Featured

BẢN KHUYẾN NGHỊ SAU HỘI THẢO KỸ THUẬT ĐÓNG GÓP CHO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH LUẬT LÂM NGHIỆP 2017

Sau hội thảo góp ý cho dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp 2017 diễn ra tại Hà Nội vừa qua với sự hợp tác tổ chức từ các thành viên trong Forland như CIRD, Panature, TROPENBOS. Nhận được sự đóng góp nhiệt tình chia sẽ các ý kiến từ chuyên gia cùng các đại biểu như chuyên gia GS.Đặng Hùng Võ, TS. Đoàn Diễm, TS. Trần Ngọc Bình…. Ban thư ký đã hoàn thiện bản khuyến nghị và đã gửi cho ban soạn thảo Tổng cục Lâm nghiệp.

Nội dung bản khuyến nghị tập trung vào đưa vào một số quan điểm, nội dung mới như chủ rừng là cộng đồng, ưu tiên cho đồng bào dân tộc, thương mại và chế biến lâm sản…Mặc dù những vấn đề này đã có chính sách nhưng tản mạn ở nhiều quy định trong và ngoài lĩnh vực lâm nghiệp. Chính vì vậy việc xây dựng chính sách nhất quán và riêng biệt trong lĩnh vực Lâm nghiệp về những nội dung mới này cực kỳ quan trọng cho việc thực thi Luật và nhất thể hóa hệ thống chính sách lâm nghiệp, đồng thời là cơ sở quan trọng cho thực thi Luật lâm nghiệp.

Một số chính sách kiến nghị cần quy định cụ thể gồm:

2.1. Tại khoản 6, điều 4 của Luật Lâm nghiệp quy định về “Nhà nước đảm bảo cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư….” theo quy định của Chính phủ. Trong đó có một số nội dung chưa rõ theo quy định nào ví dụ “hợp tác, liên kết bảo vệ rừng với chủ rừng, chia sẽ lợi ích từ rừng, thực hành văn hoá tín ngưỡng…”. Đây là điểm được các đối tác quốc tế đánh giá rất cao, tiến bộ của Luật lâm nghiệp 2017 so với Luật trước đây. Tuy nhiên, trong dự thảo Nghị định chưa quy định chi tiết để có căn cứ thực hiện. Ngay tại khoản 8 Điều 1 Dự thảo Nghị định cũng đề cập đây là đối tượng, phạm vi nhưng nội dung Nghị định chưa có hướng dẫn chi tiết

2.2. Nội dung liên quan đến giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng:

a, Tại điều 14 của Luật Lâm nghiệp quy định các nội dung rất quan trọng về nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng. Tuy nhiên trong dự thảo Nghị định mới chỉ hướng dẫn nguyên tắc thứ 5 “Thống nhất, đồng bộ với giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất” Một số nguyên tắc quan trọng khác chưa được hướng dẫn cụ thể trong dự thảo Nghị định này, ví dụ Nguyên tắc công khai minh bạch, có sự tham gia và trách nhiệm giải trình chưa có hướng dẫn hoặc hướng dẫn sơ sài: chỉ có sự tham gia của chủ rừng ở giai đoạn kiểm tra thực địa và bàn giao rừng; không có sự tham gia của người đại diện của họ trong giai đoạn thẩm định, xét duyệt…Nguyên tắc ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong giao rừng, tôn trọng phong tục, tập quán,văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn bó với rừng của cộng đồng dân cư DTTS chưa được đề cập  trong Dự thảo.

b, Việc hướng dẫn trình tự thủ tục giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư quy định khá rõ ràng nhưng rất khó thực hiện. Thực tiễn cho thấy hình thức quản lý rừng cộng đồng là quản lý bởi một nhóm người do vậy cần phải xác định ai là người chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất hoặc trách nhiệm pháp lý của từng thành viên khi tham gia bảo vệ rừng, trường hợp xảy ra vi phạm thì xử lý thế nào…. Do vậy dự thảo Nghị định cần hướng dẫn thêm cách thức xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng, phương án quản lý rừng cộng đồng, cách thức xác định người đứng đơn xin giao đất trong cộng đồng… Nghị định cần hướng dẫn tách biệt nội dung giao rừng, cho thuê rừng gắn liền giao đất, cho thuê đất tách biệt giữa cộng đồng và hộ gia đình.

