Category Archives: Tin tổng hợp

Tái cơ cấu đất rừng

Để sử dụng hiệu quả và bền vững đất lâm nghiệp trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải thực hiện tái cơ cấu đất rừng, giải quyết những tranh chấp trong quản lý, sử dụng rừng…

Quản lý chưa hiệu quả
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thời gian qua, việc quy hoạch quản lý đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập. Đất rừng thường xuyên bị chuyển đổi bởi những mục đích khác nhau như thủy điện, trồng cây công nghiệp, xây dựng khu công nghiệp, nhà máy, thậm chí cả biệt thự…
Ông Phạm Văn Hạnh, Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, hiện nay, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai vẫn xảy ra khá phổ biến ở tất cả các vùng, tập trung nhiều nhất là ở các công ty quản lý rừng tự nhiên vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ… Diện tích đất tranh chấp chủ yếu nằm ở diện tích đất rừng phòng hộ và sản xuất. Đơn cử như tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay có hơn 300.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng phòng hộ là hơn 100.000 ha và 144.088 ha đất rừng sản xuất thì có 426,12 ha rừng phòng hộ do các ban quản lý rừng phòng hộ và công ty lâm nghiệp quản lý đang trong tình trạng bị lấn chiếm hoặc trong tình trạng tranh chấp với người dân địa phương.

Hàng chục hécta rừng phòng hộ bị người dân đốt phá làm nương rẫy.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng lấn chiếm là do khi quy hoạch thành lập các lâm trường chỉ giao đất “trên giấy”, thiếu đo đạc, xác định ranh giới rõ ràng trên thực địa. Nhiều trường hợp chỉ khoanh vẽ trên bản đồ, bao gồm cả đất của người dân đang canh tác, đất dân để lại do du canh du cư từ trước khi thành lập lâm trường. Việc quản lý đất đai của các công ty lâm nghiệp còn bị buông lỏng, thiếu kiểm tra. Cùng với đó, hoạt động của các lâm trường quốc doanh chưa hiệu quả, có nhiều vi phạm trong pháp luật đất đai như cho thuê, mượn đất, chuyển mục đích, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật. Cả nước có 54 công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng đang vi phạm chính sách đất đai, trong đó có hơn 18.000 ha đất trong diện tích có tranh chấp; 76 đơn vị xảy ra tình trạng lấn chiếm với hơn 59.000 ha; 34 đơn vị cho mượn, chuyển nhượng đất với hơn 5.000 ha…

Ở nhiều nơi người dân còn thiếu đất canh tác sản xuất trong khi những diện tích giao lại cho địa phương để người dân sản xuất không đảm bảo cho canh tác. Ông Ngô Văn Hồng, Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển dẫn ra câu chuyện tại Xuân Trạch (Quảng Bình), đây là xã miền núi đặc biệt khó khăn với trên 95% số hộ sản xuất nông nghiệp. Lợi thế duy nhất của địa phương là diện tích đất rừng chiếm trên 80%. Tuy nhiên chỉ có 362/1.398 hộ có đất lâm nghiệp (bình quân 3.77 ha/hộ), diện tích được giao cho UBND xã quản lý để giao cho người dân lại không phù hợp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Trong số 1.014,8 ha được giao, có trên 500 ha đất lâm nghiệp có độ dốc lớn, xa khu dân cư, đầu nguồn nước… chỉ có thể khoanh nuôi phục hồi tái sinh chứ không thể trồng rừng sản xuất. Do thiếu đất sản xuất nên những diện tích còn lại đang trong giai đoạn xây dựng phương án giao đất thì xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm.
Chuyển đổi rừng nghèo
Hiện nay, tổng diện tích rừng của nước ta là hơn 13 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên còn hơn 10 triệu ha. Theo Đề án Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của cả nước sẽ đạt khoảng 16,2 – 16,5 triệu ha trong đó đất rừng sản xuất chiếm hơn 8 ha, rừng phòng hộ gần 6 triệu ha và rừng đặc dụng chiếm khoảng 2,3 triệu ha. Tăng giá trị sản xuất bình quân 4 – 4,5%/năm; đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Ông Phạm Văn Hạnh, Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng kế hoạch rà soát chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất nhằm tái cơ cấu ngành, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tổng hợp các nguồn lợi từ rừng bền vững. Theo đó, chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt là những rừng gỗ lá rộng rụng lá nghèo kiệt, rừng lá kim nghèo kiệt… Khu vực chuyển đổi diện tích liền kề với rừng sản xuất, nơi thuận lợi để tổ chức sản xuất. Đối với diện tích nằm trọn trong khu vực phòng hộ đầu nguồn thì quy mô đất, rừng phòng hộ chuyển đổi có diện tích tối thiểu 50 ha và không nằm trong diện tích liền kề các sông lớn, hồ, đập thủy lợi, thủy điện và đường giao thông quan trọng.
“Việc chuyển đổi phải không ảnh hưởng môi trường; đất chuyển đổi phải phục vụ sản xuất cho người dân, giúp họ đầu tư thâm canh, tăng năng suất, có nguồn thu nhập và quay trở lại bảo vệ rừng”, ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết.
Tuy nhiên, theo ý kiến một số chuyên gia, việc chuyển đổi cần phải xem xét kỹ trong quy hoạch và mối tương quan tổng thể. Bởi hiện nay nền nông nghiệp miền núi đang bị phá vỡ do rừng tự nhiên bị cạn kiệt, chuyển đổi dẫn đến thiếu nguồn nước. Việc này sẽ dẫn đến những hệ lụy về an sinh xã hội, không có sinh kế thì người dân sẽ chuyển sang phá rừng.
Cùng với đó, các chuyên gia khuyến nghị, cần rà soát kỹ nguồn tài nguyên đất, nhu cầu đất của người dân. Thực hiện kê khai, kiểm kê diện tích lấn chiếm, giải quyết các tranh chấp, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp hiện nay tại các công ty lâm nghiệp; Thể chế hóa trách nhiệm của các Ban quản lý rừng phòng hộ cả về trách nhiệm hành chính, kinh tế và hình sự đối với việc rừng bị phá, lấn chiếm và khai thác trái phép.

Đóng cửa rừng tự nhiên – giải pháp khẩn cấp để cứu rừng

VOV.VN – Việc dừng cấp phép xây dựng thủy điện và đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên đã cho thấy sự quyết liệt bảo vệ rừng, chuyển đổi rừng tự nhiên…

Tại Hội nghị tìm các biện pháp khôi phục rừng Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo đóng tất cả cửa rừng tự nhiên tại Tây Nguyên. Và cũng để bảo vệ môi trường, bảo vệ những cánh rừng quý còn sót lại, UNND tỉnh Gia Lai cũng đã gửi văn bản đề nghị Chính phủ không cấp phép xây dựng thủy điện trong khu bảo tồn Kon Chư Răng.

Việc dừng cấp phép xây dựng thủy điện tại Gia Lai và đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên đã cho thấy sự quan tâm và quyết liệt bảo vệ rừng trước nguy cấp về tình trạng phá rừng, chuyển đổi rừng tự nhiên những năm gần đây.

dong cua rung tu nhien – giai phap khan cap de cuu rung hinh 0
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Phát triển Lâm nghiệp tham gia buổi tọa đàm tại Đài TNVN

Trong 5 năm qua, rừng Tây Nguyên đã giảm nhanh cả về chất lượng và diện tích, giảm tới gần 300.000ha. Việc suy giảm diện tích và chất lượng rừng Tây Nguyên trong những năm qua là hết sức nghiêm trọng, nếu không ngăn chặn thì hiệu quả sẽ khôn lường.

Nghe toàn bộ cuộc trao đổi  với GS, TS Nguyễn Ngọc Lung:

Đóng cửa rừng tự nhiên là biện pháp cấp bách để cứu rừng là nội dung trong câu chuyện thời sự của Đài TNVN ngày 24/6 với sự tham dự của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Phát triển Lâm nghiệp (Bộ NN và PTNT).

PV: Thưa GS, ông có suy nghĩ thế nào khi mới đây Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo đóng cửa rừng tự nhiên ở Tây Nguyên?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Tôi rất vui mừng về chỉ đạo của Thủ tướng. Rừng và nước là 2 yếu tố quan trọng nhất của Tây Nguyên. Thủ tướng đã đi đúng vấn đề vì rừng liên quan đến nước, liên quan đến đất…

PV: Theo ông, liệu đóng cửa rừng tự nhiên có phải là biện pháp bảo vệ rừng lâu dài không?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Toàn dân hiện đang quan tâm đến việc đóng cửa rừng tự nhiên. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng việc mất rừng không phải chỉ do việc đóng cửa rừng tự nhiên hay không đóng, mà là do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác khác. Trước kia, người dân phá rừng làm nương rẫy, sau này thì phá rừng để lấy đất trồng điều, trồng cà phê, trồng hồ tiêu, cao su, mắc ca…

Thực tế, việc chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác khác khiến mất rừng nhiều hơn so với việc không đóng cửa rừng tự nhiên. Nếu đóng cửa rừng tự nhiên thì sẽ hạn chế được việc khai thác gỗ.

dong cua rung tu nhien – giai phap khan cap de cuu rung hinh 1
Đóng cửa rừng tự nhiên – giải pháp khẩn cấp để cứu rừng. (Ảnh minh họa: Dân Việt)

PV: Việc chuyển đồi rừng nghèo thành đất trồng cây công nghiệp như cao su hay xây dựng công trình thủy điện. Điều này khiến việc phá rừng, mất đất rừng ngày càng gia tăng. Ông có thể giải thích cụ thể hơn về vấn đề này.

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Rừng tự nhiên có thể là rừng rất giàu nếu như ở đó đất tốt nhưng cũng có thế rất nghèo nếu như đất xấu. Có những khu rừng đá đã lộ đầu, chưa khai thác thì rừng đã xấu rồi.

