ĐẮK LẮK – HỘI THẢO GÓP Ý DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP

Với mục đích lấy ý kiến khuyến nghị cho  Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, ngày hôm nay 08/06/2018 tại thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đăk Lăk, các tổ chức PanNature phối hợp Tropenbos Việt Nam, FORLAND, CIRD và Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.

Continue reading “ĐẮK LẮK – HỘI THẢO GÓP Ý DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP”

Advertisements

HỘI THẢO OXFAM: NHÌN LẠI KẾT QUẢ GIAI ĐOẠN I (2016-2018) VÀ LẬP KẾ HOẠCH GIAI ĐOẠN II (2019-2020)

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 05 năm 2018, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo: Nhìn lại kết quả giai đoạn I (2016-2018) và lập kế hoạch giai đoạn II (2019-2020) do Oxfam tổ chức. Tham dự hội thảo có ông Tim Krap (đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam) và  các chuyên gia, tổ chức đối tác.

                 

Hội thảo OXFAM tại  Hà Nội (nguồn ảnh Oxfam)

Với hơn 50 thành viên đến từ 17 tổ chức, liên minh tham dự, hội thảo đã diễn ra sôi nổi với nội dung thảo luận xoay quanh hai nhóm chương trình lớn: Quyền lương thựcTài chính cho doanh nghiệp. Các thành viên đã trao đổi, chia sẻ một cách cởi mở về những thành tựu đã đạt được cũng như những khó khăn, thách thức đã gặp phải trong giai đoạn I (2016-2018) của dự án, cùng nhau đưa ra các phương án giải quyết các thách thức mà các tổ chức đã và đang gặp phải.

Continue reading “HỘI THẢO OXFAM: NHÌN LẠI KẾT QUẢ GIAI ĐOẠN I (2016-2018) VÀ LẬP KẾ HOẠCH GIAI ĐOẠN II (2019-2020)”

BẢN KHUYẾN NGHỊ SAU HỘI THẢO KỸ THUẬT ĐÓNG GÓP CHO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH LUẬT LÂM NGHIỆP 2017

Sau hội thảo góp ý cho dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp 2017 diễn ra tại Hà Nội vừa qua với sự hợp tác tổ chức từ các thành viên trong Forland như CIRD, Panature, TROPENBOS. Nhận được sự đóng góp nhiệt tình chia sẽ các ý kiến từ chuyên gia cùng các đại biểu như chuyên gia GS.Đặng Hùng Võ, TS. Đoàn Diễm, TS. Trần Ngọc Bình…. Ban thư ký đã hoàn thiện bản khuyến nghị và đã gửi cho ban soạn thảo Tổng cục Lâm nghiệp.

Nội dung bản khuyến nghị tập trung vào đưa vào một số quan điểm, nội dung mới như chủ rừng là cộng đồng, ưu tiên cho đồng bào dân tộc, thương mại và chế biến lâm sản…Mặc dù những vấn đề này đã có chính sách nhưng tản mạn ở nhiều quy định trong và ngoài lĩnh vực lâm nghiệp. Chính vì vậy việc xây dựng chính sách nhất quán và riêng biệt trong lĩnh vực Lâm nghiệp về những nội dung mới này cực kỳ quan trọng cho việc thực thi Luật và nhất thể hóa hệ thống chính sách lâm nghiệp, đồng thời là cơ sở quan trọng cho thực thi Luật lâm nghiệp.

Một số chính sách kiến nghị cần quy định cụ thể gồm:

2.1. Tại khoản 6, điều 4 của Luật Lâm nghiệp quy định về “Nhà nước đảm bảo cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư….” theo quy định của Chính phủ. Trong đó có một số nội dung chưa rõ theo quy định nào ví dụ “hợp tác, liên kết bảo vệ rừng với chủ rừng, chia sẽ lợi ích từ rừng, thực hành văn hoá tín ngưỡng…”. Đây là điểm được các đối tác quốc tế đánh giá rất cao, tiến bộ của Luật lâm nghiệp 2017 so với Luật trước đây. Tuy nhiên, trong dự thảo Nghị định chưa quy định chi tiết để có căn cứ thực hiện. Ngay tại khoản 8 Điều 1 Dự thảo Nghị định cũng đề cập đây là đối tượng, phạm vi nhưng nội dung Nghị định chưa có hướng dẫn chi tiết

