Category Archives: Hoạt động FORLAND

Báo cáo tiến độ 6 tháng đầu năm của FORLAND

Nhằm tổng kết, rà soát lại các hoạt động đã thực hiện, đánh giá các khó khăn thách thức và rút ra các bài học kinh nghiệm cho gia đoạn 6 tháng tiếp theo. Cũng như việc thực hiện cam kết về cập nhật và báo cáo tiến độ hoạt động với nhà tài trợ Oxfam. Liên minh đất rừng (FORLAND) đã xây dựng và hoàn thiện báo cáo tiến độ 06 tháng đầu năm 2016: “Báo cáo vận động chính sách dựa vào bằng chứng của Liên minh đất rừng-FORLAND”.  Báo cáo được xây dựng dựa trên việc thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin từ các thành viện trong mạng lưới, cũng như soi chiếu với kế hoạch đã được xây dựng từ đầu năm 2016. Báo cáo gồm các phần chính:

  1. Phần thông tin chung về dự án
  2. Phần Bối cảnh chính sách
  3. Phần Mục tiêu của dự án
  4. Phần Phương pháp tiếp cận của FORLAND
  5. Phần Kết quả đạt được
  6. Phần tác động của dự án
  7. Phần kết luận và kiến nghị

Chi tiết báo cáo có thể xem tại: BC Tien do FORLAND

FORLAND đóng góp tích cực vào kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA giai đoạn 2015-2016

Trong những năm vừa qua, Liên minh đất rừng (FORLAND) đã tham gia tích cực vào các hoạt động phối hợp giữa Tổng cục lâm nghiệp và Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong các nghiên cứu, phản biện và xây dựng chính sách về nông lâm nghiệp.

Đánh giá kết quả phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA năm 2015-2016 cho thấy: FORLAND và các tổ chức thành viên thuộc FORLAND đã tham gia nhiều hoạt động cụ thể và thực chất trong các hoạt động phối hợp chung giữa TCLN và VUSTA như: Tham vấn cộng động đóng góp cho tiến trình xây dựng hồ sơ Luật Lâm nghiệp; Tham gia các nghiên cứu, phản biện trong tiến trình giám sát việc thực hiện quản lý đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh; Nghiên cứu đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi Nghị định 99/NĐ-CP/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng,… Các đóng góp của FORLAND đã được lãnh đạo TCLN và VUSTA ghi nhận và đánh giá cao, một số đại diện của FORLAND đã được TCLN và VUSTA tặng bằng khen về những đóng góp trong tiếnh trình nghiên cứu và phản biện các chính sách về nông lâm nghiệp.

13339626_895257277251188_8008441355118597048_nÔng Ngô Văn Hồng- Giám đốc tổ chức điều phối FORLAND phát biểu tại hội nghị

Trong giại đoạn 2016-2017, FORLAND sẽ tiếp tục tham gia vào một số hoạt động nghiên cứu và phản biện trong chương trình phối hợp hoạt động giữa TCLN và VUSTA, tập trung vào một số chuyên đề cụ thể như: Vận động sửa đổi, thay thế Luật Bảo vệ Phát triển rừng/Luật Lâm nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của hộ gia đình và cộng đồng; Thúc đẩy tiến trình giám sát việc thu hồi và sử dụng quỹ đất lâm nghiệp được giao lại từ NLT quốc doanh cho người dân địa phương; Xây dựng và thể chế hóa Hướng dẫn giám sát thực hiện và đánh giá hiệu quả, tác động của thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở cấp địa phương.