c, Chuyển loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác: Đối với phương án chuyển loại rừng:

+Bổ xung quy định cần lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có liên quan và có biên bản họp dân để bảo đảm có sự đồng thuận của đa số người dân sống trong địa bàn;

+ và công khai phương án  chuyển loại rừng được phê duyệt;

Trình tự, thủ tục cho phép chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng:

+ bổ xung biên bản họp dân và ý kiến của các chủ rừng nhà nước và tư nhân;

+ trách nhiệm giải trình cuả UBND các cấp đối với các ý kiến của người dân;

+ dự án đầu tư phải bao gồm báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội

2.3. Đối với nội dung hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp và quản lý thương mại lâm sản.

  1. Tại điều 66 của Luật về Chính sách phát triển chế biến lâm sản được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, dự thảo Nghị định chưa quy định nội dung này. Ngành chế biến lâm sản là một ngành rất rộng, có thể chia ra (1) Chế biến gỗ: Trong đó, lĩnh vực sản xuất đồ gỗ và ván nhân tạo cho giá trị gia tăng lớn nhất (2) Chế biến lâm sản ngoài gỗ, tập trung vào tre nứa và dược liệu. Do vậy, nghị định cần hướng dẫn thêm các nội dung như tiêu chí xác định đối tượng hỗ trợ, hình thức hỗ trợ như thế nào, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chế biến lâm sản ra sao; các hình thức ưu tiên loại hình công nghiệp hỗ trợ…

b, Các hướng dẫn tại mục 1 của dự thảo Nghị định quy định gỗ hợp pháp Việt Nam khá trừu tượng, khó vận dụng đối với những người tham gia hoạt động thương mại lâm sản. Do vậy, nghị định cần hướng dẫn một số nội dung quan trọng sau: Khái niệm hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp, xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam, Ban hành tiêu chí, thẩm quyền, quy trình, thủ tục phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ.

c, Nội dung Chính sách phát triển thị trường lâm sản quy định tại điều 70 của Luật có nhiều nội dung quan trọng song cũng chưa được hướng dẫn cụ thể trong dự thảo Nghị định. Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung một số nội dung hướng dẫn cho điều này bao gồm (1) Tiêu chí Tổ chức, cá nhân hợp tác, liên kết, thu mua, tiêu thụ lâm sản được cung cấp tín dụng ưu đãi? (2) Nhà nước hỗ trợ hoạt động xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, cung cấp thông tin thị trường lâm sản trong nước và quốc tế (như thế nào?) (3) Hỗ trợ xây dựng hạ tầng thương mại lâm sản.

d, Tại mục 3 dự thảo Nghị định về nội dung Quản lý thương mại lâm sản chỉ mới hướng dẫn duy nhất một điểm c, điều 72 của Luật Lâm nghiệp đó là dự báo thị trường và định hướng phát triển chế biến thương mại lâm sản. Ngoài ra có 04 điểm quan trọng chưa được hướng dẫn và rất cần thiết trong quản lý thương mại lâm sản hiện nay như (1) Xây dựng chiến lược phát triển thị trường (trong nước, ngoài nước) (2) Phòng vệ thương mại trong thương mại lâm sản (3) Giải quyết tranh chấp trong thương mại lâm sản (4) Hiện nay cơ quan quản lý chuyên ngành chế biến gỗ và lâm sản cấp trung ương, cấp tỉnh chưa thật sự rõ ràng giữa các Bộ: NN&PTNT, Xây dựng, Công thương? Do vậy, cơ quan nào công bố dự báo thị trường? Đề nghị dự thảo Nghị định ghi rõ Cơ quan chuyên ngành này là: Cục chế biến, thương mại và Phát triển thị trường nông sản.