2.2. Nội dung liên quan đến giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng:

a, Tại điều 14 của Luật Lâm nghiệp quy định các nội dung rất quan trọng về nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng. Tuy nhiên trong dự thảo Nghị định mới chỉ hướng dẫn nguyên tắc thứ 5 “Thống nhất, đồng bộ với giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất” Một số nguyên tắc quan trọng khác chưa được hướng dẫn cụ thể trong dự thảo Nghị định này, ví dụ Nguyên tắc công khai minh bạch, có sự tham gia và trách nhiệm giải trình chưa có hướng dẫn hoặc hướng dẫn sơ sài: chỉ có sự tham gia của chủ rừng ở giai đoạn kiểm tra thực địa và bàn giao rừng; không có sự tham gia của người đại diện của họ trong giai đoạn thẩm định, xét duyệt…Nguyên tắc ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong giao rừng, tôn trọng phong tục, tập quán,văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn bó với rừng của cộng đồng dân cư DTTS chưa được đề cập  trong Dự thảo.

b, Việc hướng dẫn trình tự thủ tục giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư quy định khá rõ ràng nhưng rất khó thực hiện. Thực tiễn cho thấy hình thức quản lý rừng cộng đồng là quản lý bởi một nhóm người do vậy cần phải xác định ai là người chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất hoặc trách nhiệm pháp lý của từng thành viên khi tham gia bảo vệ rừng, trường hợp xảy ra vi phạm thì xử lý thế nào…. Do vậy dự thảo Nghị định cần hướng dẫn thêm cách thức xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng, phương án quản lý rừng cộng đồng, cách thức xác định người đứng đơn xin giao đất trong cộng đồng… Nghị định cần hướng dẫn tách biệt nội dung giao rừng, cho thuê rừng gắn liền giao đất, cho thuê đất tách biệt giữa cộng đồng và hộ gia đình.

c, Chuyển loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác: Đối với phương án chuyển loại rừng:

+Bổ xung quy định cần lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có liên quan và có biên bản họp dân để bảo đảm có sự đồng thuận của đa số người dân sống trong địa bàn;

+ và công khai phương án  chuyển loại rừng được phê duyệt;

Trình tự, thủ tục cho phép chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng:

+ bổ xung biên bản họp dân và ý kiến của các chủ rừng nhà nước và tư nhân;

+ trách nhiệm giải trình cuả UBND các cấp đối với các ý kiến của người dân;

+ dự án đầu tư phải bao gồm báo cáo đánh giá tác động môi trường và xã hội

2.3. Đối với nội dung hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp và quản lý thương mại lâm sản.

  1. Tại điều 66 của Luật về Chính sách phát triển chế biến lâm sản được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, dự thảo Nghị định chưa quy định nội dung này. Ngành chế biến lâm sản là một ngành rất rộng, có thể chia ra (1) Chế biến gỗ: Trong đó, lĩnh vực sản xuất đồ gỗ và ván nhân tạo cho giá trị gia tăng lớn nhất (2) Chế biến lâm sản ngoài gỗ, tập trung vào tre nứa và dược liệu. Do vậy, nghị định cần hướng dẫn thêm các nội dung như tiêu chí xác định đối tượng hỗ trợ, hình thức hỗ trợ như thế nào, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chế biến lâm sản ra sao; các hình thức ưu tiên loại hình công nghiệp hỗ trợ…

b, Các hướng dẫn tại mục 1 của dự thảo Nghị định quy định gỗ hợp pháp Việt Nam khá trừu tượng, khó vận dụng đối với những người tham gia hoạt động thương mại lâm sản. Do vậy, nghị định cần hướng dẫn một số nội dung quan trọng sau: Khái niệm hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp, xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam, Ban hành tiêu chí, thẩm quyền, quy trình, thủ tục phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ.

c, Nội dung Chính sách phát triển thị trường lâm sản quy định tại điều 70 của Luật có nhiều nội dung quan trọng song cũng chưa được hướng dẫn cụ thể trong dự thảo Nghị định. Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung một số nội dung hướng dẫn cho điều này bao gồm (1) Tiêu chí Tổ chức, cá nhân hợp tác, liên kết, thu mua, tiêu thụ lâm sản được cung cấp tín dụng ưu đãi? (2) Nhà nước hỗ trợ hoạt động xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, cung cấp thông tin thị trường lâm sản trong nước và quốc tế (như thế nào?) (3) Hỗ trợ xây dựng hạ tầng thương mại lâm sản.