Nguồn: http://www.vusta.vn/vi/news/Lien-hiep-hoi-1733/Ket-qua-phoi-hop-hoat-dong-giua-Tong-cuc-Lam-nghiep-va-Lien-hiep-Hoi-Viet-Nam-2015-2016-59858.html

Nhức nhối đất nông lâm trường

Ủy ban KH-CN và môi trường, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam và Liên minh Đất rừng vừa tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

3-13-43-42_nh-1Nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận tại hội thảo

Thực trạng ngổn ngang Báo cáo của Tổng cục Đất đai (Bộ TN-MT) cho thấy, hệ thống các nông lâm trường quốc doanh bắt đầu hình thành từ năm 1955 – 1958, trải qua nhiều chủ trương sắp xếp, đổi mới đến nay trên cả nước có 653 Cty nông, lâm nghiệp, BQL rừng, khu bảo tồn, VQG đang quản lý và sử dụng gần 8 triệu ha đất. Trong đó 642 nông lâm trường đã được nhà nước thực hiện thủ tục giao đất cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đất đai Nguyễn Văn Chiến, tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai trong các nông lâm trường hiện là một trong những vấn đề nóng nhất. Hiện cả nước có 54 nông lâm trường, BQL rừng đang diễn ra tranh chấp với diện tích hơn 18.000 ha. Ngoài ra, có 76 nông, lâm trường, BQL rừng bị lấn chiếm với diện tích xấp xỉ 60.000 ha.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), ông La Văn Thịnh chỉ ra rằng, trong số 642 nông lâm trường đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích gần 7,6 triệu ha (chiếm 95,0% tổng diện tích đang quản lý, sử dụng) thì có 526 nông lâm trường được giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích hơn 7,1 triệu ha, chiếm 89,1%, bao gồm: 284 BQL, vườn quốc gia, khu bảo tồn quản lý diện tích trên 5,1 triệu ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện SX kinh doanh). Diện tích này theo quy định của pháp luật từ 2004 – 2014 thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Trên thực tế, không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích này là cần thiết, đúng quy định của pháp luật và đúng yêu cầu thực tế đặt ra đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.Hiện phần lớn nông lâm trường đóng tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, chỉ có một số DN cao su, cà phê làm ăn có lãi, do vậy chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các đơn vị cũng đang vướng phải tồn đọng rất lớn.

Tiếp theo, có 242 nông lâm trường quản lý diện tích gần 2 triệu ha thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, song chưa thực hiện, vì vậy chưa phát sinh hồ sơ thu nộp nghĩa vụ tài chính về đất và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định.

Kế đến, có 112 nông lâm trường chuyển sang thuê đất với diện tích 472.709 ha; có 4 nông lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất với diện tích 2.029 ha (chiếm 0,03%) là có thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà nước.

Hiến kế tái cơ cấu

Đóng góp giải pháp để quản lý hiệu quả hơn nữa đất nông lâm trường quốc doanh, lãnh đạo Cty TNHH MTV Cao su Chư Păh (Gia Lai) cho rằng, cần phải có một quy hoạch tổng thể trong việc sử dụng đất của các loại cây trồng, vật nuôi….

3.2Cần có giải pháp giải quyết tận gốc rễ vấn đề đất tại các nông lâm trường quốc doanh

Trong đó, quy hoạch các loại hình SX cho các cây trồng và sau khi đã xác định tính khoa học, tính thực tiễn thì phải tuân thủ. Đặc biệt, phải coi hành vi phá vỡ quy hoạch là một việc làm vi phạm nghiêm trọng đến quá trình phát triển của xã hội.

Ông Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình cho rằng, cần tái cơ cấu lại đất nông lâm trường theo hướng “đoạn tuyệt” với cơ chế quản lý của Bộ, ngành chủ quản để giảm các khoản đầu tư của Nhà nước. Nếu Nhà nước cần nắm đất nông lâm trường để SX kinh doanh thì tiếp tục đổi mới, còn nếu không thì dứt khoát phải giao cho DN SX, kinh doanh...