Như vậy, trước hết, rừng tốt hay xấu là do điều kiện địa lý và thời tiết, đất đai có tốt hay không. Tiếp theo là do yếu tố con người, nếu khai thác quá khả năng sinh trưởng thì mỗi năm rừng sẽ xấu đi.

Việc đóng cửa rừng tự nhiên sẽ hạn chế được việc khai thác quá mức và để rừng có thời gian sinh trưởng.

Nếu không đóng cửa rừng tự nhiên thì rừng sẽ trở thành rừng nghèo kiệt, sẽ mất đi chất lượng, năng lực phòng hộ, tác động đến yếu tố nước và không khí chứ không mất đi diện tích.

PV: Theo điều tra, vùng lõi rừng Tây Nguyên đã mất đi các loại gỗ quý, chỉ còn men ở xung quanh. Qua thực tế này, ông có thấy tình trạng mất rừng Tây Nguyên là đáng báo động hay không?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Phải thừa nhận một thực tế là, khi phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến môi trường, vì thế các hội thảo quốc tế đã kêu gọi loài người hãy tự cứu mình bằng cách cứu lấy rừng.

PV: Như vậy việc giữ rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đất nước có phải không, thưa ông?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Rừng tự nhiên dù nghèo kiệt đến đâu thì vẫn còn giá trị đa dạng sinh học vẫn hơn gấp trăm lần rừng trồng. Ngoài ra, tác dụng bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, bảo vệ không khí không nóng lên, làm cho nước được bảo tồn, chuyển nước mưa thành nước ngầm.

Vì thế các chuyên gia quốc tế khuyến cáo rằng thà giữ 1ha rừng tự nhiên còn hơn phát triển 5 – 10 ha rừng trồng. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhiều người quan niệm rừng nghèo kiệt nên được phá bỏ để trồng mới để có giá trị kinh tế cao hơn.

PV: Liệu có phải việc mất rừng tự nhiên ở Việt Nam hiện nay là tình trạng “cha chung không ai khóc” bởi mới chỉ 4% giao cho người dân còn 96% giao cho các tổ chức nhưng các tổ chức này không giám sát chặt chẽ?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Đại đa số diện tích rừng của Việt Nam được giao cho các tổ chức nhưng lại không kỷ luật những tổ chức được giao bảo vệ rừng mà không thực hiện tốt. Sau khi thống nhất đất nước, đã có 3 chương trình về bảo tồn phát triển rừng Tây Nguyên. Về cơ sở khoa học như vậy là rất tốt. Trên thực tế, hai yếu tố cơ bản của Tây Nguyên là đất và nước. Đất bazan ở Tây Nguyên khiến cả thế giới phải thèm khát nhưng lại thiếu nước do lượng mưa không đều. Công tác quy hoạch lại không tốt nên việc canh tác cà phê, cao su, hồ tiêu… chưa hiệu quả.

PV: Ông có thể nói về các “lợi ích nhóm” trong việc lợi dùng rừng nghèo kiệt để chuyển đổi mục đích sử dụng, để xây dựng công trình thủy điện?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Trong hội đồng nhà nước về đánh giá tác động môi trường của các dự án cao su tôi có tham dự và ngăn chặn được khá nhiều. Khi kiếm được nguồn tài trợ thì người ta cố tìm dự án trồng cao su để mang lại lợi ích cho người trồng, trong đó có việc chặt gỗ rừng. Rừng tự nhiên có nhiều tác dụng, ít bị cháy và có tác dụng điều hòa không khí tốt. Vậy nên cả thế giới đều nỗ lực bảo vệ rừng tự nhiên.

PV: Ông có ý kiến thế nào về việc khai thác khoảng sản, khai thác rừng trái phép?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Việc khai thác trái phép các loại khoáng sản, trong đó có Titan, chứng tỏ có lỗ hổng trong quản lý. Nhưng chưa vội “kết tội” khi chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể.

PV: Ông đánh giá gì về công tác quản lý, bảo vệ rừng, cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong vấn đề này?

GS, TSKH Nguyễn Ngọc Lung: Người bảo vệ rừng, người chống buôn lậu chính là những người cần cảnh giác nhất vì họ là người được trao quyền và trực tiếp thực hiện.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nguồn: theo VOA tại http://vov.vn/xa-hoi/dong-cua-rung-tu-nhien-giai-phap-khan-cap-de-cuu-rung-523822.vov

Đất nông, lâm trường: Miếng bánh hấp dẫn

Chưa lúc nào lại có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay.

1.3-du-1203903306

 Sẽ có hàng ngàn ha đất trồng mía, dứa và cao su của các NLT ở Thanh Hóa được chuyển dần sang trồng cỏ cho các dự án nuôi bò sữa sau khi NLT được chuyển đổi thành Cty TNHH 2TV

Sự đổ xô của các tập đoàn, DN đầu tư vào nông nghiệp gần đây đã mang lại nhiều tín hiệu vui. Cùng với đó, việc các “ông lớn” vào cuộc, tỏa ra khắp nơi lùng sục đất đai khiến cho những bí bách về nguồn tư liệu sản xuất này đã nóng lại càng thêm nóng, trong đó quỹ đất nông, lâm trường là “miếng bánh” hấp dẫn nhất được các DN quan tâm, tìm cách thâu tóm. Chưa lúc nào có một làn sóng các Tập đoàn kinh tế ồ ạt đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn như hiện nay. Về tìm hiểu các địa phương từ phía Bắc đến Bắc Trung bộ, đi đâu cũng nghe nói đến chuyện các DN làm việc với địa phương để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc biệt là việc hợp tác, tiếp nhận quỹ đất nông lâm trường (NLT).

Từ nút thắt đất đai

Có thể nói, tham gia vào sân chơi nông nghiệp, các DN, tập đoàn lớn có đầy lợi thế với việc nguồn vốn đầu tư lớn, trình độ tổ chức quản lý cao, năng lực tiếp cận và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất tốt. Tuy nhiên, rào cản hay nói khác hơn là một nút thắt hiện nay đối với các DN là quỹ đất sản xuất.

Tại các hội nghị, diễn đàn về thu hút đầu tư, đối thoại doanh nghiệp, câu hỏi lớn nhất, vướng mắc nhất, tồn tại nhất vẫn là quỹ đất cho sản xuất.

Người ta đề cập đến sự rủi ro, tính ổn định, bền vững, lòng tin của nhà đầu tư trước những rào cản tích tụ đất đai, thậm chí đòi hỏi, thúc ép cần sớm phải đổi mới về thể chế đất đai. Làm ăn lớn thì không thể sản xuất canh tác manh mún, nhưng cơ chế tích tụ chưa được tháo gỡ, không ít DN khi bước vào sân chơi này đã rơi vào thế đi thì dở, ở lại không xong.

Trong đó, đáng kể nhất là các DN tham gia đầu tư ở phía Bắc và Bắc Trung bộ, nơi ruộng đồng chật hẹp, manh mún cùng với tâm lý giữ đất cố hữu, thà bỏ hoang chứ không trả ruộng của người nông dân. Nhiều DN cũng đã tìm tòi, xây dựng liên kết, hợp tác với nhà nông, nhưng đến nay, số thành công không đáng kể.

Rủi ro, đổ vỡ thường xuyên xảy ra, nguyên nhân có từ cả hai phía – nhà nông và DN. Chính vì vậy, nhìn vào quỹ đất, xem ra đất đai NLT là ổn hơn cả.

Quỹ đất NLT từ lâu do khai thác không hiệu quả, quản lý lỏng lẻo ở các địa phương đã là “miếng bánh” hấp dẫn, bị nhòm ngó và tìm cách thôn tính. Ngay trước làn sóng đầu tư nông nghiệp, điểm đến “nông – lâm trường” lại càng nóng bỏng hơn trong giới đầu tư, DN.

Về các địa phương thời gian qua để tìm hiểu về đầu tư nông nghiệp, đi đâu chúng tôi cũng nghe giới lãnh đạo chính quyền các cấp đề cập đến việc DN đến đặt vấn đề hợp tác, tiếp nhận đất đai các NLT. Phía Đông Bắc, các DN đổ xô xuống Quảng Ninh, Hải Phòng; phía Tây Bắc, các DN đổ lên Hòa Bình, Sơn La; rồi lùng sục các địa phương cận kề Hà Nội như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; rồi các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, xa hơn là vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Rầm rộ “tấn công” đất NLT

Cuộc đi tìm đất thật chộn rộn, sục sôi. Tại tỉnh Hòa Bình, trong vòng mấy năm qua, hàng loạt DN đã tìm đến quan tâm, tìm hiểu. Mặc dù đang nỗ lực tổ chức, sắp xếp lại các Cty, NLT làm ăn kém hiệu quả, nhưng tiếp xúc với chúng tôi, những người có trách nhiệm ở địa phương cho hay, họ rất thận trọng trước những đề xuất của các DN và chỉ “chọn mặt gửi vàng” khi rà soát, đánh giá năng lực, phương án của các DN một cách cẩn thận. Đến thời điểm này, tỉnh đã rà soát, đánh giá, lập đề án trình Bộ NN-PTNT thẩm định và Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương cho việc sắp xếp, đổi mới các Cty nông, lâm nghiệp.