d, Tại mục 3 dự thảo Nghị định về nội dung Quản lý thương mại lâm sản chỉ mới hướng dẫn duy nhất một điểm c, điều 72 của Luật Lâm nghiệp đó là dự báo thị trường và định hướng phát triển chế biến thương mại lâm sản. Ngoài ra có 04 điểm quan trọng chưa được hướng dẫn và rất cần thiết trong quản lý thương mại lâm sản hiện nay như (1) Xây dựng chiến lược phát triển thị trường (trong nước, ngoài nước) (2) Phòng vệ thương mại trong thương mại lâm sản (3) Giải quyết tranh chấp trong thương mại lâm sản (4) Hiện nay cơ quan quản lý chuyên ngành chế biến gỗ và lâm sản cấp trung ương, cấp tỉnh chưa thật sự rõ ràng giữa các Bộ: NN&PTNT, Xây dựng, Công thương? Do vậy, cơ quan nào công bố dự báo thị trường? Đề nghị dự thảo Nghị định ghi rõ Cơ quan chuyên ngành này là: Cục chế biến, thương mại và Phát triển thị trường nông sản.

2.4. Tại một số quy định của dự thảo Nghị định quy định cụ thể cơ quan chủ trì hoặc được thực hiện một số vấn đề, ví dụ giao Kiểm lâm trong quy định về gỗ hợp pháp. Việc quy định như vậy còn phụ thuộc vào Nghị định về quy định cơ quan Kiểm lâm, quy định về tổ chức quản lý ngành, mặt khác sẽ bỏ qua vai trò của tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan cấp trên của Chi cục Kiểm lâm dẫn đến khó khăn cho điều hành và lãnh đạo. Vì vậy đề nghị sửa lại: đối với trung ương giao Bộ Nông nghiệp và PTNT, đối với địa phương giao UBND (tỉnh, huyện) hoặc Sở Nông nghiệp và PTNT.

2.5. Về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng quy định trong Luật, do không giao cho Chính phủ quy định chi tiết, tuy nhiên trong quá trình xây dựng Luật đã có nhiều ý kiến về vấn đề này, trong thực tiễn thi hành Luật năm 2004 cũng nảy sinh vấn đề: Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là chủ sở hữu rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng chỉ có quyền quản lý, sử dụng rừng; mối quan hệ giữa chủ rừng không có quyền sở hữu với chủ rừng là chủ sở hữu (trong trường hợp giao, cho thuê, đồng quản lý…) dễ dẫn đến hiểu sai quyền, nghĩa vụ và tranh chấp hoặc vi phạm. Vấn đề này nếu không được quy định riêng thì sẽ lồng vào các quy định của Nghị định để làm cơ sở thực hiện.

Mời quý độc giả xem và tải thêm tại đây với phiên bản tiếng anh và tiếng việt

Đường dẫn tải: ViEn

 

 

HỘI THẢO KỸ THUẬT GÓP Ý DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT LÂM NGHIỆP 2017

Hôm nay, ngày 12/04/2018 tại thủ đô Hà Nội, Liên minh đất rừng với sự phối kết hợp của 3 đơn vị Panature, Tropenbos và CIRD tổ chức hội thảo kỹ thuật góp ý dự thảo nghị định quy định thì hành một số điều Luật lâm nghiệp 2017. Tại hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia về lâm nghiệp như GS. Đặng Hùng Võ, Chuyên gia Đoàn Diễm, Chuyên gia Nguyễn Sỹ Dũng… đóng góp trực tiếp các góp ý cho các nghị định quy định thực thi.

DSCN1880

Sau hơn ba mươi năm đổi mới,nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế -xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, kinh tế – xã hội Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được huy động; kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm; chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia của nền kinh tế còn thấp; phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; chưa đạt được mục tiêu tạo nền tảng để trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

DSCN1886

Trong bối cảnh chung đó, ngành lâm nghiệp đang đứng trước những cơ hội lớn:

Một là, những thành tựu, kinh nghiệm của hơn 30 năm đổi mới (1986 – 2017) đã tạo ra cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước; nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng. GPD năm 2017 của Việt Nam đã tăng lên khoảng 4,5 lần, từ 49 tỷ USD năm 2004 lên 223 tỷ USD năm 2017. Trong cơ cấu của nền kinh tế, nông – lâm – thủy sản tiếp tục giảm tỷ trọng từ mức 20,4% năm 2004 xuống còn 15,34% năm 2017; ngành lâm nghiệp mức tăng trưởng cao đạt 7,09 % vào năm 2014, 7,92% năm 2015, 6,17% năm 2016 và 5,14% năm 2017.