2.4. Tại một số quy định của dự thảo Nghị định quy định cụ thể cơ quan chủ trì hoặc được thực hiện một số vấn đề, ví dụ giao Kiểm lâm trong quy định về gỗ hợp pháp. Việc quy định như vậy còn phụ thuộc vào Nghị định về quy định cơ quan Kiểm lâm, quy định về tổ chức quản lý ngành, mặt khác sẽ bỏ qua vai trò của tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan cấp trên của Chi cục Kiểm lâm dẫn đến khó khăn cho điều hành và lãnh đạo. Vì vậy đề nghị sửa lại: đối với trung ương giao Bộ Nông nghiệp và PTNT, đối với địa phương giao UBND (tỉnh, huyện) hoặc Sở Nông nghiệp và PTNT.

2.5. Về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng quy định trong Luật, do không giao cho Chính phủ quy định chi tiết, tuy nhiên trong quá trình xây dựng Luật đã có nhiều ý kiến về vấn đề này, trong thực tiễn thi hành Luật năm 2004 cũng nảy sinh vấn đề: Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là chủ sở hữu rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng chỉ có quyền quản lý, sử dụng rừng; mối quan hệ giữa chủ rừng không có quyền sở hữu với chủ rừng là chủ sở hữu (trong trường hợp giao, cho thuê, đồng quản lý…) dễ dẫn đến hiểu sai quyền, nghĩa vụ và tranh chấp hoặc vi phạm. Vấn đề này nếu không được quy định riêng thì sẽ lồng vào các quy định của Nghị định để làm cơ sở thực hiện.

Mời quý độc giả xem và tải thêm tại đây với phiên bản tiếng anh và tiếng việt

Đường dẫn tải: ViEn

 

 

Advertisements

Tuyển Tư vấn cho hoạt đồng Tọa đàm – tập huấn về Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng lồng ghép với giám sát thực thi Luật tiếp cận thông tin trong lĩnh vực Lâm nghiệp tại xã Xuân Trạch; huyện Bố Trạch.

Vị trí Tư vấn
Nhiệm vụ chính Tập huấn cho các học viên về các thực thi Luật Tiếp cận thông tin trong lĩnh vực Lâm nghiệp
Địa điểm UBND xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Thời gian Từ 21-12. 02. 2019

Để triển khai thực hiện các hoạt động đảm bảo mục tiêu trên, Trung tâm nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cần tuyển  02 tư vấn chính, 03 tư vấn phụ, để thực hiện các hoạt động tập huấn cho cán bộ và cộng đồng xã Xuân Trạch.

  1.  Thông tin chung

Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2018. Luật quy định việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Để tăng cường hiệu quả thực thi Luật Tiếp cận thông tin ở cấp cơ sở, Liên minh Đất rừng (FORLAND) phối hợp với UBND xã Xuân Trạch tổ chức lớp tập huấn: “Tiếp cận thông tin và Giám sát thực thi Luật Tiếp cận thông tin”. Mục đích của lớp tập huấn là hỗ trợ cán bộ và cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào tiến trình thực thi Luật Tiếp cận thông tin để bộ Luật này nhanh chóng đi vào cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu, mong đợi của người dân và các cơ quan thực thi chính sách các cấp. Mục tiêu cụ thể của lớp tập huấn là:

  • Cập nhật thông tin cho các bên liên quan ở xã Xuân Trạch về chính sách quản lý rừng sau khi Luật Lâm nghiệp có hiệu lực
  • Nâng cao năng lực cho học viên về kỹ năng quản lý rừng cộng đòng đối với diện tích rừng được giao cho cộng đồng tại xã Xuân Trạch.
  • Giám sát việc thực thi Luật tiếp cận thông tin trong lĩnh vực Lâm nghiệp nói chung và trong lĩnh vực giao đất giao rừng/cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rừng ở xã Xuân Trạch và huyện Bố Trạch.

Lớp tập huấn dự kiến tổ chức trong 02 ngày, từ 21-22/ 02/ 2019

Để triển khai thực hiện các hoạt động đảm bảo mục tiêu trên, Trung tâm nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cần tuyển  02 tư vấn chính, 03 tư vấn phụ, để thực hiện các hoạt động tập huấn cho cán bộ và cộng đồng xã Xuân Trạch.

  • Mục tiêu

Nhóm tư vấn sẽ cung cấp hỗ trợ kĩ thuật thông qua các hoạt động sau đây:

1 lớp tập huấn về Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng lồng ghép với giám sát thực thi Luật tiếp cận thông tin trong lĩnh vực Lâm nghiệp tại xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch.

