theo ngu?i dân d?a phuong, l?i d?ng vi?c phát d?n th?c bì, r?ng có nhi?u cây g? du?ng kính t? 20 cm tr? lên dã b? ch?t phá trái phép r?i v?n chuy?n ra ngoài t?nh; s? g? còn l?i ph?n l?n là cành, nhánh v?i kh?i lu?ng ít nh?t 200 m3 du?c t?p k?t t?i hai bãi g? n?m sát tr?c du?ng giao thông thu?c d?a bàn xã Xuân Quang 2 khi?n ngu?i dân r?t b?c xúc. Ð? ngh?, UBND t?nh Phú Yên c?n s?m ch? d?o các co quan ch?c nang ph?i h?p v?i chính quy?n huy?n mi?n núi Ð?ng Xuân ki?m tra, x? lý v? vi?c d?t phá r?ng nói trên. Trong ?nh: M?t cây g? có du?ng kính l?n v?a b? ch?t phá. ?nh: Th? L?p- TTXVN

Tình trạng vi phạm đất đai của nông lâm trường và mâu thuẫn giữa người dân với nông lâm trường quốc doanh cần sự can thiệp hiệu quả của chính quyền địa phương. Ảnh: Thế Lập- TTXVN

Theo quy định, các doanh nghiệp tự rà soát, xây dựng đề án trình lên Chính phủ. Như vậy, quá trình này đã bỏ qua sự tham gia, giám sát của chính quyền địa phương, là tiền đề của nhiều hậu quả đáng tiếc. Không thiếu trường hợp doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh không nắm rõ được yêu cầu, nhiệm vụ của mình là gì?. Những đề án doanh nghiệp đưa ra có phù hợp với điều kiện và nhu cầu của địa phương đó hay không. Và khi xảy ra tranh chấp về đất đai với người dân thì ai sẽ là người đứng ra để giải quyết những mâu thuẫn đó?…

Có nhiều nguyên nhân khiến chính quyền địa phương vẫn chưa thể đảm bảo vai trò trung gian trong giải quyết mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa các doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh với người dân. “Sự phối hợp giữa công ty và chính quyền địa phương trong giải quyết các trường hợp vi phạm về đất đai có lúc còn chưa kịp thời. Hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về đất đai đối với người dân còn hạn chế”, đại diện Công ty Cổ phần chè Sông Lô cho biết.

Trong khi đó, có thực tế là ở các địa phương, chính quyền quá thiên vị lợi ích trước mắt của người dân địa phương mà “quên” đi lợi ích lâu dài của địa phương và đất nước. Vì vậy khi xảy ra mâu thuẫn kể cả khi người dân có vi phạm về tranh chấp đất đai với lâm trường thì người dân chỉ bị gọi lên nhắc nhở. Trường hợp người dân có quan hệ gia đình, anh em với quan chức chính quyền xã, huyện thì thông thường chỉ là giảng hòa chứ không có xử phạt hành chính. “Đó là lý do hết lần này đến lần khác người dân cứ thế vi phạm”, ông Lương Văn Tuyến, Phó giám đốc công ty TNHH một thành viên Lâm Nghiệp Chúc A cho biết.

Phía chính quyền địa phương cũng gặp nhiều khó khăn trong việc phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp nông lâm trường quốc doanh. Bên phía UBND xã cố gắng tiếp cận và giải thích cho người dân hiểu đất này là đất của nhà nước giao cho lâm trường quản lý, nhưng người dân họ lại cho rằng, đất đó là đất của địa phương chứ không phải của lâm trường. “Đứng ra giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên, nhưng lại bị người dân hiểu nhầm rằng chính quyền đang bắt tay, đứng về phía lâm trường, không bênh vực người dân”, ông Cao Thế Vịnh, Chủ tịch UBND xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình phân trần.