Đặc biệt, khi đã giao đất cho một tổ chức kinh tế nào thì phải ổn định trong thời gian dài, tránh thu hồi phá vỡ quy hoạch chung vì lý do này, lý do kia. Trừ trường hợp các công trình trọng điểm quốc gia như đường điện, sân bay, bến bãi hoặc những công trình trọng điểm khác… Ngoài ra, cần tăng cường sự quản lý nhà nước đối với việc quản lý đất đai và hiệu quả sử dụng đất. Tránh tình trạng “rừng vô chủ”, “đất vô chủ” hoặc sử dụng không hợp lý kéo dài. Lãnh đạo Cty CP Chè Sông Lô (Tuyên Quang) kiến nghị Bộ, ngành Trung ương sớm có văn bản hướng dẫn xử lý những vướng mắc trong việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng SX và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 04/10/1995 và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ. Có chính sách miễn tiền thuê đất cho các DN SX trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo điều kiện để người lao động trong DN được hưởng chính sách như người nông dân. Riêng với tỉnh Tuyên Quang, lãnh đạo Cty Chè Sông Lô đề nghị cho phép các DN SX trong lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục rà soát thanh lý những vườn cây thuộc nguồn vốn tài sản của Nhà nước có năng suất thấp, để DN cùng các hộ nhận khoán trồng lại bằng các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho DN được vay vốn để phát triển các loại cây trồng thích hợp, nhất là vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ lãi suất 2 năm đầu cho DN. Đồng tình quan điểm trên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN và Môi trường của Quốc hội, Phùng Đức Tiến cho rằng, để loại bỏ tận gốc rễ những tồn tại, bất cập về đất đai nông lâm trường, việc cấp thiết là rà soát lại diện tích đất đai giao khoán, cho thuê, đồng thời tổng kết các mô hình SX kinh doanh có hiệu quả để phổ biến nhân rộng, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN, phát triển theo chuỗi giá trị…

“Các nông lâm trường đang gặp khó khăn về vốn đầu tư SX, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, vì thế cần có đánh giá việc tiếp cận chính sách về vốn, tài chính đối với đất đai, nhân lực, hạ tầng phát triển SX… để khuyến khích DN đầu tư trong lĩnh vực này”, ông Tiến đề xuất….

Nguyên Huân/nongnghiep.vn

Phát huy hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Nghị định 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được ban hành vào tháng 9/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tại tỉnh Kon Tum, chính sách này đã tạo một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng khi hướng người dân, cộng đồng ở gần rừng gắn bó với rừng. Qua đó, rừng được quản lý bảo vệ tốt hơn.

Phóng sự được thực hiện trong khuôn khổ phối hợp giữa Liên minh Đất rừng FORLAND và Kênh truyền hình Quốc hội

FORLAND

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh

Ngày 9/10, tại Hà Nội, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Liên minh đất rừng tổ chức Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.

Phóng sự về hội thảo đã được đăng tải trên Kênh truyền hình quốc hội

 

Tranh chấp, lấn chiếm đât đai nông lâm trường sẽ trở thành “điểm nóng” nếu không nhanh chóng thực hiện việc đo đạc và cắm mốc thực địa.