Hai là, nhận thức về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, trong đó thực hiện quản lý rừng theo nguyên tắc bền vững đã được nâng lên và thể hiện rõ nét trong chủ trương, chính sách lâm nghiệp; tài nguyên rừng được phục hồi và phát triển nhanh, tăng từ 12,306 triệu ha năm 2004 lên 14,377 triệu ha vào năm 2016; tương ứng độ che phủ của rừng toàn quốc tăng từ 37% lên 41,19%.

Ba là, thương mại gỗ, đồ gỗ trong nước và trên thế giới tăng trưởng mạnh, tạo cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ của Việt Nam (số doanh nghiệp chế biến tăng nhanh: năm 2000 có 900 DN, năm 2013 có 4000 DN, vốn đầu tư đến 2012 trên 4 tỷ USD); kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản vẫn tiếp tục tăng (đạt 6,3 tỷ USD năm 2014; 7,1 tỷ USD năm 2015; 7,3 tỷ USD năm 2016 và 8 tỷ USD năm 2017); sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên 120 nước.

Bốn là, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển ngày càng sâu rộng, đa dạng nhằm thu hút hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng phục vụ mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Tuy nhiên, ngành lâm nghiệp cũng đang đứng trước những thách thức hết sức to lớn:

Thứ nhất, trong xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, Việt Nam được dự báo là một trong 5 nước chịu sự ảnh hưởng nặng nề. Tác động dài hạn của biến đổi khí hậu có thể dẫn đến thay đổi sinh cảnh gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học rừng, làm gia tăng sâu bệnh, cháy rừng, mất rừng và sa mạc hóa.

Thứ hai, bất cập giữa yêu cầu phát triển ngành lâm nghiệp nhanh, toàn diện và bền vững với các nguồn lực của ngành, đặc biệt là vốn đầu tư cho ngành lâm nghiệp còn hạn chế. Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình (thấp), nên các nguồn vốn ODA cho lâm nghiệp cũng giảm, trong khi đó việc huy động các nguồn vốn xã hội hóa còn hạn chế.

Thứ ba, dân số gia tăng, nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp cho các mục đích khác vẫn tiếp tục tăng mạnh; tranh chấp đất đai giữa cây rừng, cây nông nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm và có giá trị xuất khẩu cao… luôn luôn tồn tại; sự gia tăng nhu cầu gỗ là động cơ thúc đẩy các hoạt động khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản bất hợp pháp vẫn là mối đe dọa lớn đối với các khu rừng tự nhiên giàu và trung bình, bất lợi cho việc thiết lập lâm phận ổn định.

Thứ tư, hiện nay ngành lâm nghiệp gặp khó khăn trong xây dựng quy hoạch và tuyển chọn giống phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn, nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.

Thứ năm, ngành chế biến gỗ chủ yếu hướng tới xuất khẩu trong khi phải đáp ứng yêu cầu mới của các thị trường nhập khẩu về nguồn gốc gỗ hợp pháp. Đây là những thách thức lớn cho quản lý rừng sản xuất bền vững của Việt Nam.

Để thiết lập khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội trong Lâm nghiệp là ngành kinh tế – kỹ thuật bao gồm các hoạt động về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản theo định hướng thị trường và hội nhập quốc tế; có cơ cấu quản lý, sản xuất kinh doanh hợp lý, ổn định theo hướng hiện đại, phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường; góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người làm nghề rừng và công cuộc xây dựng nông thôn mới, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh, sau hơn 1 năm khẩn trương rà soát sửa đổi bổ sung Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Luật Lâm nghiệp có 12 chương với 108 điều, tăng 4 chương và 20 điều so với Luật BV&PTR năm 2004. Đây là luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân, đặc biệt những người làm nghề rừng.

