Báo cáo tiến độ 6 tháng đầu năm của FORLAND

Nhằm tổng kết, rà soát lại các hoạt động đã thực hiện, đánh giá các khó khăn thách thức và rút ra các bài học kinh nghiệm cho gia đoạn 6 tháng tiếp theo. Cũng như việc thực hiện cam kết về cập nhật và báo cáo tiến độ hoạt động với nhà tài trợ Oxfam. Liên minh đất rừng (FORLAND) đã xây dựng và hoàn thiện báo cáo tiến độ 06 tháng đầu năm 2016: “Báo cáo vận động chính sách dựa vào bằng chứng của Liên minh đất rừng-FORLAND”.  Báo cáo được xây dựng dựa trên việc thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin từ các thành viện trong mạng lưới, cũng như soi chiếu với kế hoạch đã được xây dựng từ đầu năm 2016. Báo cáo gồm các phần chính:

  1. Phần thông tin chung về dự án
  2. Phần Bối cảnh chính sách
  3. Phần Mục tiêu của dự án
  4. Phần Phương pháp tiếp cận của FORLAND
  5. Phần Kết quả đạt được
  6. Phần tác động của dự án
  7. Phần kết luận và kiến nghị

Chi tiết báo cáo có thể xem tại: BC Tien do FORLAND

Advertisements

FORLAND đóng góp tích cực vào kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA giai đoạn 2015-2016

Trong những năm vừa qua, Liên minh đất rừng (FORLAND) đã tham gia tích cực vào các hoạt động phối hợp giữa Tổng cục lâm nghiệp và Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong các nghiên cứu, phản biện và xây dựng chính sách về nông lâm nghiệp.

Đánh giá kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA năm 2015-2016 cho thấy: FORLAND và các tổ chức thành viên thuộc FORLAND đã tham gia nhiều hoạt động cụ thể và thực chất trong các hoạt động phối hợp chung giữa TCLN và VUSTA như: Tham vấn cộng động đóng góp cho tiến trình xây dựng hồ sơ Luật Lâm nghiệp; Tham gia các nghiên cứu, phản biện trong tiến trình giám sát việc thực hiện quản lý đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh; Nghiên cứu đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi Nghị định 99/NĐ-CP/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng,… Các đóng góp của FORLAND đã được lãnh đạo TCLN và VUSTA ghi nhận và đánh giá cao, một số đại diện của FORLAND đã được TCLN và VUSTA tặng bằng khen về những đóng góp trong tiếnh trình nghiên cứu và phản biện các chính sách về nông lâm nghiệp.

13339626_895257277251188_8008441355118597048_nÔng Ngô Văn Hồng- Giám đốc tổ chức điều phối FORLAND phát biểu tại hội nghị

Trong giại đoạn 2016-2017, FORLAND sẽ tiếp tục tham gia vào một số hoạt động nghiên cứu và phản biện trong chương trình phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA, tập trung vào một số chuyên đề cụ thể như: Vận động sửa đổi, thay thế Luật Bảo vệ Phát triển rừng/Luật Lâm nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của hộ gia đình và cộng đồng; Thúc đẩy tiến trình giám sát việc thu hồi và sử dụng quỹ đất lâm nghiệp được giao lại từ NLT quốc doanh cho người dân địa phương; Xây dựng và thể chế hóa Hướng dẫn giám sát thực hiện và đánh giá hiệu quả, tác động của thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở cấp địa phương.

Nguồn: http://www.vusta.vn/vi/news/Lien-hiep-hoi-1733/Ket-qua-phoi-hop-hoat-dong-giua-Tong-cuc-Lam-nghiep-va-Lien-hiep-Hoi-Viet-Nam-2015-2016-59858.html

Nhức nhối đất nông lâm trường

Ủy ban KH-CN và môi trường, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam và Liên minh Đất rừng vừa tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

3-13-43-42_nh-1Nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận tại hội thảo