Đó là phần phát biểu của bà Phương Thị Thanh – Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn trong phần thảo luận của hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh” tại Hà Nội vào ngày 9/10/2015, bày tỏ sự lo ngại về tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai nông lâm trường và những hệ lụy gặp phải nếu không sớm giải quyết vấn đề “xác định ranh giới, đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các công ty nông, lâm nghiệp theo đúng Nghị quyết số 30 – NQ/TW”.
Bà Thanh cho rằng “so với tổng thể nguồn thu quốc gia, về mặt kinh phí để tổ chức thực hiện đo đạc thực địa và lập bản đồ địa chính cho các nông, lâm trường quốc doanh là không lớn. Nếu việc này không được thực hiện sớm thì sẽ trở thành điểm nóng về tranh chấp, lấn chiếm đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh”.
Thực tế cho thấy, sau hơn 20 năm Luật đất đai ra đời, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo, đôn đốc thực hiện nhưng phần lớn các nông, lâm trường quốc doanh chưa thực hiện việc rà soát, xác định, cắm mốc và đo đạc ranh giới để làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Tình trạng tranh chấp, vi phạm nhất là cho thuê, mượn, lấn chiếm, chuyển mục đích trái phép xảy ra phổ biến và không giải quyết dứt điểm nên rất phức tạp trong xử lý. Hiện cả nước có 54 nông, lâm trường, ban quản lý rừng còn có tranh chấp với diện tích 18.315 ha. 76 nông, lâm trường, ban quản lý rừng để bị lấn chiếm với diện tích 59.668 ha. 34 nông, lâm trường, ban quản lý rừng đang cho mượn, chuyển nhượng đất với diện tích 5.034 ha. 6 nông, lâm trường, ban quản lý rừng đang cho thuê lại đất với diện tích 8.764 ha. (Theo báo cáo“Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh” – Bộ TN&MT – Tổng cục đất đai).
Đồng tình với quan điểm trên, bà Tôn Thị Ngọc Hạnh – Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Nông cho hay áp lực của dân di cư ở Đắk Nông là rất lớn, dẫn đến gây áp lực cho việc quản lý đất đai tại các NLTQD trên địa bàn làm cho tình trạng lấn chiếm đất diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, tỉnh lại không có kinh phí cho việc rà soát, cắm mốc trên thực địa và phải trông chờ vào ngân sách hỗ trợ từ TW.
Trong báo cáo kết quả nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai nông lâm trường” do ông Ngô Văn Hồng – Liên minh Đất rừng Forland trình bày chỉ ra rằng: Quyền “sở hữu nhà nước” đối với đất đai mâu thuẫn với năng lực hạn hẹp của Nhà nước trong việc đầu tư đo đạc, cấp chứng nhận, xác định rõ ràng ranh giới, đánh giá giá trị của đất và rừng, với khả năng đầu tư thích đáng cho các doanh nghiệp nông lâm trường để đảm bảo điều kiện quản lý về nhân lực và trang bị.
Thật vậy, việc cắm mốc ranh giới có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quỹ đất theo đúng quy hoạch và cụ thể trên thực địa. Đây cũng là một hình thức công khai quy hoạch rõ ràng, trực diện chứ không phải chỉ trên hồ sơ sổ sách và thiếu tính xác thực. Một khi khu đất có mốc ranh giới rõ ràng và thông tin quy hoạch thì việc tranh chấp, lấn chiếm đất trái phép sẽ được hạn chế rất nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý quy hoạch đất đai nông lâm trường quốc doanh.
Xét thấy những nhu cầu cấp bách và thực trạng đang diễn ra ngày càng nhức nhối tại các nông, lâm trường, bà Phương Thị Thanh đề nghị Quốc hội cần xem xét thật kỹ vấn đề này trong báo cáo giám sát sắp tới để tránh những hệ lụy đáng tiếc xảy ra.

Tài liệu hội thảo

1- Báo cáo quản lý và sử dụng đất đai nông lâm trường

2- Tài chính đối với đất đai nông lâm trường

3-Biên bản hội thảo

Một số hình ảnh của hội thảo

0Le Va Hong_Forland

Ông Ngô Văn Hồng-Liên minh Đất rừng trình bày tại hội thảo

0Thanh_Baccan

Bà Phương Thị Thanh-Phó trưởng đoàn đại biểu quốc hội Bắc Cạn trình bày tại hội thảo

Hanh_DakNong

Bà Tôn Thị Ngọc Hạnh- Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Đăk Nông phát biểu tại hội thảo

IMG_8256

Toàn cảnh hội thảo

IMG_8262

Ban chủ tọa hội thảo

FORLAND

Thư mời tham gia hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai nông lâm trường quốc doanh” – 09/10/2015