1.3-215-39-45_cong-vn-xin-kho-st-di-bn-de-thue-dt-cu-mot-tcty-gui-ubnd-huyen-ky-nh-h-tinh

Văn bản xin khảo sát địa điểm để thuê đất của một TCty gửi UBND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh)

Theo đề án này, tỉnh Hòa Bình hiện có 5 Cty TNHH MTV nông nghiệp do UBND tỉnh quản lý gồm: Cty TNHH MTV Sông Bôi, Cao Phong, 2/9, Thanh Hà, Cửu Long. Các Cty đang được giao quản lý, sử dụng là 3.464,79ha đất. Về phương án sắp xếp các Cty TNHH MTV Thanh Hà, Sông Bôi, 2/9 sẽ hợp tác với một tập đoàn để thành lập Cty 2 thành viên. Còn Cty TNHH Cao Phong sẽ cùng với Cty CP xây dựng Sông Hồng liên kết thành Cty TNHH cam Cao Phong Incomex. Vĩnh Phúc – một tỉnh năng động và luôn là địa phương hấp dẫn trong mắt DN. Hiện UBND tỉnh này cũng đã “rộng cửa” cho các doanh nghiệp tìm đến đầu tư vào nông nghiệp. Ngoài 3 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng số vốn gần 49 triệu USD, thời gian gần đây, có rất nhiều nhà đầu tư đã và đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại đây với số vốn lớn như Vinamilk, Vingroup.

Điều đáng nói, tại địa bàn này, đã có rất nhiều cách thức hợp tác được triển khai ở đây như DN tự thỏa thuận với nông dân thuê diện tích đất của họ trong 5 hoặc 10 năm; cho nông dân góp cổ phần bằng ruộng đất với doanh nghiệp để cùng làm…

Nhưng xem ra, mọi con đường đều gặp trở ngại. Con đường sáng của DN ở thời điểm này, xem ra vẫn lại là sử dụng quỹ đất sẵn có của các NLT.

Tại Thanh Hóa, địa phương có diện tích rộng, quỹ đất NLT lớn, đã được rất nhiều “ông lớn” như FLC; Vingroup; TH true milk; Hòa Phát, Vinamilk… quan tâm tìm đến. Được biết hiện Cty CP Tập đoàn FLC, Cty TNHH đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEco thuộc Tập đoàn Vingroup – Cty CP, Cty CP ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa TH… đã có tờ trình xin tỉnh Thanh Hóa thuê 3.030ha đất tại các Cty TNHH MTV Sông Âm, Lam Sơn, Yên Mỹ để mở rộng sản xuất kinh doanh.

Mỗi Cty có ngành nghề kinh doanh riêng, lợi thế riêng. Nhưng có một điểm chung là các dự án đưa ra đều rất lớn. Cụ thể: Sau khi sắp xếp, Cty TNHH 2TV ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp và thực phẩm sữa Yên Mỹ (Tập đoàn TH true milk hợp tác với Cty TNHH MTV Yên Mỹ) sẽ đầu tư dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệp trên diện tích 2.930ha với 20.000 con bò. Trong đó bò cho sữa thường xuyên 10.000 con với chế độ chăm sóc, quản lý đàn bò theo công nghệ của Israel, mỗi năm sẽ cung cấp một lượng sữa cho chế biến 110.000 tấn sữa/năm.

Cty TNHH 2TV FLC – Lam Sơn sẽ đầu tư dự án trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt tập trung công nghệ cao với quy mô 1.148ha đất để chăn nuôi 6.000 con bò thịt và 10.000 con bò sữa, bê con. Cty TNHH 2TV đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp VinEnco – Sông Âm sẽ thực hiện dự án nông nghiệp công nghệ cao với các sản phẩm trọng điểm là rau – củ – hoa giá trị cao, nấm, cây ăn quả gắn với công nghệ chế biến thích hợp.

Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, quỹ đất NLT, đất sản xuất của người dân cũng đang được quy hoạch, “sắp xếp” lại để tập trung nguồn lực tài nguyên cho các dự án “khủng”. Cả vùng đất đai màu mỡ Phủ Quỳ ở Nghệ An, đâu đâu cũng có bóng dáng DN.

Hay như ở Hà Tĩnh, chỉ dự án chăn nuôi bò của Cty CP chăn nuôi Bình Hà (Liên doanh Cty CP Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Cty CP An Phú) đã tốn đến 6.119ha đất (tại hai huyện Kỳ Anh 1.645ha, Cẩm Xuyên 4.473ha). Được biết dự án có quy mô 150.000 con bò/năm; nguồn vốn đầu tư 4.223 tỷ đồng, chia làm 3 giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 và 2 sẽ thực hiện trong năm 2015 với quy mô 60.000 con. Dự kiến, đến tháng 6/2016, dự án có tổng quy mô 100.000 con, chủ yếu được nhập từ Úc, New Zealand, Mỹ, Canada…

Có thể nói, việc các DN lớn đổ xô vào lĩnh vực nông nghiệp, khu vực này đã trở nên sôi động với những tín hiệu vui hơn rất nhiều. Nhưng cùng với đó, hàng loạt vấn đề cũng đang đặt ra đối với các địa phương hậu “sắp xếp, chuyển đổi” đất đai, mà đặc biệt nổi lên là vấn đề công ăn việc làm, an sinh xã hội của gia đình công nhân, nông dân vùng sắp xếp, chuyển đổi.

Để yên tâm đầu tư sản xuất, các DN đã và đang nỗ lực tìm kiếm, khoanh vùng cho mình nguồn tư liệu đất đai đủ lớn. Ở một số địa phương thông thoáng, cởi mở, điều kiện đất đai dễ tổ chức, sắp xếp; bằng năng lực và tùy thuộc khả năng “quan hệ”, các DN có thể sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một mặt bằng đầu tư sản xuất.

Tìm hiểu, nắm bắt thông tin một số đề án sắp xếp, chuyển đổi, đã có không ít ý kiến trong dư luận bức xúc khi ở chỗ này chỗ kia, DN chỉ bỏ ra mấy tỉ, nhiều hơn là vai ba chục tỷ đã “lấy” được một nông, lâm trường, mà trước đó bao thế hệ đã dầy công kiến tạo, gây dựng, bảo vệ, vun đắp.

Nhưng cũng có những trường hợp, các DN đổ mồ hôi, sôi nước mắt, trầy vi tróc vảy mà chẳng xong. Thậm chí, có DN còn bỏ ra cả trăm tỷ đồng vào một địa phương để giúp quy hoạch lại sản xuất, với tham vọng tạo ra vùng hàng xuất – chế biến hàng hóa lớn, tập trung nhưng rốt cuộc bị đổ bể, công cốc.

Văn Hùng/nongnghiep.vn

Chi trả dịch vụ môi trường rừng – “Trông người mà ngẫm đến ta”!

Sau gần 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, tỉnh Lâm Đồng trở thành điển hình trong cả nước. Nếu so sánh trong mối tương quan thì Hà Tĩnh thuộc hàng… “em út”. Ngoại trừ những yếu tố khách quan thì vẫn còn nhiều tác động chủ quan khiến công tác thu DVMT rừng ở Hà Tĩnh chưa đạt kết quả như mong muốn.
1.2-106dtl85328
Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc), một trong những đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng

Không thể phủ nhận tỉnh Lâm Đồng có những lợi thế đặc biệt. Địa phương này hiện có khoảng 532.000 ha rừng, trong đó, khu vực rừng nằm trong các lưu vực được chi trả là 514.800 ha. Năm 2011, Lâm Đồng có 272.000 ha nhận tiền DVMT rừng. Năm 2014 là 328.000 ha và năm 2015 là 363.850 ha, chiếm 70% diện tích rừng toàn tỉnh.

Hàng năm, ở Lâm Đồng có trên 16.000 hộ dân được nhận khoán bảo vệ rừng. Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có 50 đơn vị sử dụng DVMT rừng, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, có 30 đơn vị sản xuất thủy điện, 9 đơn vị sản xuất nước sạch và 12 đơn vị kinh doanh du lịch.

Số tiền thu từ DVMT rừng hàng năm cũng tăng dần. Cụ thể là năm 2011: 58,4 tỷ đồng; năm 2012 là 105,5 tỷ đồng; năm 2013 là 127,1 tỷ đồng và năm 2014 xấp xỉ 170 tỷ đồng. Nguồn thu từ DVMT rừng tăng nên định mức khoán trực tiếp cho các hộ bảo vệ rừng theo đó cũng được nâng lên nhiều so với những năm trước đây và “chốt” ở mức 450.000 đồng/ha năm 2014.

Qua 4 năm thực hiện Nghị định 99, tổng kinh phí đã chi trả cho công tác bảo vệ rừng ở Lâm Đồng khoảng 440 tỷ đồng (400 tỷ đồng khoán bảo vệ rừng và 40 tỷ đồng chi phí quản lý của chủ rừng).

Đề cập đến vấn đề này tại Hà Tĩnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Nguyễn Công Tố ngậm ngùi nói rằng, nguồn thu từ DVMT rất… “bèo bọt”. Đã vậy, có tiền rồi cũng không thể… chi được.

Từ năm 2011-2013, Hà Tĩnh bắt đầu truy thu số tiền hơn 6,6 tỷ đồng DVMT rừng ở 5 đơn vị gồm: Công ty Thủy điện Hương Sơn, Công ty Đầu tư & Phát triển Miền Bắc 1 – đơn vị chủ quản của Nhà máy Thủy điện Hố Hô, Công ty TNHH MTV Cấp nước & Xây dựng Hà Tĩnh, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh – đơn vị chủ quản của Khu du lịch Cửa Thờ – Trại Tiểu (Mỹ Lộc – Can Lộc) và Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ. Tuy nhiên, cho đến nay, số tiền này không thể giải ngân được.

Theo lý giải của Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Trần Chí Thanh thì: “Đến năm 2013, quỹ mới thành lập nên quá niên độ tài chính. Hay nói cách khác là ở thời điểm đó, các chủ rừng đã được cấp kinh phí hoạt động nên không thể chuyển tiền”. Toàn bộ số tiền này hiện đang chờ quyết định từ Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2014, thu từ DVMT rừng ở 5 đơn vị trên lẽ ra phải đạt gần 2,5 tỷ đồng, tuy nhiên, chỉ có 4 đơn vị nộp đủ; còn lại 132.805.000 đồng (có cả tiền truy thu từ những năm trước), Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ không chịu trả. Mặc dù Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã nhiều lần phát văn bản yêu cầu thanh toán ngay nhưng công ty vẫn phớt lờ.