Việc nâng cao vai trò trung gian của chính quyền địa phương trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa các nông lâm trường quốc doanh với người dân còn gặp nhiều khó khăn và rất cần thiết phải có những giải pháp cụ thể. Theo ông Ngô Văn Hồng, “Chúng ta phải có quy trình và hướng dẫn từng bước khi giải quyết mâu thuẫn, trong đó có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội và các đoàn thể liên quan trong cộng đồng”.

Lê Xuân/tintuc.vn

Đất nông, lâm trường: Miếng bánh hấp dẫn

Chưa lúc nào lại có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay.

1.3-du-1203903306

 Sẽ có hàng ngàn ha đất trồng mía, dứa và cao su của các NLT ở Thanh Hóa được chuyển dần sang trồng cỏ cho các dự án nuôi bò sữa sau khi NLT được chuyển đổi thành Cty TNHH 2TV

Sự đổ xô của các tập đoàn, DN đầu tư vào nông nghiệp gần đây đã mang lại nhiều tín hiệu vui. Cùng với đó, việc các “ông lớn” vào cuộc, tỏa ra khắp nơi lùng sục đất đai khiến cho những bí bách về nguồn tư liệu sản xuất này đã nóng lại càng thêm nóng, trong đó quỹ đất nông, lâm trường là “miếng bánh” hấp dẫn nhất được các DN quan tâm, tìm cách thâu tóm. Chưa lúc nào có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay. Về tìm hiểu các địa phương từ phía Bắc đến Bắc Trung bộ, đi đâu cũng nghe nói đến chuyện các DN làm việc với địa phương để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc biệt là việc hợp tác, tiếp nhận quỹ đất nông lâm trường (NLT).

Từ nút thắt đất đai

Có thể nói, tham gia vào sân chơi nông nghiệp, các DN, tập đoàn lớn có đầy lợi thế với việc nguồn vốn đầu tư lớn, trình độ tổ chức quản lý cao, năng lực tiếp cận và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất tốt. Tuy nhiên, rào cản hay nói khác hơn là một nút thắt hiện nay đối với các DN là quỹ đất sản xuất.

Tại các hội nghị, diễn đàn về thu hút đầu tư, đối thoại doanh nghiệp, câu hỏi lớn nhất, vướng mắc nhất, tồn tại nhất vẫn là quỹ đất cho sản xuất.

Người ta đề cập đến sự rủi ro, tính ổn định, bền vững, lòng tin của nhà đầu tư trước những rào cản tích tụ đất đai, thậm chí đòi hỏi, thúc ép cần sớm phải đổi mới về thể chế đất đai. Làm ăn lớn thì không thể sản xuất canh tác manh mún, nhưng cơ chế tích tụ chưa được tháo gỡ, không ít DN khi bước vào sân chơi này đã rơi vào thế đi thì dở, ở lại không xong.

Trong đó, đáng kể nhất là các DN tham gia đầu tư ở phía Bắc và Bắc Trung bộ, nơi ruộng đồng chật hẹp, manh mún cùng với tâm lý giữ đất cố hữu, thà bỏ hoang chứ không trả ruộng của người nông dân. Nhiều DN cũng đã tìm tòi, xây dựng liên kết, hợp tác với nhà nông, nhưng đến nay, số thành công không đáng kể.

Rủi ro, đổ vỡ thường xuyên xảy ra, nguyên nhân có từ cả hai phía – nhà nông và DN. Chính vì vậy, nhìn vào quỹ đất, xem ra đất đai NLT là ổn hơn cả.

Quỹ đất NLT từ lâu do khai thác không hiệu quả, quản lý lỏng lẻo ở các địa phương đã là “miếng bánh” hấp dẫn, bị nhòm ngó và tìm cách thôn tính. Ngay trước làn sóng đầu tư nông nghiệp, điểm đến “nông – lâm trường” lại càng nóng bỏng hơn trong giới đầu tư, DN.