Tìm hiểu về việc thực thi Luật tiếp cận thông tin trong lĩnh vực Lâm nghiệp nói chung và trong lĩnh vực giao đất giao rừng/cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rừng ở xã Xuân Trạch và huyện Bố Trạch.

Nhóm đối tượng tham gia tập huấn gồm:

  • Đại diện ba Ban Quản lý rừng cộng đồng trong xã Xuân Trạch
  • Đại diện các thôn trong xã
  • Đại diện cán bộ UBND, HĐND và MTTQ xã
  • Nhiệm vụ cụ thể
  • Sản phẩm và chi trả
Chi trả Sản phẩm Thời gian
75% Tập huấn cho học viên 21-22/02/2019
25% Báo cáo lớp tập huấn Trước 02/03/2019
  • Nơi làm việc

Địa điểm tập huấn và tại nhà

  • Thời gian

Từ 21-02/03/2019

  • Yêu cầu tư vấn
  • Tư vấn chính
    • Giáo dục:
      • Có bằng Đại học trở lên có liên quan tới một trong các chuyên ngành Luật, phát triển, xã hội học, quyền con người, giáo dục.
    • Kinh nghiệm
      • Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc về lĩnh vực phát triển, cộng đồng, giám sát thực thi Luật
      • Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm về vận động chính sách, quyền con người. giảng dạy tập huấn.
      • Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm xây dựng các chỉ số giám sát thực thi Luật, làm việc với các cớ chế trong nước và quốc tế
      • Có kinh nghiệm trong viết báo cáo
  • Tư vấn phụ
    • Trợ giảng
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc về lĩnh vực phát triển, cộng đồng, giám sát thực thi Luật
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm về vận động chính sách, quyền con người. giảng dạy tập huấn.
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm xây dựng các chỉ số giám sát thực thi Luật, làm việc với các cớ chế trong nước và quốc tế
      • Có kinh nghiệm trong viết báo cáo
    • Diễn giả
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm về lĩnh vực Lâm nghiệp, phát triển cộng đồng, giám sát thực thi Luật
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm về vận động chính sách, quyền con người, giảng dạy tập huấn.
      • Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm xây dựng các chỉ số giám sát thực thi Luật, làm việc với các cớ chế trong nước và quốc tế
      • Có kinh nghiệm trong viết báo cáo
    • Hậu cần
      • Có ít nhất 01 năm kinh nghiệm về lĩnh vực phát triển, cộng đồng, giám sát thực thi luật.
      • Có ít nhất 01năm kinh nghiệm trong tổ chức các hội thảo, tập huấn về Luật, chính sách tại địa phương.
      • Có kinh nghiệm trong viết biên bản, báo cáo.
  • Hồ sơ ứng tuyển

Ứng cử viên quan tâm gửi hồ sơ ứng tuyển chứng minh năng lực gồm:

Nhiệm vụ Mô tả Thời gian Địa điểm
  Tập huấn về Tiếp cận thông tin và Giám sát thực thi Luật Tiếp cận thông tin tại cơ sở Tư vấn chính có nhiệm vụ: Chuẩn bị chương trình, và tài liệu học tập Cung cấp tài liệu cho học viên và hướng dẫn sử dụng Điều phối tiến trình học tập trên lớp Viết báo cáo lớp học Tư vấn phu có nhiệm vụ: Hỗ trợ tư vấn chính chuẩn bị chương trình và tài liệu học tập Chuẩn bị hậu cần lớp học Hỗ trợ tư vấn chính trong quá trình điều phối lớp học Viết biên bản lớp học   02/2019   Xã Xuân Trạch
  • – Thư ứng tuyển
  • – Đề xuất tài chính

Hồ sơ ứng tuyển gửi về: pkdung@cird.org.vn  tới hết ngày  19/02/2019.

Sẽ tổng kiểm tra đất của các công ty nông, lâm nghiệp

Quỹ đất các công ty nông, lâm nghiệp nắm giữ quá lớn trong khi nhân sự mỏng, cách quản trị cũ nên đất rừng lâm cảnh “cha chung không ai khóc”.