Khách quan mà xét thì số tiền thu DVMT rừng phụ thuộc nhiều vào công suất nhà máy thủy điện; các cơ sở cấp nước và du lịch chỉ đáp ứng phần nào nguồn thu từ DVMT rừng. Trong khi đó, công suất các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh quá nhỏ. Theo quy định của Nghị định 99 thì mỗi kW điện thương phẩm, nhà máy thủy điện phải đóng 20 đồng phí DVMT rừng và các nhà máy sản xuất nước phải trả 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Tuy nhiên, 2 nhà máy thủy điện: Hố Hô và Hương Sơn có công suất chỉ bằng 2/10 so với Nhà máy Thủy điện Đa Nhim – Lâm Đồng (công suất 160 MW và hàng năm phải trả 50 tỷ đồng cho DVMT rừng) nên nguồn thu ít là đương nhiên.

Đã vậy, mức giá DVMT rừng theo Nghị định 99 vẫn… “giẫm chân tại chỗ” trong khi giá nước, điện 4 năm qua đã được điều chỉnh nhiều lần nên không còn phù hợp. Đặc biệt, số tiền người dân được nhận từ DVMT rừng cho công tác nhận khoán bảo vệ rừng lại quá ít. Toàn tỉnh hiện chỉ có 272 hộ dân thuộc 3 xã huyện Hương Khê là Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh được nhận tiền DVMT rừng với tổng số tiền xấp xỉ 20 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận khoảng 70.000 đồng/ha/năm.

Từ đầu năm đến nay, tổng số tiền thu từ DVMT rừng đạt hơn 9,4 tỷ đồng, còn thiếu gần 240 triệu đồng. Đây được coi là tín hiệu vui vì tiền thu được tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho các chủ rừng và người nhận khoán làm tốt hơn công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, con số này chưa là gì, bởi theo ông Đặng Bá Thức – chuyên gia lâm nghiệp tỉnh nhà thì “Hà Tĩnh trong những năm tới đây phải thu ít nhất từ 50-70 tỷ đồng từ DVMT rừng. Bởi rồi đây, nguồn thu từ công trình thủy lợi Ngàn Trươi – Cẩm Trang và hồ chứa nước Rào Trổ ở Kỳ Anh là khá dồi dào. Tất nhiên, phải được Chính phủ cho phép thu từ sản xuất nước công nghiệp ở hồ Rào Trổ”.

“Hà Tĩnh cần phải khẩn trương hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng, từ đó mới có thể tính toán chính xác các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMT rừng để thu đúng, đủ. Thêm nữa, tỉnh phải kiên trì kiến nghị Chính phủ thu thêm tiền DVMT rừng ở hồ Kẻ Gỗ, Sông Rác vì Nhà nước miễn thủy lợi phí thì phải có số tiền lớn để hỗ trợ chủ rừng và người dân trong lưu vực bị ảnh hưởng” – ông Thức nói thêm.

Cùng đó, các ngành chức năng cần rà soát, xem xét kỹ lưỡng vì còn rất nhiều đơn vị hưởng lợi trực tiếp từ rừng nhưng lại đứng “ngoài hàng rào” trả tiền DVMT rừng, đồng thời, phải xử lý dứt điểm tình trạng chây ì nợ tiền DVMT rừng. Có như vậy, “cuộc chiến” bảo vệ rừng mới thực sự có hiệu quả bền vững.

Hoài Nam/baohatinh.vn

“Cạo” trọc rừng giao khoán

Sau gần 15 năm thực hiện giao khoán trên 36 nghìn ha rừng cho hơn 5 nghìn hộ gia đình trồng, chăm sóc và bảo vệ, đến nay hầu hết diện tích trên đã bị lấn chiếm, chặt phá và xâm hại nghiêm trọng.

5-anh_01_rung_giao_khoan

“Cạo trọc” rừng giao khoán Hầu hết diện tích rừng giao khoán ở Đắk Lắk đã bị cạo trọc. Ảnh: Quỳnh Anh

Đua nhau phá rừng

Thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg và Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 1999 đến 2010, tỉnh Đắk Lắk đã giao cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng dân cư 27 nghìn ha rừng và hơn 8 nghìn ha đất rừng. Tuy nhiên, hầu hết diện tích rừng đã bị “cạo trọc”.

Đến nay, diện tích rừng bị phá, lấn chiếm, xâm canh trái phép lên đến 10 nghìn ha. Trên thực tế hầu hết các địa phương sau khi triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng các thôn, buôn, nhóm hộ, hộ gia đình quản lý bảo vệ đều để xảy ra mất rừng. Trong đó, có nhiều huyện diện tích rừng bị phá cả nghìn ha như: Krông Bông (6.866ha), Ea Súp (2.000 ha)…

Năm 2006, huyện Buôn Đôn chủ trương giao 1.000 ha rừng thuộc các tiểu khu 478, 480 và 481 cho 50 hộ gia đình của 7 buôn tại 2 xã Ea Huar và Krông Na quản lý, bảo vệ. Đến nay, rừng hầu như đã bị thay thế bởi sắn, đậu, bắp. Rừng giao khoán chỉ còn lại diện tích nhỏ và phân bố thưa thớt, thậm chí “rỗng ruột”. Những khu rừng trước đây ngập những thân cây to, cao vút giờ chỉ còn trơ vài gốc cháy xém.

Thực hiện Quyết định 304, năm 2007, UBND huyện Ea Súp cũng giao khoán hơn 4.000 ha rừng cho các nhóm hộ của 4 xã: Cư M’lan, Ea Bung, Ea Lê, Ia T’mốt. Trong đó, nhóm hộ ở xã Ea Lê sau một thời gian nhận thấy việc nhận khoán bảo vệ rừng không hiệu quả đã làm đơn trả lại hơn 300 ha rừng cho huyện. Những diện tích rừng giao khoán còn lại, sau thời gian được các hộ “chăm sóc”, đã có hơn 2.000 ha rừng bị phá trắng. Riêng xã Ea Bung có 13 nhóm hộ được giao khoán rừng, với tổng diện tích 1.735ha, nay đã bị mất khoảng 1.264ha. Những khu đất này, dân đã tiến hành cày xới canh tác hoa màu từ lâu.

Hầu hết các hộ được giao rừng đều lý giải rằng, do rừng ở quá xa, lâm tặc thường chọn thời điểm chặt phá vào buổi tối hoặc ngày lễ. Thêm vào đó, đường xá đi lại khó khăn nên việc mất rừng là “bất khả kháng”. Điển hình như 15 hộ ở thôn 3 (xã Ea Bung, huyện Ea Súp) được giao quản lý, bảo vệ 117,4 ha rừng. Sau khi nhận rừng, nhóm tổ chức họp bầu nhóm trưởng, đề ra các phương pháp để giữ rừng. Do rừng nằm cách xa 20km, không có kinh phí nên cứ 3 tháng mới tổ chức được một chuyến tuần tra. Ông Trương Công Uynh, nhóm trưởng thừa nhận: “Nhận hơn trăm ha nhưng trên thực tế hiện rừng chỉ sót lại hơn 4ha. Ban đầu chúng tôi đã nỗ lực rất nhiều để giữ rừng nhưng cũng không thể giữ nổi”.

Bất lực nhìn rừng bị đốn hạ

Lý giải về việc rừng giao khoán bị phá trắng, ông Bùi Đức Hạnh, Chủ tịch UBND xã Ea Bung (huyện Ea Súp) cho biết, do lượng dân nhiều nơi đổ về xã để khai thác lâm sản, xâm chiếm đất rừng làm rẫy nhiều nên áp lực giữ rừng của các hộ gia đình rất lớn. Đặc biệt, nhiều nhóm đối tượng rất hung hãn, manh động trong khi người dân không có bất kỳ công cụ hỗ trợ nào.

5.2-anh_2_rung_giao_khoan
Người dân phá rừng khoán lấy đất trồng hoa màu. Ảnh: Quỳnh Anh

Ông Nguyễn Đình Toản, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea Súp chia sẻ: Năm 2006, khi được UBND tỉnh giao chỉ tiêu về giao khoán rừng theo Quyết định 304, UBND huyện đã thành lập ban chỉ đạo để rà soát đối tượng và diện tích rừng có phương án giao khoán. Tuy nhiên, do những hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ lại không có nhu cầu nhận rừng. Trước tình hình đó, huyện đã xin ý kiến của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) giao rừng cho những người dân có nhu cầu nằm ngoài đối tượng ưu tiên và được Sở đồng ý. Tuy nhiên, những hộ này không nhận được những chính sách hỗ trợ nên thực tế việc giao rừng cho các nhóm hộ là giao trách nhiệm, chứ quyền lợi thì chưa có gì.

Giám đốc Sở NN&PTNT Đắk Lắk Trang Quang Thành cũng cho rằng, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn có bộ máy tổ chức, có lực lượng và công cụ hỗ trợ nhưng rừng vẫn bị phá huống gì rừng giao cho các nhóm hộ quản lý. Vì vậy, rất khó cho các hộ gia đình trong công tác giữ rừng.

Ngoài ra, đời sống của người dân khó khăn, trong khi chính sách hỗ trợ và chi trả cho công tác giữ rừng còn thấp, người dân không còn mặn mà. “Thực tế rừng giao khoán bây giờ đã mất gần hết. Sở đã nhiều lần đề xuất với Bộ NN&PTNT có biện pháp thu lại số rừng giao khoán để xử lý, trồng lại nhưng vẫn chưa thấy Bộ có ý kiến gì”, ông Thành nói.