Về các địa phương thời gian qua để tìm hiểu về đầu tư nông nghiệp, đi đâu chúng tôi cũng nghe giới lãnh đạo chính quyền các cấp đề cập đến việc DN đến đặt vấn đề hợp tác, tiếp nhận đất đai các NLT. Phía Đông Bắc, các DN đổ xô xuống Quảng Ninh, Hải Phòng; phía Tây Bắc, các DN đổ lên Hòa Bình, Sơn La; rồi lùng sục các địa phương cận kề Hà Nội như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; rồi các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, xa hơn là vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Rầm rộ “tấn công” đất NLT

Cuộc đi tìm đất thật chộn rộn, sục sôi. Tại tỉnh Hòa Bình, trong vòng mấy năm qua, hàng loạt DN đã tìm đến quan tâm, tìm hiểu. Mặc dù đang nỗ lực tổ chức, sắp xếp lại các Cty, NLT làm ăn kém hiệu quả, nhưng tiếp xúc với chúng tôi, những người có trách nhiệm ở địa phương cho hay, họ rất thận trọng trước những đề xuất của các DN và chỉ “chọn mặt gửi vàng” khi rà soát, đánh giá năng lực, phương án của các DN một cách cẩn thận. Đến thời điểm này, tỉnh đã rà soát, đánh giá, lập đề án trình Bộ NN-PTNT thẩm định và Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương cho việc sắp xếp, đổi mới các Cty nông, lâm nghiệp.

1.3-215-39-45_cong-vn-xin-kho-st-di-bn-de-thue-dt-cu-mot-tcty-gui-ubnd-huyen-ky-nh-h-tinh

Văn bản xin khảo sát địa điểm để thuê đất của một TCty gửi UBND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh)

Theo đề án này, tỉnh Hòa Bình hiện có 5 Cty TNHH MTV nông nghiệp do UBND tỉnh quản lý gồm: Cty TNHH MTV Sông Bôi, Cao Phong, 2/9, Thanh Hà, Cửu Long. Các Cty đang được giao quản lý, sử dụng là 3.464,79ha đất. Về phương án sắp xếp các Cty TNHH MTV Thanh Hà, Sông Bôi, 2/9 sẽ hợp tác với một tập đoàn để thành lập Cty 2 thành viên. Còn Cty TNHH Cao Phong sẽ cùng với Cty CP xây dựng Sông Hồng liên kết thành Cty TNHH cam Cao Phong Incomex. Vĩnh Phúc – một tỉnh năng động và luôn là địa phương hấp dẫn trong mắt DN. Hiện UBND tỉnh này cũng đã “rộng cửa” cho các doanh nghiệp tìm đến đầu tư vào nông nghiệp. Ngoài 3 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng số vốn gần 49 triệu USD, thời gian gần đây, có rất nhiều nhà đầu tư đã và đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại đây với số vốn lớn như Vinamilk, Vingroup.

Điều đáng nói, tại địa bàn này, đã có rất nhiều cách thức hợp tác được triển khai ở đây như DN tự thỏa thuận với nông dân thuê diện tích đất của họ trong 5 hoặc 10 năm; cho nông dân góp cổ phần bằng ruộng đất với doanh nghiệp để cùng làm…

Nhưng xem ra, mọi con đường đều gặp trở ngại. Con đường sáng của DN ở thời điểm này, xem ra vẫn lại là sử dụng quỹ đất sẵn có của các NLT.

Tại Thanh Hóa, địa phương có diện tích rộng, quỹ đất NLT lớn, đã được rất nhiều “ông lớn” như FLC; Vingroup; TH true milk; Hòa Phát, Vinamilk… quan tâm tìm đến. Được biết hiện Cty CP Tập đoàn FLC, Cty TNHH đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEco thuộc Tập đoàn Vingroup – Cty CP, Cty CP ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH… đã có tờ trình xin tỉnh Thanh Hóa thuê 3.030ha đất tại các Cty TNHH MTV Sông Âm, Lam Sơn, Yên Mỹ để mở rộng sản xuất kinh doanh.