Những nguyên nhân dẫn đến đất rừng bị lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng không hiệu quả được các chuyên gia chỉ ra tại Hội thảo “Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai ở các công ty nông, lâm nghiệp, thực hiện nghị quyết của Quốc hội”.

Hội thảo do Hội đồng Dân tộc Quốc hội phối hợp với Liên minh đất rừng Forland vừa tổ chức tại TP.HCM.

Một nhân viên quản lý 500-1.000 ha đất rừng

Ông Mai Văn Phấn, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN&MT), cho biết thực hiện chủ trương rà soát, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 28/2004 của Bộ Chính trị đến khi có Nghị quyết 112/2015 của Quốc hội, có 45 tỉnh, thành có đất nông trường, lâm trường thuộc diện phải rà soát.

Theo đó, tổng số tập đoàn, tổng công ty, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp (công ty) vốn nhà nước là 252 đơn vị. Tổng diện tích đất giữ lại sau rà soát sắp xếp của 252 đơn vị này là gần 2 triệu ha và đất lâm nghiệp chiếm 3/4 trong tổng số trên.

“Mặc dù đã rà soát nhưng diện tích được giữ lại là quá lớn, không tương xứng với nguồn lực của các đơn vị. Một số công ty trung bình một cán bộ, nhân viên quản lý 500-1.000 ha đất” – ông Phấn chỉ ra. Ông cũng cho hay là mô hình quản trị tại các công ty không thay đổi, quản không xuể nên chuyển sang cho thuê, cho mượn, khoán đất rừng.

Ngoài ra, chính sách không thu tiền đối với công ty nông, lâm nghiệp cũng là một kẽ hở lớn, không gắn trách nhiệm, để lấn chiếm tranh chấp. “Một số nông, lâm trường trì hoãn việc chuyển sang thuê đất để tiếp tục hưởng chính sách không thu tiền này” – ông nhận xét và cho rằng phải đánh giá lại. “Bộ TN&MT đã lập dự án trong năm 2019 sẽ đi kiểm tra toàn diện các đơn vị này. Tổ công tác đang xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông, lâm nghiệp tại 252 công ty” – ông thông tin.

Sẽ tổng kiểm tra đất của các công ty nông, lâm nghiệp - ảnh 1


Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Bộ TN&MT Mai Văn Phấn. Ảnh: Cẩm Tú

Vi phạm đất rừng kéo dài, chưa có biện pháp xử lý

Ông Triệu Bình, Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội), cho hay Nghị quyết 112 của Hội đồng Dân tộc Quốc hội yêu cầu năm 2016 Chính phủ phải hoàn thành đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường do các công ty không thuộc diện sắp xếp lại… Tuy nhiên, đến nay đề án mới được các bộ, ngành thẩm định và phó thủ tướng mới có ý kiến về việc ban hành đề án. “Đề án chậm ban hành dẫn tới còn 493/745 công ty nông, lâm nghiệp chưa được sắp xếp, đổi mới” – ông Bình cho biết.

Ngoài ra, theo ông, nhiều công ty nông, lâm nghiệp thua lỗ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, vi phạm pháp luật đất đai có nguồn gốc nông, lâm trường vẫn chưa được giải quyết triệt để, nhiều vụ việc kéo dài chưa có biện xử lý.

Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hứa Đức Nhị (Chủ tịch Hội Trồng rừng) cho hay trách nhiệm quản lý rừng là câu chuyện rất lớn nhưng các địa phương đang gặp nhiều khó khăn. “Sau khi Luật Đất đai ra đời, kiểm lâm không được xử lý vi phạm đất rừng mà giao cho cán bộ địa chính. Làm sao cán bộ địa chính quản lý nổi” – ông Nhị bày tỏ.

Về nhận xét các công ty nông, lâm nghiệp không đổi mới mô hình quản trị, ông cho hay đã làm lâm nghiệp mấy chục năm nhưng cũng không biết đổi mới theo mô hình nào vì “không có mô hình nào để học hỏi”.

GS-TS Đặng Hùng Võ đề nghị phải đưa công nghệ vào quản lý đất rừng. “Áp dụng cách đo đạc của đất ruộng để đi đo đất rừng nên đến nay vẫn chưa xong” – ông nhận xét.