Quỳnh Anh/thanhtra.com.vn

Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây “biệt phủ” trong rừng cấm

Tại phiên giải trình về thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh do Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức (ngày 27/8), các đại biểu (ĐB) Quốc hội (QH) đã “truy” trách nhiệm của Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Môi trường khi để xảy ra nhiều vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có việc xây biệt thự, “biệt phủ” trái phép trong rừng cấm.

26.1-4b_KOLV

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang giải trình tại phiên họp. Ảnh: Phương Hoa TTXVN.

“Bộ trưởng đâu biết hết được”

Theo ĐB Trương Thị Huệ (Thái Nguyên), thời gian qua, dư luận nhân dân trong cả nước rất bức xúc trước việc biệt thự, “biệt phủ” được xây dựng trái phép trên đất rừng quốc gia, trên đất nông lâm trường quốc doanh. “Theo tìm hiểu thì ông chủ của những “biệt phủ” đó toàn là quan chức và những người có tiền, có quyền. Vậy trách nhiệm quản lý của các bộ đến đâu khi để xảy ra tình trạng trên”, bà Huệ chất vấn Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát và Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được?”. Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết

Theo ông Phát, để xảy ra vụ việc trên có trách nhiệm của Bộ khi chưa đôn đốc, kiểm tra sát sao hoạt động quản lý, bảo vệ ở các vườn quốc gia. Tuy nhiên, ông Phát cho rằng, trách nhiệm lớn nhất ở đây thuộc về chính quyền địa phương. Bởi địa phương vốn là người biết rõ địa bàn và thực trạng, lẽ ra phải ngăn chặn và xử lý ngay từ đầu, chứ bộ trưởng ở xa, đâu có thể biết hết. “Quan điểm của chúng tôi là phải xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong việc xâm lấn đất rừng, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào”, ông Phát nói.

“Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”. Ông Nguyễn Sỹ Cương cảnh

Trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Đương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của QH về thực trạng, nhân dân không có đất sản xuất nhưng UBND các xã lại được giao quản lý 2,1 triệu ha không đúng luật, gây lãng phí nguồn lực đất đai, ông Phát lý giải: Việc không giao 2,1 triệu ha đất trên cho dân do chất lượng đất kém, hoang hóa, lại nằm ở xa nên rất khó khăn trong sản xuất. Nếu giao cho dân thì sản xuất cũng không được, hoặc có sản xuất thì hiệu quả cũng rất thấp. “Tình trạng là như thế, chứ không phải là nhân dân đang thiếu đất mà chúng tôi không giao”, ông Phát nói.

26.2-4aa_lmjm
ĐB Nguyễn Sỹ Cương. Ảnh: Như Ý.

Cho thuê trái phép sẽ hình thành lớp địa chủ mới

Về tình trạng vi phạm pháp luật trong việc giao, khoán rừng, đất lâm nghiệp, theo Đoàn giám sát còn xảy ra nhiều. Có những đơn vị còn giao khoán diện tích đất nông, lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Tình trạng hộ nhận khoán đất của các công ty nông, lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị…

Dẫn câu chuyện cụ thể về tình trạng giao khoán đất rừng trái phép, ĐB Chu Sơn Hà (Hà Nội) phản ánh, ở Vườn quốc gia Ba Vì, trong khi người dân địa phương không được giao khoán đất thì nhiều người ở nơi khác đến lại được giao. Điều này buộc người dân địa phương phải đi làm thuê, làm mướn và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

“Tôi không hiểu vì sao tình trạng sử dụng đất ở nông, lâm trường trái pháp luật nhiều như thế mà chúng ta lại không thu hồi, không xử được”, ĐB Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) phản ánh. Ông Cương đề nghị các Bộ trưởng cho biết, thời gian qua đã tổ chức được bao nhiêu cuộc kiểm tra, kiến nghị thu hồi trường hợp nào vi phạm chưa? “Nếu chúng ta cứ buông lỏng quản lý như thế này rất dễ dẫn đến hình thành ra các lớp địa chủ mới”, ông Cương cảnh báo.

Giải đáp những bức xúc trên, cả ông Quang và ông Phát đều thừa nhận có tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến những sai phạm trong việc giao khoán đất rừng, đất nông nghiệp, lâm nghiệp. Theo Bộ trưởng Quang, nguyên nhân là tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với đất nông, lâm trường còn hạn chế vì thiếu kinh phí.

“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình. Nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó, không có tiền thì sao làm được? Các tỉnh miền núi rất nghèo, ngân sách khó khăn nên không bố trí được kinh phí cho việc đo đạc bản đồ đất đai, phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, ông Quang nói và khẳng định, nếu có 1.000 tỷ đồng thì sẽ hoàn thành công việc trên vào năm 2016.

Văn Kiên/tienphong.vn

Quản lý đất đai tại các nông, lâm trường lỏng lẻo

Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà - Ảnh:TL

Rừng quốc gia Ba Vì, nơi có 2000 đồng bào Dao không có đất canh tác, phải đi làm thuê cho Trung Quốc với nhiều rủi ro, theo đại biểu Quốc hội Chu Sơn Hà – Ảnh:TL

Các nông, lâm trường sau 10 năm chuyển đổi sang mô hình công ty vẫn hoạt động kém hiệu quả, và tình trạng buông lỏng quản lý đất đai, tranh chấp, khiếu kiện vẫn còn rất phổ biến, theo một báo cáo trình bày tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày hôm nay, 27-8.

Theo báo cáo liên bộ do Bộ NN-PTNN và Bộ Tài nguyên – Môi trường giải trình tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tại tất cả các nông lâm trường sau chuyển đổi mô hình hoạt động, tình hình quản lý đất đai vẫn bị buông lỏng. Theo Bộ NN-PTNN, hầu hết chưa hoàn chỉnh được hồ sơ làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Báo cáo giải trình lần này nhằm chuẩn bị cho việc công bố hoạt động quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường quốc doanh giai đoạn 2002-2014 tại kỳ họp tháng 10 tới, có trong chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đó là lý do mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu hai bộ này thực hiện giải trình.

Theo báo cáo của liên bộ, sau 10 năm, đã chuyển đổi hình thức quản lý các nông truờng, công ty nông nghiệp thành Công ty TNHH một thành viên nông nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu, rút gọn từ 185 nông trường xuống còn 145 công ty (không tính các công ty nông nghiệp do Bộ Quốc phòng quản lý).

Tương tự, đã sắp xếp lại 256 lâm trường xuống còn 148 công ty lâm nghiệp; thành lập 91 Ban quản lý rừng; và giải thể 14 lâm trường hoạt động kém hiệu quả.

Theo báo cáo, cơ quan quản lý khi cổ phần hóa không xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất sản xuất và không lưu ý hướng dẫn giải quyết về đất đai, nhiều công ty cổ phần mới chỉ có biên bản nhận bàn giao đất.

Ngoài các công ty cao su và một số công ty cà phê, chăn nuôi gia súc, còn một số công ty chưa tổ chức quản lý, sử dụng đất sản xuất phù hợp với năng lực hiện có. Tình trạng đất sản xuất để hoang hoá và sử dụng kém hiệu quả không ít. Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất chưa chặt chẽ, lãng phí, hiệu quả thấp nên sau cổ phần hóa không có nguyên liệu để sản xuất.

Bộ NN-PTNN cho rằng chính quyền địa phương thiếu quan tâm quản lý đất đai, không thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về đất đai, nhiều nơi phó mặc cho công ty tự quản lý và sử dụng.

Một số công ty để tình trạng quản lý lỏng lẻo dẫn đến phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp và kéo dài, kể cả công ty cổ phần. Nhiều công ty thực hiện không nghiêm túc, không đúng quy hoạch sử dụng đất của địa phương và của ngành…

Tình trạng này cũng diễn ra tương tự đối với đất ở các công ty lâm nghiệp.

Việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, có biểu hiện vi phạm pháp luật, như giao khoán diện tích đất lâm nghiệp cho những người không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; có nơi ký hợp đồng giao khoán với người ngoài thay vì giao khoán với người dân tại chỗ để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Một số công ty đã khoán cho các hộ gia đình nhưng thực chất bên giao khoán chỉ khoán trắng, thu địa tô, gây nên những tiêu cực về lợi dụng chính sách khoán đất lâm nghiệp.

Đặc biệt, tình trạng hộ nhận khoán đất của công ty lâm nghiệp tự do chuyển nhượng, mua bán hợp đồng giao khoán không thông qua công ty, sang tên đất cho các đối tượng khác không phải là cán bộ, công nhân của công ty diễn ra ở một số nơi; tự ý xây dựng nhà kiên cố trên đất nhận khoán khá phổ biến đối với vùng đất ven đô thị.

Trước tình hình lỏng lẻo và lộn xộn đó, hai bộ nói trên đều thống nhất kiến nghị một số giải pháp chấn chỉnh.

Cụ thể, sẽ giải thể công ty nông nghiệp trong trường hợp: Kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp vì lý do chủ quan của công ty và có số lỗ lũy kế bằng 3/4 vốn nhà nước tại công ty trở lên; Khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai và sản phẩm trên diện tích chiếm từ 3/4 tổng diện tích đất công ty được giao, thuê.

Các công ty có quy mô diện tích dưới 500 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả cũng sẽ bị giải thể. Trường hợp quy mô diện tích dưới 500 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì sẽ xem xét.

Các lâm trường thuộc các đối tượng giống như các công ty nông nghiệp kể trên cũng sẽ được giải thể. Quy mô để giải thể các lâm trường: Có quy mô diện tích dưới 1.000 ha, phân tán, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Trường hợp quy mô diện tích dưới 1.000 ha, liền vùng, tập trung và sản xuất kinh doanh hiệu quả cần giữ lại thì cơ quan chủ sở hữu xem xét.