Kính chào quý anh chị phóng viên của các cơ quan báo chí và truyền hình,

Tôi là Lê Thị Mỹ Thuyên- Cán bộ truyền thông của Liên  minh Đất rừng -FORLAND do Tổ chức Oxfam  Anh hỗ trợ thành lập.
 Thay mặt FORLAND, tôi xin phép được gửi đến quý anh chị giấy mời và chương trình cụ thể của hội thảo ” Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai Nông Lâm trường quốc doanh” do FORLAND tổ chức vào ngày 09/10/2015( thứ sáu)
Hội thảo là hoạt động nằm trong khuôn khổ thực hiện chương trình hợp tác năm 2015 do Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội phối hợp với Liên hiệp hội Khoa học Kỹ Thuật Việt Nam và  Liên Minh Đất rừng(FORLAND) đồng tổ chức
Thông tin chi tiết của hội thảo:
  –  Thời gian: 1 ngày – 09/10/2015 , bắt đầu đón tiếp đại biểu lúc 7h30
  –  Địa điểm: Khách sạn Công Đoàn – 14 Trần Bình Trọng, Quận Hoàn Kiếm, Hà nội
  –  Giấy mời và Chương trình hội thảo: được đính kèm theo email này
Rất mong quý anh chị phóng viên bố trí thời gian tham gia và đưa tin về hội thảo của FORLAND
Để chuẩn bị tốt cho khâu hậu cần và tổ chức hội thảo, xin quý anh chị phóng viên xác nhận sự tham gia hội thảo thông qua địa chỉ email của Chị Lê Thị Mỹ Thuyên: mythuyenlethi@gmail.com và anh Châu Văn Huệ, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển kiến thức bản địa -CIRD( cvhue@cird.org.vn) muộn nhất là vào lúc 16h00 ngày mai 07/10/2015-thứ tư
FORLAND trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của quý anh chị trong thời gian vừa qua và mong muốn được đón tiếp quý anh chị trong hội thảo này
Mỹ Thuyên
FORLAND

Quyền lợi của cộng đồng và hộ gia đình trong công tác bảo vệ và phát triển rừng

Từ xa xưa ông cha ta cũng đã rất coi trọng việc bảo vệ và gìn giữ nguồn tài nguyên này. Để rừng ngày càng tốt tươi không những về mặt diện tích che phủ mà cả chất lượng rừng, cần có những biện pháp hữu hiệu và cần có sự góp sức của cả hai phía: Nhà nước và nhân dân. Nhà nước phải có những chính sách mới phù hợp nhằm thúc đẩy bảo vệ rừng và phát triển bền vững, đồng thời nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị của rừng đối với cuộc sống của họ để họ tích cực tham gia vào việc bảo vệ rừng và trồng rừng. Trong chương trình hôm nay, chúng tôi bàn về “QUYỀN LỢI CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ HỘ GIA ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG”

Đây là hoạt động trong khuôn khổ dự án  ” Vận động sửa đổi Luât Bảo vệ và phát triển rừng 2004″ do FORLAND phối hợp với Kênh truyền hình quốc hội thực hiện

Hội thảo “Thực thi Luật bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam: một số phát hiện và kiến nghị từ các tổ chức xã hội”.

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được ban hành năm 2004 đã có tác động tích cực đến sự phát triển rừng cũng như đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng đã bộc lộ một số điểm cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả của Luật. Thời gian qua, TCLN đã thành lập tổ chuyên gia đánh giá độc lập 10 năm thực hiện Luật BV&PTR 2004. Tuy nhiên, để đánh giá một Luật lớn như Luật BV&PTR cần phải có thông tin đa dạng và đầy đủ hơn ở tất cả các cấp và các đối tượng khác nhau. Xuất phát từ thực tế đó, được sự tài trợ của Oxfam, trong hai năm 2014 – 2015, Ban điều hành Mạng lưới Đất rừng FORLAND đã phối hợp với các tổ chức thành viên cùng tiến hành các nghiên cứu tham vấn về tình hình thực thi Luật BV&PTR 2004 liên quan đến hộ gia đình và cộng đồng nhằm cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách sửa đổi, bổ sung Luật trong thời gian tới.