Chỉ 1/4 đất rừng được đo đạc, cắm mốcTheo kết quả giám sát việc sử dụng đất đai ở 252 công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị quyết 112, đến nay chỉ 22% diện tích đất giao được rà soát đo đạc, cắm mốc, thiết lập quản lý. Trong 45 tỉnh thực hiện chuyển đổi đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh thì chỉ có 11 tỉnh hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 13 tỉnh hoàn thành phê duyệt phương án sử dụng đất.                                                                                                                                                                                                                                  CẨM TÚ

  Nguồn: Báo Pháp Luật: http://plo.vn/thoi-su/se-tong-kiem-tra-dat-cua-cac-cong-ty-nong-lam-nghiep-810721.html

Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

CSVNO – Ngày 28/12, tại TP.HCM, Hội đồng Dân tộc Quốc hội phối hợp với Liên minh Đất rừng Forland tổ chức Hội thảo “Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai ở các công ty Nông lâm nghiệp, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội”. Ông Phạm Văn Thành – TV HĐQT VRG tham dự buổi hội thảo. 
Ông Phạm Văn Thành - TV HĐQT VRG báo cáo tham luận tại hội thảo

Ông Phạm Văn Thành – TV HĐQT VRG báo cáo tham luận tại hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Văn Thành – TV HĐQT VRG đã chia sẻ thực trạng, khó khăn và giải pháp quản lý đất đai sau sắp xếp đổi mới của VRG.

Tập đoàn hiện có 20 công ty TNHH MTV Cao su (tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ) và 6 công ty cổ phần cao su (Tập đoàn chiếm cổ phần chi phối) đang quản lý sử dụng đất có nguồn gốc nông lâm trường. Tổng diện tích quản lý sử dung là 292.407 ha, trong đó, đất nông nghiệp chủ yếu trồng cao su chiếm khoảng 85% là 286.954 ha; đất phi nông nghiệp 5.453 ha. Vẫn còn nhiều khó khăn, thực trạng tình hình lấn chiếm, tranh chấp vẫn còn…

Tập đoàn đã đưa ra các giải pháp trọng tâm tăng cường công tác rà soát, đo đạc, xác định ranh giới, cắm mốc và hoàn thiện hồ sơ pháp lý đất đai; tích cực phối hợp với địa phương; nâng cao trình độ chuyên môn, hệ thống quản lý và tăng cường hiệu quả sử dụng đất.

Quang cảnh hội thảo

Quang cảnh hội thảo

Hội thảo nằm trong chuỗi hoạt động của các dự án do Oxfam tài trợ hướng tới sự quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh hiệu quả đối với các công ty nông lâm nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội.

Sau khi Hội đồng dân tộc Quốc hội tiến hành hoạt động giám sát tại 9 tỉnh theo chuyên đề “Tình hình triển khai và kết quả thực hiện NQ 112/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội” đã tổng hợp các kết quả sau hơn 3 năm triển khai các vấn đề nhằm thực hiện giao đất, giao rừng, chuyển đổi cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững. Kết quả giám sát cho thấy công tác quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh chưa được các địa phương thực hiện triệt để và đồng bộ.

Đến nay mới chỉ có 22% diện tích đất đai giao được thực hiện việc rà soát, đo đạc cắm mốc, thiết lập hồ sơ quản lý trong khi phần đất giữ lại của 252 công ty nông, lâm nghiệp lên tới 2.018.000 ha. Việc chưa xác định rõ ranh giới cùng với thực trạng nhân lực các công ty còn thiếu và yếu, quản lý không hiệu quả, trong khi cộng đồng địa phương lại thiếu đất sản xuất dẫn tới tình trạng lấn chiếm, khai thác trái phép lâm sản, phá rừng cũng như tình trạng khiếu kiện đất đai kéo dài.