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, chất vấn Bộ trưởng Bộ NN-PTNN Cao Đức Phát rằng tại sao ngay tại rừng quốc gia Ba Vì có 2.000 đồng bào người Dao không có đất sản xuất, phải sang làm thuê cho Trung Quốc với rất nhiều rủi ro.

Trả lời vấn đề này tại phiên giải trình, Bộ trưởng Phát hứa sẽ tạo điều kiện cho đồng bào người Dao canh tác tại đây, tận dụng đất trồng cây thuốc. Song ông lại nói trách nhiệm quản lý rừng thuộc về bộ và cả UBND các địa phương.

Bộ trưởng Phát còn cho rằng các quyết định, chủ trương cho các nông, lâm trường đều có nhưng kém hiệu quả khi thực thi. “Chúng tôi có một phần trách nhiệm trong đôn đốc, giám sát thực hiện,” ông Phát nói.

Lan Nhi/thesaigontime.vn

Giá tăng bất thường: Dân Phú Quốc chiếm rừng bán ‘đất chỉ’

Cùng với hiện tượng sốt đất ở Phú Quốc, nhiều khu đất rừng phòng hộ tại địa phương này đã bị người dân bao chiếm, trồng cây rồi bán sang tay.
Cụm từ bán “đất chỉ” trở nên quen thuộc ở Phú Quốc.

Giới đầu tư, đầu cơ mua cả những khu đất chỉ có giấy tay, nên các “chủ đất” cứ “chỉ tay” là bán đất thu tiền. Nhiều khu đất không giấy tờ, thậm chí nằm trong khu vực đất rừng phòng hộ, nhưng “cò” vẫn rao bán.

Chiếm cả đất rừng phòng hộ

Những ngày có mặt tại Phú Quốc, chúng tôi liên tục được các “cò” đất bám lấy, nhiệt tình dẫn đi xem đất, nhưng rất ít “cò” trưng ra được giấy tờ pháp lý đất. Nhiều lô đất nằm trong quy hoạch, chỉ có giấy tay, thậm chí là đất rừng phòng hộ, nhưng cũng được “cò” chỉ mua.

Theo Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Quốc, điểm “nóng” bao chiếm đất rừng là khu vực thị trấn An Thới và hai xã Dương Tơ, Hàm Ninh. Cơ quan chức năng An Thới cũng vừa xử lý hai đối tượng có dấu hiệu bao chiếm đất rừng, là Bùi Văn Nhơn và Võ Ngọc Tuấn.

Dẫn chúng tôi đến hai điểm nóng “đất chỉ” ở An Thới, xung quanh khu vực các dự án lớn ở Bãi Sao và Bãi Khem, anh Nguyễn Khang, một người dân ở đây, cho biết, một nhóm người trong đất liền ra phát rừng trồng cây rồi bán đất bằng giấy tay cho khách.

Dọc theo con đường nhựa chạy xuyên qua khu rừng phòng hộ ở thị trấn An Thới để vào dự án của Công ty Hưng Hải và Công ty Phú Hưng Thịnh (Bãi Sao), chúng tôi thấy nhiều khu đất rừng đã bị bao chiếm.

Dọc hai bên đường, nhiều khu đất được san ủi, dựng cọc bê tông bao quanh. Một số “cò” đất đang hí hoáy giao dịch với một nhóm khách đầu tư nói giọng Bắc.

“Đang có 5 công đất ở Bãi Sao, giá 50 triệu đồng một công thôi, nhưng là giấy tay nhé”, “cò” Huy lên tiếng rồi dẫn nhóm khách thực địa lô “đất chỉ” trên. Đây là 5 công đất nằm trong rừng phòng hộ sát mé đường vào dự án khu du lịch của Công ty Hưng Hải. Trên đất còn sót lại dấu đốt phá và lèo tèo vài cây vườn vừa được trồng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Dương Minh Tâm, Giám đốc Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Phú Quốc, cho biết, chỉ trong nửa đầu năm nay, BQL đã lập biên bản 10 vụ phát quang bao chiếm đất rừng, với khoảng 6 ha đất rừng phòng hộ bị bao chiếm.

“Nhiều nơi như thị trấn An Thới không chỉ phát quang, bao hàng rào mà người dân còn đốt cả rừng để chiếm đất, trồng cây tạo vườn. Chúng tôi có nghe nói đất đã bao chiếm được sang nhượng bằng giấy tay. Tuy nhiên đây là hoạt động trái phép nên không thống kê được”, ông Tâm nói.

Xử lý không xuể do lực lượng mỏng?

Theo thông tin từ BQL rừng phòng hộ Phú Quốc, từ năm 2012, thời điểm thành lập BQL rừng phòng hộ đến nay, diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn giảm 5.000 ha, toàn đảo hiện còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Ngoài việc điều chỉnh lại ranh giới đất rừng phòng hộ do chồng lấn đất của dân (có sổ đỏ) và giao cho các dự án phát triển du lịch, hiện tượng đất rừng phòng hộ bị giảm mạnh còn do hoạt động phá rừng của người dân. Đặc biệt, theo ông Tâm, tình trạng người dân bao chiếm đất rừng tiếp tục gia tăng trong sáu tháng đầu năm 2015.

24.1-pq

Công nhân khẩn trương xây dựng con đường xuyên qua rừng phòng hộ vào các dự án du lịch ở Bãi Sao (thị trấn An Thới).

Cũng theo ông Tâm, thời gian qua BQL rừng phòng hộ Phú Quốc đã phối hợp với chính quyền tổ chức di dời và xử lý nhiều vụ dân lập hàng rào bao đất rừng. Riêng trong năm nay đã di dời 8.000 cây trồng các loại do dân trồng trên đất bao chiếm, ra khỏi đất rừng.

Ông Tâm cũng thừa nhận với lực lượng quá mỏng, chỉ 13 người, BQL khó xử lý hết các vụ bao chiếm đất rừng. Do đó, giải pháp được đề ra trong thời gian tới là lập ranh giới các khu vực đất phòng hộ tiếp giáp với đất dân.

Ông Lê Quang Minh, trưởng Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Phú Quốc, cũng cho biết, từ đầu năm đến nay đã phát hiện ít nhất 30 vụ người dân bao chiếm đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất dự án trái phép.

“Chúng tôi đã nắm thông tin và đang điều tra để xử lý một nhóm trên 30 người từ đất liền ra đảo, chuyên đi bao chiếm đất dự án, có côn đồ bảo kê. Những dự án bị bao chiếm phần lớn do nhà đầu tư chậm triển khai, bỏ đất trống trong thời gian dài mà không có đủ người trông coi”, ông Minh nói.

Sẽ không phá vỡ quy hoạch!

Dù chính quyền địa phương khẳng định không để tình hình đầu cơ gây sốt đất trên đảo Phú Quốc dẫn đến phá vỡ quy hoạch phát triển đảo, nhưng theo thông tin chúng tôi có được, tỷ lệ đất phê duyệt làm dự án du lịch đã vượt xa quy hoạch ban đầu theo quyết định 633 của Chính phủ.

Cụ thể, theo nguồn tin từ BQL đầu tư – phát triển đảo Phú Quốc, tính đến ngày 15/5/2015, tổng diện tích phê duyệt 1/2.000 lên đến 9.840 ha, riêng đất du lịch chiếm 4.406 ha. Trong khi đó, quyết định 633 phê duyệt quy hoạch đất du lịch đảo Phú Quốc đến năm 2030 là 3.861 ha.

Như vậy, diện tích đất giao cho chủ đầu tư làm du lịch vượt quá quy hoạch, trong khi đất rừng phòng hộ lại giảm sút. Bởi theo quyết định nêu trên, đến năm 2030, đảo Phú Quốc có 7.038 ha rừng phòng hộ, trong khi toàn đảo chỉ còn lại 6.870 ha rừng phòng hộ.

Số diện tích rừng phòng hộ còn lại này đang đối mặt với nạn xâm lấn, bao chiếm hằng ngày của người dân, chủ đầu tư và giới đầu cơ bất động sản.

Trao đổi với chúng tôi về sự thay đổi quy hoạch này, ông Huỳnh Vĩnh Lạc, chánh văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Sau một thời gian triển khai, một số quy hoạch không còn phù hợp. Cho nên mới đây Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký ban hành quyết định số 868/QĐ-TTg, ngày 17/6/2015, phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2030”.

Ông Huỳnh Quang Hưng, Phó chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cũng cho rằng, dù có tình trạng sốt đất, nhưng đến nay toàn bộ giao dịch đất đai trên địa bàn đều diễn ra đúng theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.

“Người mua đất hiện chỉ đầu cơ chờ giá bằng cách thuê người rào khu đất của mình rồi trồng cây để giữ đất. Trong trường hợp muốn chuyển mục đích sử dụng phải xin phép cơ quan chức năng, nên lo ngại về phá vỡ quy hoạch là khó xảy ra”, ông Hưng nói.

Tuy nhiên, ông Hưng cho biết, huyện Phú Quốc cũng đã chỉ đạo các địa phương, các phòng chức năng tăng cường quản lý đất đai trên địa bàn, trong đó chủ tịch UBND các xã, thị trấn phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng bao chiếm đất rừng và xây cất trái phép trên địa bàn mình quản lý.

“Hô biến” đất rừng thành đất vườn

Tình trạng phá rừng biến đất rừng thành đất vườn ngày càng lộng hành, nhiều vụ các đối tượng đốt luôn cả rừng. Một buổi chiều tháng 2, chúng tôi theo chân tiểu đoàn 565 (Hải quân Vùng 5) dập lửa một đám cháy lớn tại khu vực rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 82 (thị trấn An Thới, Phú Quốc), do BQL rừng phòng hộ Phú Quốc quản lý.