Trong khuôn khổ nội dung kế hoạch năm 2015 của Chương trình hợp tác giữa Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Tổng cục Lâm nghiệp về hoạt động tư vấn, phản biện và vận động chính sách với mục tiêu cải thiện và nâng cao hiệu quả thực thi Luật bảo vệ và phát triển rừng, tiến tới đưa ra các đóng góp kiến nghị cho việc điều chỉnh luật. Sáng ngày 30/09/2015, tại Trung tâm Phụ nữ & Phát triển – 20 Thụy Khuê, Hà Nội, Liên minh Đất rừng (FORLAND) phối hợp với Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo cấp quốc gia với chủ đề “Thực thi Luật bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và kiến nghị từ các tổ chức xã hội”.

Hội thảo thu hút sự tham gia của hơn 60 đại biểu là đại diện các cơ quan, tổ chức nhà nước từ trung ương đến tỉnh có liên quan đến ngành lâm nghiệp ở miền Trung, Tây Nguyên và Tây Bắc, đại diện đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu ở miền Trung và Tây Nguyên, các chuyên gia cao cấp trong ngành lâm nghiệp và Tài nguyên môi trường, các đại biểu đến từ các tổ chức phi chính phủ ở địa phương và quốc tế, đặc biệt có sự tham gia của các kênh báo chí, truyền thông nhằm đưa thông tin của hội thảo đến với công chúng và những nhà lập định chính sách.

Tại phiên thảo luận mở rộng vào sáng ngày 30/09, hội thảo tán thành 8 khuyến nghị được đưa ra từ các phát hiện của nhóm nghiên cứu Forland “Tham vấn về thực thi Luật BV&PTR 2004”, qua đó đã có nhiều ý kiến đóng góp và bổ sung nhằm giúp FORLAND hoàn thiện bản kiến nghị trước khi gửi đến các nhà hoạch định chính sách. Các ý kiến đóng góp xoay quanh các vấn đề chính: i) thống nhất các khái niệm trong quy định sửa đổi luật ii) giao khoán đất rừng – nên hay không? vai trò của hộ gia đình và cộng đồng iii) Nguyên nhân cốt lõi để phát hiện các vấn đề cụ thể khi xây dựng luật, vi) hưởng lợi của cộng đồng từ rừng – quyền và nghĩa vụ, v) chức năng của ngành Lâm Nghiệp và Quản lí Tài Nguyên Rừng và Môi Trường khi đề nghị chỉnh sửa/ thay thế luật, vi) Yếu tố kinh tế thị trường, sinh thái và xã hội trong quá trình cải tiến luật.

Ông Nguyễn Bá Ngãi – Tổng cục Lâm nghiệp chia sẻ về thuyết minh đề xuất lập dự án Luật Lâm Nghiệp thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 với hứa hẹn sẽ có một Luật mới hoàn chỉnh và trọn vẹn phù hợp với bối cảnh chung của đất nước, trong đó: sẽ kế thừa một số nội dung từ Luật BV&PTR 2004 và có nhiều phần quy định hoàn toàn mới so với Luật cũ, cụ thể về dịch vụ môi trường rừng, chế biến và thương mại lâm sản, đồng quản lí rừng. Đây là tin vui và cũng là thách thức cho Mạng lưới Forland trong việc nhanh chóng thay đổi các nội dung phù hợp cho việc góp ý bổ sung Luật BV&PTR 2004 và hồ sơ dự thảo Luật Lâm Nghiệp.

Từ thực tế trên, Forland sẽ tiếp tục tận dụng các kết quả nghiên cứu của mình để tìm ra những điểm bất cập trong Luật BV&PTR 2004 và đưa ra những bằng chứng thuyết phục cho việc đề xuất thay đổi một số điều luật. Dự kiến sẽ có một buổi tọa đàm được tổ chức để thống nhất các nội dung góp ý cho việc xây dựng dự thảo Luật mới, đồng thời cũng là cơ hội để Forland xây dựng các định hướng phát triển của mạng lưới trong năm 2016 phù hợp hơn với xu thế phát triển của xã hội.