Hội thảo nhận được sự quan tâm của đông đảo DN và truyền thông

Hội thảo nhận được sự quan tâm của đông đảo DN và truyền thông

Trong số 45 tỉnh thực hiện chuyển đổi đất có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh (NLTQD), chỉ có 11 tỉnh hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 13 tỉnh hoàn thành việc phê duyệt phương án sử dụng đất. Tổng diện tích được xây dựng phương án đạt 51,3% diện tích có phương án sử dụng đất, các địa phương còn lúng túng trong quá trình phê duyệt phương án sử dụng đất.

Hội đồng dân tộc đã báo cáo kết quả giám sát với Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Trên cơ sở báo cáo, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 69/2018/QH14 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2019 trong đó yêu cầu “Tiếp tục tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai ở các công ty nông lâm nghiệp, nhất là thu tiền sử dụng đất”.

Hội thảo nhằm chia sẻ kết quả và các bài học kinh nghiệm về giám sát việc quản lý đất đai có nguồn gốc từ NLTQD thực hiện trong năm 2018 theo NQ 112/QH13; tìm ra các giải pháp để quản trị DN, tăng cường hiệu quả quản lý sử dụng đất, cơ chế tài chính đối với các công ty Nông lâm nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, tìm ra giải pháp thu hồi đất có nguồn gốc từ NLTQD giao cho địa phương quản lý.

Tại hội thảo, các đại biểu được nghe  các báo cáo tham luận của ông Triệu Văn Bình – Phó vụ trưởng Vụ Dân tộc Văn phòng Quốc hội trình bày “Báo cáo Kết quả thực hiện NQ 112/QH13 năm 2018 về quản lý đất đai có nguồn gốc từ NLTQD tính đến năm 2018″; “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai các công ty nông, lâm nghiệp” do ông Mai Văn Phấn – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục quản lý đất đai, Bộ TN&MT trình bày; “Đổi mới mô hình quản trị DN đối với các công ty nông, lâm nghiệp ” do ông Đặng Vũ Trân – Phó vụ trưởng vụ Quản lý DN Bộ NN&PTNT chia sẻ; “Một số giải pháp cơ chế chính sách nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai các công ty nông, lâm nghiệp” do GS.TSKH Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT trình bày. Hội thảo cũng nghe ý kiến phát biểu của ông Hứa Đức Nhị, Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về các vấn đề liên quan.

Đại biểu đã thảo luận và đề xuất các khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ NLTQD, thực hiện tốt hơn các Nghị quyết mà Quốc hội đã ban hành.

MINH TÂM

TỔNG KẾT DỰ ÁN THAM GIA CUNG CẤP THÔNG TIN TƯ VẦN PHẢN BIỆN VÀ THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2018

Sau gần 3 năm triển khai (từ tháng 02/2016 đến tháng 11/2018), ngày 29/11/2018 tịa thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Liên minh Đất rừng FORLAND đã tổ chức hội thảo tổng kết dự án “Tham gia cung cấp thông tin, tư vấn phản biện và thẩm tra dự án Luật Lâm nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2016-2018” do Dự án đất đai sông Me Kong MRLG tài trợ. Tham dự Hội thảo có 74 đại biểu đại diện cho các cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân và các chuyên gia đã đồng hành cùng dự án trong thời gian qua.

1

Ảnh: Toàn cảnh Hội Thảo

Continue reading “TỔNG KẾT DỰ ÁN THAM GIA CUNG CẤP THÔNG TIN TƯ VẦN PHẢN BIỆN VÀ THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2018”

Việc thí điểm mô hình đồng quản lý rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng đã được triển khai trong thực tế ở nước ta. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến chưa nhất quán về việc chia sẻ lợi ích như thế nào, làm sao để quản lý được việc chia sẻ lợi ích từ rừng…

Đó là lý do được ông Hứa Đức Nhị, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch Hội chủ rừng Việt Nam nhấn mạnh tại Hội thảo “Chia sẻ lợi ích từ rừng với cộng đồng dân cư địa phương – thách thức và giải pháp” diễn ra ngày 30/10 tại Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội.

Đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, Hội chủ rừng Việt Nam và Đại học Lâm nghiệp chủ trì Hội thảo(Ảnh: HNV)

Hội thảo do Hội chủ rừng Việt Nam, Tổng cục lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp và Liên minh đất rừng Việt Nam (FORLAND) đồng tổ chức. Hội thảo lần này hướng tới việc thống nhất chung về nhận thức, quan điểm về chia sẻ lợi ích từ rừng với cộng đồng dân cư địa phương; làm sáng tỏ thêm thuận lợi, khó khăn, trở ngại và thách thức đồng thời kiến nghị tới cơ quan quản lý nhà nước về nội dung này.