Thực trạng ngổn ngang Báo cáo của Tổng cục Đất đai (Bộ TN-MT) cho thấy, hệ thống các nông lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành từ năm 1955 – 1958, trải qua nhiều chủ trương sắp xếp, đổi mới đến nay trên cả nước có 653 Cty nông, lâm nghiệp, BQL rừng, khu bảo tồn, VQG đang quản lý và sử dụng gần 8 triệu ha đất. Trong đó 642 nông lâm trường đã được nhà nước thực hiện thủ tục giao đất cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đất đai Nguyễn Văn Chiến, tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông lâm trường hiện là một trong những vấn đề nóng nhất. Hiện cả nước có 54 nông lâm trường, BQL rừng đang diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.000 ha. Ngoài ra, có 76 nông, lâm trường, BQL rừng bị lấn chiếm với diện tích xấp xỉ 60.000 ha.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), ông La Văn Thịnh chỉ ra rằng, trong số 642 nông lâm trường đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha (chiếm 95,0% tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) thì có 526 nông lâm trường được giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích hơn 7,1 triệu ha, chiếm 89,1%, bao gồm: 284 BQL, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý diện tích trên 5,1 triệu ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện SX kinh doanh). Diện tích này theo quy định của pháp luật từ 2004 – 2014 thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Trên thực tế, không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích này là cần thiết, đúng quy định của pháp luật và đúng yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.Hiện phần lớn nông lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, chỉ có một số DN cao su, cà phê làm ăn có lãi, do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các đơn vị cũng đang vướng phải tồn đọng rất lớn.

Tiếp theo, có 242 nông lâm trường quản lý diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, song chưa thực hiện, vì vậy chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định.

Kế đến, có 112 nông lâm trường chuyển sang thuê đất với diện tích 472.709 ha; có 4 nông lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 2.029 ha (chiếm 0,03%) là có thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà nước.

Hiến kế tái cơ cấu

Đóng góp giải pháp để quản lý hiệu quả hơn nữa đất nông lâm trường quốc doanh, lãnh đạo Cty TNHH MTV Cao su Chư Păh (Gia Lai) cho rằng, cần phải có một quy hoạch tổng thể trong việc sử dụng đất của các loại cây trồng, vật nuôi….

3.2Cần có giải pháp giải quyết tận gốc rễ vấn đề đất tại các nông lâm trường quốc doanh

Trong đó, quy hoạch các loại hình SX cho các cây trồng và sau khi đã xác định tính khoa học, tính thực tiễn thì phải tuân thủ. Đặc biệt, phải coi hành vi phá vỡ quy hoạch là một việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.

Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý của Bộ, ngành chủ quản để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. Nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để SX kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không thì dứt khoát phải giao cho DN SX, kinh doanh...

Đặc biệt, khi đã giao đất cho một tổ chức kinh tế nào thì phải ổn định trong thời gian dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung vì lý do này, lý do kia. Trừ trường hợp các công trình trọng điểm quốc gia như đường điện, sân bay, bến bãi hoặc những công trình trọng điểm khác… Ngoài ra, cần tăng cường sự quản lý nhà nước đối với việc quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất. Tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ” hoặc sử dụng không hợp lý kéo dài. Lãnh đạo Cty CP Chè Sông Lô (Tuyên Quang) kiến nghị Bộ, ngành Trung ương sớm có văn bản hướng dẫn xử lý những vướng mắc trong việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng SX và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 04/10/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Có chính sách miễn tiền thuê đất cho các DN SX trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện để người lao động trong DN được hưởng chính sách như người nông dân. Riêng với tỉnh Tuyên Quang, lãnh đạo Cty Chè Sông Lô đề nghị cho phép các DN SX trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục rà soát thanh lý những vườn cây thuộc nguồn vốn tài sản của Nhà nước có năng suất thấp, để DN cùng các hộ nhận khoán trồng lại bằng các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho DN được vay vốn để phát triển các loại cây trồng thích hợp, nhất là vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ lãi suất 2 năm đầu cho DN. Đồng tình quan điểm trên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Phùng Đức Tiến cho rằng, để loại bỏ tận gốc rễ những tồn tại, bất cập về đất đai nông lâm trường, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê, đồng thời tổng kết các mô hình SX kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN, phát triển theo chuỗi giá trị…

“Các nông lâm trường đang gặp khó khăn về vốn đầu tư SX, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vì thế cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển SX… để khuyến khích DN đầu tư trong lĩnh vực này”, ông Tiến đề xuất….

Nguyên Huân/nongnghiep.vn

Phát huy hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Nghị định 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được ban hành vào tháng 9/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tại tỉnh Kon Tum, chính sách này đã tạo một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khi hướng người dân, cộng đồng ở gần rừng gắn bó với rừng. Qua đó, rừng được quản lý bảo vệ tốt hơn.

Phóng sự được thực hiện trong khuôn khổ phối hợp giữa Liên minh Đất rừng FORLAND và Kênh truyền hình Quốc hội

FORLAND

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh

Ngày 9/10, tại Hà Nội, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Liên minh đất rừng tổ chức Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

Phóng sự về hội thảo đã được đăng tải trên Kênh truyền hình quốc hội