1-Báo cáo hội thảo

2-Một số hình ảnh tại hội thảo:

02 IMG_7879 IMG_7902 IMG_7964 IMG_8004 IMG_8109
FORLAND

Không để người dân “mệt” khi bảo vệ rừng

Ngày 30/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Liên minh Đất rừng (FORLAND) tổ chức Hội thảo “Thực thi Luật Bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và khuyến nghị từ các tổ chức xã hội”.

1.1-dscn5274

 Các chuyên gia cho rằng, cần tăng cường sự tham gia của đại diện cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong lập quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng. Ảnh. Thảo Nguyên

Theo FORLAND, hiện một số địa phương sau khi giao đất rừng cho người dân vẫn chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Kết quả tham vấn cho thấy, có 12 cộng đồng (52% cộng đồng được khảo sát) chưa được cấp GCNQSDĐ sau khi được giao rừng.

Các chuyên gia cho rằng, cần có qui định cấp GCNQSDĐ đất khi giao rừng cho cộng đồng để quy rõ trách nhiệm, cũng như tránh xảy ra tranh chấp. Nhưng cũng có ý kiến quan ngại, giao “sổ đỏ” hôm trước, hôm sau dân đã bán, nhất là liên quan đến đất rừng tự nhiên khiến nguy cơ mất rừng càng cao.

Ông Vũ Long, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam cho biết, thực tế, quyền sử dụng đất rừng rất hạn chế, “sổ đỏ” đất rừng tự nhiên không được “cắm” để vay vốn nên người dân cho là không có giá trị như “sổ đỏ” đất sản xuất nông nghiệp, đất thổ cư hay đất trồng rừng sản xuất. Tác động của hộ gia đình đối với rừng tự nhiên là rất ít, chủ yếu là hoạt động trông coi rừng.

Thống kê cho thấy, qua 5 năm thực hiện, tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng ước tính đạt được 1.782 tỉ đồng (chiếm 0,8% ngân sách đầu tư lâm nghiệp). Hiện mới có 2 dịch vụ được thực hiện là dịch vụ phòng hộ đầu nguồn và dịch vụ du lịch sinh thái do thiếu các cơ sở pháp lý và hướng dẫn chi tiết. Việc giải ngân từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tới những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng chỉ đạt tỷ lệ khá khiêm tốn (46%).Đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định cũng phản ánh, sau 2 năm Bình Định thí điểm giao rừng tự nhiên cho người dân quản lý thì 100% hộ dân “làm đơn xin trả lại rừng” tự nhiên được giao với lý do “bảo vệ rừng mệt quá mà lại làm không công cho Nhà nước”. Song nếu cho phép chuyển nhượng đất rừng tự nhiên được giao thì “sẽ thành rừng của đại gia” nên cần cân nhắc.

Theo các chuyên gia, khi sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cần tăng cường sự tham gia của đại diện cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong lập quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng để chính quyền thì quản lý, bảo vệ được rừng, còn người dân, cộng đồng có thể thực hiện đầy đủ quyền quản lý của mình.
Hơn nữa, cần chú ý đến dịch vụ môi trường rừng để buộc xã hội đầu tư lại cho môi trường rừng, chống mất rừng. Vì ngành Lâm nghiệp không thể cứ mãi “xin” tiền Nhà nước khi đất rừng đã giao cho dân quản lý.

FORLAND còn khuyến nghị, cần luật hóa việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các đối tượng rừng có nguy cơ bị xâm phạm. Cùng với đó, phân tích lại cách chi trả theo lưu vực sông để rừng không bị “phân mảnh” hoặc làm phát sinh mâu thuẫn trong cộng đồng do mức chi trả chênh lệch giữa các diện tích rừng trong cùng một lưu vực sông.

Thảo Nguyên/thanhtra.com.vn