Trước đây, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thí điểm chia sẻ lợi ích từ rừng với cộng đồng theo nguyên tắc đồng quản lý nhằm quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững. Bộ NN&PTNT cũng đã chỉ đạo thí điểm tại vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy, VQG Bạch Mã. Chia sẻ lợi ích từ rừng cũng được nhiều tổ chức quốc tế và trong nước thí điểm với nhiều rừng cộng đồng, rừng sản xuất ở nước ta trong đó có thể kể đến đề án xây dựng cơ chế đồng quản lý tại công ty lâm nghiệp Đăk Tô, Kon Tum…

Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu hướng dẫn cụ thể, thí điểm dự án chưa được nhân rộng. Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở mỗi địa phương có cách thức tiếp cận rừng khác nhau, do đó, đòi hỏi việc quản lý chặt chẽ nếu không việc hưởng lợi sẽ dễ bị mất kiểm soát. Đồng thời, hội thảo cũng nhất trí cao rằng, việc chia sẻ là cần thiết nhưng phải đảm bảo bền vững.

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Trí Dũng, Cố vấn dự án quản trị đất đai tiểu vùng sông Mê Kông (MRLG) cho rằng, đây là cơ hội tốt để trao đổi và thống nhất nhận thức về việc chia sẻ lợi ích từ rừng với cộng đồng, đồng thời kiến nghị để thực hiện tốt hơn quy định pháp lý về nội dung này.

Các đại biểu dự Hội thảo (Ảnh: HNV)

Theo ông Nguyễn Thành Chung, Phó Giám đốc công ty lâm nghiệp Đăk Tô, Kon Tum, mặc dù rất áp lực, phức tạp và hết sức nan giải trước thách thức đối với công ty trong công tác quản lý lâm phần nhưng cũng khẳng định rằng, rừng và đất rừng của công ty đang được bảo vệ tốt hơn nhiều so với khi chưa có mô hình đồng quản lý rừng triển khai.

Kinh nghiệm từ mô hình chia sẻ lợi ích từ rừng tại Vườn quốc gia Xuân Thủy chỉ rõ, rừng được bảo vệ và phát triển bền vững sẽ góp phần cải thiện tích cực đến môi trường đa dạng sinh học động thực vật, chống biến đổi khí hậu; nâng cao điều kiện sống cho người dân bản địa; đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và các công trình thủy điện và thủy lợi; hạn chế lũ quét, hạn hán kéo dài, xói mòn và rửa trôi đất gây ngập úng và hủy hoại các công trình và diện tích canh tác tại địa phương.

Chuyên gia lâm nghiệp, PGS.TS Đỗ Anh Tuấn đến từ Đại học Lâm nghiệp cho rằng, khái niệm về đồng quản lý rừng cần được hiểu theo nghĩa rộng “có sự chia sẻ quyền và trách nhiệm các bên liên quan”. Việc xác định quyền và trách nhiệm và mức độ các bên liên quan không được cứng nhắc mà cần dựa vào: lịch sử quản lý rừng, bối cảnh tài nguyên, kinh tế – xã hội địa phương và trên cơ sở có sự tham gia thật sự của các bên liên quan.

Có thể thấy, việc triển khai thí điểm mô hình chia sẻ lợi ích, đồng quản lý từ rừng có nhiều khó khăn phát sinh, yêu cầu cần phải có sự tham gia thiện chí, hiểu biết, đồng bộ và trách nhiệm của các bên liên quan. Đó cũng là thông điệp mà các đại biểu tham gia Hội thảo lần này thống nhất gửi đến các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý trong hoàn thiện, bổ sung chính sách quản lý đất rừng, nhất là với Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Lâm nghiệp 2017, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2019./.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam: http://dangcongsan.vn/kinh-te/thong-nhat-nhan-thuc-ve-viec-chia-se-loi-ich-tu-rung-503228.html