Mỗi Cty có ngành nghề kinh doanh riêng, lợi thế riêng. Nhưng có một điểm chung là các dự án đưa ra đều rất lớn. Cụ thể: Sau khi sắp xếp, Cty TNHH 2TV ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa Yên Mỹ (Tập đoàn TH true milk hợp tác với Cty TNHH MTV Yên Mỹ) sẽ đầu tư dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệp trên diện tích 2.930ha với 20.000 con bò. Trong đó bò cho sữa thường xuyên 10.000 con với chế độ chăm sóc, quản lý đàn bò theo công nghệ của Israel, mỗi năm sẽ cung cấp một lượng sữa cho chế biến 110.000 tấn sữa/năm.

Cty TNHH 2TV FLC – Lam Sơn sẽ đầu tư dự án trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt tập trung công nghệ cao với quy mô 1.148ha đất để chăn nuôi 6.000 con bò thịt và 10.000 con bò sữa, bê con. Cty TNHH 2TV đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEnco – Sông Âm sẽ thực hiện dự án nông nghiệp công nghệ cao với các sản phẩm trọng điểm là rau – củ – hoa giá trị cao, nấm, cây ăn quả gắn với công nghệ chế biến thích hợp.

Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, quỹ đất NLT, đất sản xuất của người dân cũng đang được quy hoạch, “sắp xếp” lại để tập trung nguồn lực tài nguyên cho các dự án “khủng”. Cả vùng đất đai màu mỡ Phủ Quỳ ở Nghệ An, đâu đâu cũng có bóng dáng DN.

Hay như ở Hà Tĩnh, chỉ dự án chăn nuôi bò của Cty CP chăn nuôi Bình Hà (Liên doanh Cty CP Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Cty CP An Phú) đã tốn đến 6.119ha đất (tại hai huyện Kỳ Anh 1.645ha, Cẩm Xuyên 4.473ha). Được biết dự án có quy mô 150.000 con bò/năm; nguồn vốn đầu tư 4.223 tỷ đồng, chia làm 3 giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 và 2 sẽ thực hiện trong năm 2015 với quy mô 60.000 con. Dự kiến, đến tháng 6/2016, dự án có tổng quy mô 100.000 con, chủ yếu được nhập từ Úc, New Zealand, Mỹ, Canada…

Có thể nói, việc các DN lớn đổ xô vào lĩnh vực nông nghiệp, khu vực này đã trở nên sôi động với những tín hiệu vui hơn rất nhiều. Nhưng cùng với đó, hàng loạt vấn đề cũng đang đặt ra đối với các địa phương hậu “sắp xếp, chuyển đổi” đất đai, mà đặc biệt nổi lên là vấn đề công ăn việc làm, an sinh xã hội của gia đình công nhân, nông dân vùng sắp xếp, chuyển đổi.

Để yên tâm đầu tư sản xuất, các DN đã và đang nỗ lực tìm kiếm, khoanh vùng cho mình nguồn tư liệu đất đai đủ lớn. Ở một số địa phương thông thoáng, cởi mở, điều kiện đất đai dễ tổ chức, sắp xếp; bằng năng lực và tùy thuộc khả năng “quan hệ”, các DN có thể sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một mặt bằng đầu tư sản xuất.

Tìm hiểu, nắm bắt thông tin một số đề án sắp xếp, chuyển đổi, đã có không ít ý kiến trong dư luận bức xúc khi ở chỗ này chỗ kia, DN chỉ bỏ ra mấy tỉ, nhiều hơn là vai ba chục tỷ đã “lấy” được một nông, lâm trường, mà trước đó bao thế hệ đã dầy công kiến tạo, gây dựng, bảo vệ, vun đắp.

Nhưng cũng có những trường hợp, các DN đổ mồ hôi, sôi nước mắt, trầy vi tróc vảy mà chẳng xong. Thậm chí, có DN còn bỏ ra cả trăm tỷ đồng vào một địa phương để giúp quy hoạch lại sản xuất, với tham vọng tạo ra vùng hàng xuất – chế biến hàng hóa lớn, tập trung nhưng rốt cuộc bị đổ bể, công cốc.

Văn Hùng/nongnghiep.vn