Tại hiện trường, cả một khu vực gần 5 ha rừng đã bị người dân phát trống và tạo những đám cây khô rất dễ bén lửa trước đó, rồi lợi dụng chiều tối lén lút đốt, chờ mùa mưa đến trồng cây ăn trái, nhằm biến đất rừng thành đất vườn. Dù đám cháy được khống chế, nhưng ước tính khoảng 3 ha rừng phòng hộ đã bị thiêu rụi.

Thiếu tá Đồng Quảng Đại, Phó tiểu đoàn trưởng 565, cho biết: “Đây là khu vực gần đơn vị đóng quân, nên hằng ngày đều có chiến sĩ đi tuần tra. Nhiều lần chúng tôi bắt gặp người dân phá rừng và đã ngăn chặn kịp thời”.

Cũng tại hiện trường, chúng tôi thấy người dân đã trồng dừa và xà cừ cao ngang đầu người, cả một khu vực rộng lớn đã bị rào bằng cột bêtông và kẽm gai rất chắc chắn.

Hai lần điều chỉnh quy hoạch

Từ năm 2010 đến nay, quy hoạch chung phát triển đảo Phú Quốc đã được điều chỉnh hai lần, trong đó nới dần diện tích đất làm du lịch khiến đất rừng bị thu hẹp dần.

Cụ thể, quyết định 633 (ngày 11/5/2010) điều chỉnh quy hoạch đến năm 2030 đất du lịch khoảng 3.861 ha. Đất lâm nghiệp (gọi là đất rừng) 37.802 ha, trong đó riêng rừng phòng hộ 7.038 ha, rừng đặc dụng 29.500 ha.

Đến ngày 17/6/2015, Chính phủ tiếp tục ra quyết định điều chỉnh quy hoạch, trong đó đất du lịch được điều chỉnh tăng lên 4.003 ha, đất lâm nghiệp còn lại 37.430 ha và rừng phòng hộ giảm còn 6.666 ha.

Đình Dân- Khoa Nam/tuoitre.com

Đầu độc thông để lấn đất rừng

Lén lút chặt hạ, cạo vỏ, khoan sâu vào thân cây rồi đổ thuốc trừ sâu, kẻ xấu đang triệt hạ dần những đồi thông vốn là biểu tượng của xứ cao nguyên.Nhïng cây thông lÛn g§n 30 nm tuÕi bË Ñn h¡ t¡i rëng phòng hÙ ambri ¢nh: MAI VINH

Những cây thông lớn gần 30 năm tuổi bị đốn hạ tại rừng phòng hộ Đambri – Ảnh: Mai Vinh

Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2015, Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng đã ghi nhận hơn 500 vụ phá rừng. Từ tháng 6-2014 đến nay, hơn 160ha rừng đã bị mất, trong đó chủ yếu là rừng thông. Đây mới chỉ là số liệu về những vụ việc đã phát hiện.

Đủ chiêu giết thông

Trên tuyến đường 723 (TP Đà Lạt đi TP Nha Trang) hay quốc lộ 20 từ TP Đà Lạt đi TP Bảo Lộc, hoặc đoạn đường liên thôn từ huyện Di Linh đi huyện Bảo Lâm… nhiều cụm rừng thông cận kề các rẫy vườn bị chết khô.

Ông Trịnh Ngũ Hùng, trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng), cho biết những trảng thông lớn vài chục cây bị kẻ xấu bức tử bởi những vết khoanh đứt vỏ quanh thân hoặc bơm thuốc trừ sâu vào những lỗ khoan sâu trong thân. Thường những cây thông như vậy sẽ chết trong vòng chưa đầy ba tuần.

Theo ông Hùng, hình thức bức tử thông như trên rất khó bắt quả tang vì có thể thực hiện dễ dàng bất cứ thời điểm nào. Cây thông bị tác động không chết ngay mà chết từ từ trong nhiều ngày sau.

5 năm mất 90.000ha rừng

Năm 2014, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) tiến hành kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016, chỉ chưa đầy năm năm đã mất khoảng 90.000ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng thông.

Cuối tháng 4-2015, chúng tôi theo chân Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương và chứng kiến ngay bên trong Khu nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng, nằm ở vùng giáp ranh giữa huyện Lạc Dương và TP Đà Lạt, gần 100 cây thông hơn 20 năm tuổi thân to chừng một người ôm bị chết, lá đỏ rực.

Nhìn từ xa không thể hiểu lý do thông chết vì lớp vỏ bên ngoài còn nguyên vẹn, nhưng nhìn kỹ những cây thông đều bị khoan một lỗ sâu vào giữa thân. Từ lỗ nhỏ đó mùi thuốc trừ sâu xộc ra.

Ông Trịnh Ngũ Hùng nói đó là cách giết thông không mới và kín đáo nhất. Cây thông chỉ bị một vết thương nhỏ ở chỗ khuất nên đi tuần không thể phát hiện kịp để có biện pháp cứu cây.

Với cách bơm thuốc sâu vào thân cây, thông sẽ vàng lá rồi chết trong 20 ngày, vô phương cứu chữa.

Theo thống kê, địa bàn huyện Lạc Dương từ đầu năm 2014 đến nay đã phát hiện gần 100 vụ phá rừng, trong đó có 19 vụ rạch vỏ, đổ hóa chất làm chết thông.

Không chỉ ở Lạc Dương, các cánh rừng lân cận TP Đà Lạt và khắp địa bàn tỉnh Lâm Đồng, việc giết thông xảy ra phổ biến và liên tục. Giữa tháng 4-2015, tại xã Phi Tô (huyện Lâm Hà) chúng tôi chứng kiến hơn 600 cây thông gần 20 năm tuổi bị chết khô, một số cây vừa bị đốn hạ, gốc còn ứa nhựa nằm ngổn ngang trên đám cỏ tranh.

Một cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Ban thừa nhận đây là vụ bức tử thông lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn. Sau khi giết thông, người ta sẽ chiếm đất làm rẫy.

Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Bian cũng không thoát cảnh thông rừng bị bức tử. Mới đây, 100 cây thông hơn 30 năm tuổi chết do bị đổ thuốc độc, trong đó có một số là loại thông năm lá dẹt quý hiếm. Theo Ban quản lý vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, kẻ xấu hạ thông nhằm lấy đất trồng cà phê.

Ngày 18-6, Công an TP Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) đã bắt khẩn cấp Phạm Văn Hải (sinh năm 1969, trú tại xã Đambri, TP Bảo Lộc). Kết quả xác minh từ cơ quan điều tra, Hải đã đầu độc hơn 600 cây thông được trồng vào năm 1984 tại xã Đambri bằng thủ thuật đục thân đổ thuốc độc và dùng dao gọt vỏ thân quanh cây.

Trước đó, ngày 13-6 các đơn vị ở huyện Lạc Dương mật phục và bắt quả tang Nguyễn Văn Dũng (ngụ tại tổ dân phố Đăng Gia Rít B, thị trấn Lạc Dương) đang chặt và rạch vỏ 29 cây thông tại tiểu khu 143, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương.

Tại cơ quan điều tra, cả hai đối tượng khai nhận giết thông, sau đó sẽ tới chiếm đất trồng hoa màu. Đến khi nào không trồng nữa sẽ sang tay cho người khác kiếm lời. Cơ quan điều tra đang tiến hành các thủ tục khởi tố vụ án, bị can.

Nhưng đó là những vụ hiếm hoi bắt được đối tượng làm chết thông.

Dựng lều canh thông

Địa bàn huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) là điểm nóng với nhiều vụ tàn phá thông táo tợn quy mô lớn. Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, từ ngày 25 đến 30-5, lâm tặc đã đốn hạ liên tiếp ba lần với tổng cộng 308 cây thông từ 24-31 năm tuổi. Từ ngày 1-6 tới nay, đơn vị này đã phải huy động toàn lực lượng để bảo vệ hơn 20ha rừng thông còn lại ở tiểu khu 466, 469.

Giữa trời mưa nặng hạt, ông Phan Khải Hoàn, nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, cùng hai thanh niên nhận thuê khoán bảo vệ rừng trùm áo mưa đi tuần một vòng quanh khu rừng thông rộng tới hơn 20ha.

Khi đi tới vị trí lâm tặc đốn hạ 111 cây thông 24 năm tuổi, ông Hoàn kể: “Tối 29-5 anh em tập trung mắc võng nằm phục kích trong rừng cả đêm, nhưng không thể ngờ khi mình đang canh giữ rừng thông tại tiểu khu 469 thì ngay trong đêm hôm đó lâm tặc lại tập trung cưa sạch 194 cây thông bên tiểu khu 466. Hở ra một chút là mất rừng ngay”.

Theo ông Hoàn, mỗi lần phát hiện lâm tặc phá thông, do lực lượng mỏng nên nhân viên bảo vệ chỉ bắn đạn cao su chỉ thiên rồi xua đuổi, không có động tác mạnh do các đối tượng phá rừng rất manh động.

Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, 20ha rừng thông 
30-40 năm tuổi tại địa bàn xã Lộc Tân đều là đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch chuyển đổi thành đất nông nghiệp. Chính vì vậy đã bị nhiều kẻ xấu nhòm ngó, có ý định chặt thông lấn đất. Lâm tặc thường đi đông vào đêm khuya hay lúc có mưa lớn. Khi ra tay thì cử người cảnh giới.

“Phải bắt được quả tang thì mới xử phạt được nhưng lực lượng quá mỏng, canh không cho phá đã khó nói chi bắt quả tang, nhất là khi lực lượng giết thông luôn đông hơn lực lượng giữ rừng” – ông Hoàn than thở.