Để kịp thời ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật nhằm đảm bảo Luật được thực hiện ngay sau khi có hiệu lực pháp lý, Tổng cục Lâm nghiệp đã khẩn trương thành lập tổ soạn thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật lâm nghiệp, các nghị định và Thông tư khác dưới Luật. Đến nay, sau Hội thảo quốc gia ngày 16/3/2018, Tổ soạn thảo đã chỉnh sửa dự thảo lần 1 và đưa dự thảo lần 2 ra lấy ý kiến các Bộ, ngành và nhân dân.Dự thảo Nghị định lần 2 gồm 8 chương, 107 Điều.

Các nội dung chia sẽ đóng góp trong hội thảo tập trung vào chế biến lâm sản, đảm bảo gỗ hợp pháp, các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp trong đảm bảo gỗ hợp pháp, các hoạt động về thương mại lâm sản. Chuyên gia Trần Ngọc Bình chia sẽ các điểm còn tồn tại cần được bổ sung thêm vào một số điều liên quan đến chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư địa phương. Các chính sách liên quan đến hỗ trợ nhóm yếu thế và cộng đồng dân tộc thiểu số về quyền lợi trong giao đất giao rừng.

Về ý kiến chia sẻ của chuyên gia Đặng Hùng Võ chuyên gia chia sẽ các nội dung mà Luật gia cho chính phủ. Nghị định chỉ được quy định những nội dung mà Luật giao cho Chính phủ quy định, vì vậy phải tính toán rất cụ thể về giải pháp để có thể quy định thêm những nội dung cần thiết. Cách tiếp cận của Nghị định vẫn theo tư duy cũ, quá nặng về cơ chế Nhà nước làm tất cả, chưa làm rõ được việc phải đổi mới để chi tiết hóa cách tìm động lực bảo vệ và phát triển rừng từ quyền hưởng dụng. Về mặt xã hội, Nghị định chưa quan tâm tới quyền, lợi ích và sức mạnh của cộng đồng dân cư địa phương trong chống lâm tặc, phòng và chữa cháy rừng và được tham gia vào chuỗi giá trị của rừng. Trước mắt cần quan tâm vận động chính sách đối với: (1) Hình thành khung chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp; (2) Quyền và nghĩa vụ của các ban quản lý rừng.

Để đọc thêm các thông tin về các bài chia sẽ, mời quý độc giả tải về tài liệu tại đây

TẬP HUẤN: Kỹ năng Truyền thông vận động chính sách dành cho các Liên Minh

Trong 3 ngày vừa qua, tại TP. Hà Nội được sự hỗ trợ từ chương trình Oxfam và trung tâm CDI. Các cán bộ truyền thông của liên mình FORLAND được tiến hành tập huấn các kỹ năng truyền thông trong vận động chính sách cũng như qua mạng xã hội.

Với hơn 30 thành viên tham gia đến từ các liên minh như liên minh nước sạch, liên minh đất rừng, liên minh khoáng sản, liên minh nông nghiệp, liên minh sông ngòi. Hội thảo diễn ra một cách sôi nổi với các nội dung thảo luận về truyền thông trong vận động chính sách.Trong đó các học viên được giảng viên giới thiệu các phương pháp tiếp cận với truyền thông chính sách phù hợp. Các công cụ được đưa ra ở đây xác định trực tiếp hay gián tiếp, truyền thống hay hiện đại. Ngoài ra việc tạo sự ảnh hưởng hay gọi là hiệu ứng lan tỏa trong hoạt động truyền thông nhằm tăng tính hiệu quả.

Với các giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác truyền thông trực tuyến và mạng xã hội như chuyên gia truyền thông từ GVT Phan Mai Lợi, đạo diễn nhà làm phim Nguyễn Đình Quyền với hơn 20 năm trong nghề truyền thông trực tuyến và xây dựng phim. Các giảng viên đã chia sẻ một cách sâu sắc về các ảnh hưởng từ truyền thông hiện nay đến vận động chính sách. Các phương pháp tiếp cận và xây dựng nội dung một cách phù hợp để tiếp cận với từng chính sách

Các thành viên tham gia đã học tập và ghi nhận được nhiều các kỹ năng phương pháp trong xác định các mục tiêu, nội dung và phương hướng truyền thông. Ngoài ra các học viên còn được tham gia thực hành tọa đàm trực tuyến với các chủ đề liên quan tại trường quay GTV.

IMG_3041

Học viên của lớp truyền thông

Tiến Mạnh