Lơ là quản lý nên mất rừng

Theo Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, nạn phá rừng thông xảy ra nóng nhất tại nhiều huyện như Bảo Lâm, Lạc Dương, Di Linh và vùng ngoại ô Đà Lạt. Trong vòng sáu tháng đầu năm nay, có 817 vụ vi phạm liên quan tới rừng, trong đó có 22 vụ xử lý hình sự.

Ông Nguyễn Trung Kiên, phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, cho rằng để xảy ra liên tiếp các vụ chặt phá rừng thông tại địa bàn do lực lượng quản lý rừng, chính quyền địa phương lơ là.

Để lập lại trật tự ở các điểm nóng về rừng tại xã Lộc Tân, ông Kiên cho biết đã chỉ đạo lực lượng lập lều trại giữa điểm nóng 24/24 giờ để giữ rừng.

“Đây là biện pháp trước mắt bắt buộc để lập lại trật tự tình hình. Riêng về chuyện để lâm tặc chặt hạ số lượng thông lớn, gây dư luận không tốt tại địa phương, chúng tôi đã chỉ đạo công an huyện vào cuộc lập hồ sơ khởi tố vụ án, đồng thời sàng lọc các đối tượng khả nghi để điều tra làm rõ sự vụ trên” – ông Kiên nói.

Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng (đề nghị không nêu tên) cho rằng tình trạng phá rừng thông những tháng đầu năm 2015 đáng báo động, với tốc độ diễn ra nhanh hơn những năm trước. Ông cho rằng đến thời điểm này không phát hiện cán bộ thông đồng với lâm tặc nhưng lơ là quản lý rừng là có.

Chính Thành-M.Vinh/tuoitre.vn

Rừng tự nhiên Tây Nguyên đang bị mất dần

Vì nhiều nguyên nhân, tài nguyên rừng ở Tây Nguyên đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng.

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền các tỉnh vùng Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng luôn xác định công tác bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa quan trọng. Nó vừa đảm bảo lợi ích tổng hợp, kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh, vừa góp phần vào phát triển bền vững khu vực Tây Nguyên.

Mô hình quản lý rừng bất cập

Hiện nay, ở khu vực Tây Nguyên có 7 mô hình quản lý rừng bền vững, trong đó các dự án quốc tế hỗ trợ 3 mô hình, còn lại là các địa phương chủ động triển khai.

[16/07/2015 21:17:24] Liên quan d?n v? vi?c hon 200 cây thông trên d?a bàn huy?n B?o Lâm b? ch?t h? trái phép x?y ra cu?i tháng 5 v?a qua, ngày 16/7, Công an t?nh Lâm Ð?ng cho bi?t, l?c lu?ng công an huy?n B?o Lâm dã kh?i t?, b?t t?m giam ba nghi can g?m Lê Vi?t Tu?ng (40 tu?i) và Quách H?i Tô (42 tu?i, cùng ng? huy?n B?o Lâm), Truong M?nh Hùng (31 tu?i, quê Thanh Hóa) b? t?m giam v? hành vi h?y ho?i r?ng. Ngoài nh?ng d?i tu?ng trên còn có ba nghi can khác liên quan d?n v? án dã b? tr?n hi?n dang du?c l?c lu?ng công an truy b?t d? ph?c v? công tác di?u tra. Trong ?nh: Hi?n tru?ng v? ch?t h? trái phép 207 cây thông trên 30 nam tu?i t?i Kho?nh 1, Ti?u khu 466 thu?c d?a bàn xã L?c Tân (huy?n B?o Lâm, Lâm Ð?ng). ?nh: Nguy?n Dung – TTXVN

Hiện trường vụ chặt hạ trái phép 207 cây thông trên 30 năm tuổi tại Khoảnh 1, Tiểu khu 466 thuộc địa bàn xã Lộc Tân (huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng). Ảnh: Nguyễn Dũng – TTXVN

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được quan tâm chỉ đạo, hoàn thiện các phương án quản lý ở những vùng rừng trọng điểm. Duy trì hoạt động thông tin cảnh báo cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng để các chủ rừng biết và có biện pháp chủ động phòng ngừa. Lực lượng kiểm lâm cơ bản đã tổ chức sắp xếp lại hợp lý, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ mới trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, chủ trương của Thủ tướng Chính phủ cho phát triển thêm 100.000 ha cao su trên địa bàn Tây Nguyên là phù hợp, được các địa phương, doanh nghiệp đồng tình và quyết tâm triển khai.

Sáu tháng đầu năm 2015, toàn vùng Tây Nguyên đã xảy ra 3.641 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 93 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng trái phép lấy đất sản xuất. Trọng điểm khai thác gỗ trái pháp luật ở Tây Nguyên tập trung chủ yếu tại các khu vực còn nhiều rừng tự nhiên, khu vực biên giới, khu vực giáp ranh, các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng, Vườn quốc gia Yok Đôn, Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Khu Bảo tồn thiên nhiên Đắk Uy (Gia Lai)…

Sau 5 năm thực hiện, các tỉnh Tây Nguyên đã trồng mới được trên 72.000 ha, tuy chưa đạt kế hoạch nhưng là kết quả đáng ghi nhận. Gắn liền với việc phát triển cây cao su, các dự án đã chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, đường điện, trạm y tế, trường học, giếng nước sinh hoạt, khu dân cư mới…, với kinh phí hàng ngàn tỷ đồng đã tạo việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc, góp phần ổn định xã hội, đảm bảo an ninh chính trị vùng Tây Nguyên.

Tuy nhiên, hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn nhiều bất cập làm cho tài nguyên rừng ngày càng suy giảm, diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay các tỉnh Tây Nguyên sau khi kiểm kê rừng chỉ còn 2.567.116 ha; trong đó, rừng tự nhiên là 2.253.809 ha, rừng trồng là 313.307 ha, với tổng trữ lượng gỗ chỉ còn trên 302 triệu m3, giảm 358.797 ha rừng so với kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng của năm 2008 (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất). Do diện tích rừng giảm mạnh nên tỷ lệ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên giảm xuống chỉ còn 45,8% (đây là các loại cây công nghiệp) còn thực tế rừng có trữ lượng đạt độ che phủ chỉ còn 32,4%.

“Lách luật” giao dự án

Một trong những nguyên nhân làm diện tích rừng tự nhiên giảm nghiêm trọng là các tỉnh Tây Nguyên nôn nóng phát triển kinh tế, xã hội. Các dự án chuyển đổi rừng, nhất là các dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su triển khai một cách ồ ạt không tuân thủ theo đúng các quy định của nhà nước nên đã làm giảm 128.523 ha rừng tự nhiên, chiếm tới 35,8% tổng diện tích rừng bị giảm.

Suy giảm tài nguyên rừng đã góp phần làm tình trạng biến đổi khí hậu vùng Tây Nguyên ngày càng nghiêm trọng hơn như mùa khô đến sớm, kéo dài, nắng nóng khốc liệt hơn, mực nước mặt, ngầm suy giảm mạnh… tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Ngay mùa khô năm 2015 đã làm cho các tỉnh Tây Nguyên thiếu nước tưới hàng trăm ngàn ha cây trồng, chủ yếu là cây cà phê, lúa đông và nước sinh hoạt cho người dân, thiệt hại lên đến cả hàng ngàn tỷ đồng. Riêng tại tỉnh Đắk Lắk, mùa khô vừa qua đã làm cho trên 61.446 ha cây trồng bị khô hạn, chủ yếu là cà phê và lúa nước vụ đông xuân bị khô cháy, thiếu nước tưới, gây thiệt hại cho bà con các dân tộc gần 2.009 tỷ đồng và hàng vạn hộ dân thiếu nước sinh hoạt…

Các địa phương vùng Tây Nguyên triển khai các dự án chưa bảo đảm theo đúng quy định của Nhà nước, thể hiện ở các vấn đề về quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp. Thậm chí, ở một số nơi còn “lách luật” giao dự án (các dự án thường được chia nhỏ dưới 1.000 ha cho dù trong cùng vùng chuyển đổi có quy mô hàng ngàn ha), hoặc tự giao cho một số doanh nghiệp khảo sát, lập dự án chuyển đổi dẫn đến tạo kẽ hở trong quản lý. Một số địa phương còn buông lỏng quản lý, chưa tích cực chỉ đạo, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đã để xảy ra một số vi phạm trong quá trình chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su. Qua rà soát, kiểm tra, các địa phương vùng Tây Nguyên đã thu hồi 76 dự án, với diện tích rừng, đất lâm nghiệp 7.932 ha, đình chỉ 48 dự án với diện tích 1.261 ha…

Theo quy định của pháp luật, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế, nhưng thực tế, hầu hết khi phê duyệt cũng như thực hiện các dự án, các địa phương cũng như các nhà đầu tư cố tình “quên” hoặc chậm triển khai quy định này. Thực tế, qua rà soát các tỉnh Tây Nguyên có trên 15.792 ha rừng chuyển sang làm thủy điện và các dự án khác, trong đó có 5.755 ha rừng chuyển sang làm thủy điện, thế nhưng, hiện nay các chủ đầu tư, các địa phương mới trồng bù lại 892 ha rừng, còn 14.896 ha vẫn chưa được trồng lại rừng. Đồng bào các dân tộc ở các địa phương vùng Tây Nguyên cũng như đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch đã phá, lấn chiếm trên 88.603 ha rừng trái phép để lấy đất canh tác, sản xuất nông nghiệp.

Mặt khác, ở các địa phương vùng Tây Nguyên vẫn còn diễn ra tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật chưa có biện pháp ngăn chặn, xử lý triệt để, việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp bị phá, bị lấn chiếm trái phép để phục hồi lại rừng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, chưa xử lý có hiệu quả các đầu nậu thuê người phá rừng cũng như các đối tượng mua bán, tích tụ đất đai trái pháp luật.

Baotintuc.vn