Hội thảo Quản lý đất đai có nguồn gốc từ các NLTQD: Chính sách và Thực tiễn

 

Advertisements

Cần tăng cường giám sát quản lý đất đai có nguồn gốc từ công ty nông, lâm nghiệp

(ĐCSVN) – Cần tăng cường giám sát, rà soát sắp xếp lại đất đai, kịp thời xử lý vi phạm, khắc phục dứt điểm tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, xử lý hài hòa đất nông lâm trường và người dân, có chính sách giải quyết lao động dôi dư sau sắp xếp hợp lý, thực hiện hiệu quả việc làm, xóa đói giảm nghèo bền vững… là những giải pháp cần thiết trong quá trình sắp xếp lại công ty nông, lâm nghiệp.

Continue reading “Cần tăng cường giám sát quản lý đất đai có nguồn gốc từ công ty nông, lâm nghiệp”

Cần tôn trọng luật tục truyền thống trong bảo vệ và phát triển rừng

(ĐCSVN) – Nhằm tiếp tục tham vấn, đóng góp ý kiến cho dự thảo lần thứ 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các nhà quản lý, các chuyên gia trong lĩnh vực lâm nghiệp đều nhất trí cao rằng, cần tôn trọng luật tục truyền thống phù hợp với hiện tại và không trái quy định của pháp luật hiện hành trong bảo vệ và phát triển rừng.
Hội thảo nhằm lấy thêm ý kiến tham vấn, đóng góp cho dự thảo lần 5 của Luật. (Ảnh: HNV)

Hội thảo “Tham vấn ý kiến đóng góp cho dự thảo lần 5 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi” diễn ra ngày 13/3 tại Hà Nội, do Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển (CIRD) và Liên minh đất rừng (FORLAND) tổ chức.

Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng lần thứ 5 đã được hoàn thành, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét thẩm tra trước khi thông qua kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV dự kiến vào tháng 10/2017. Lần này, mặc dù có nhiều thay đổi tích cực nhưng nhiều ý kiến cho rằng vẫn còn nhiều điểm chưa thực hiện rõ và hạn chế về quyền của chủ rừng, một số nội dung về sở hữu rừng, về hệ thống quản lý, về quy hoạch lâm nghiệp, tài chính xanh gắn với tăng trường xanh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn trong phát triển của lâm nghiệp.

Tại Hội thảo, ông Ngô Văn Hồng, Giám đốc CIRD, thành viên FORLAND cho biết, ở lần sửa đổi này, Luật đã có các quy định chi tiết, cụ thể về quyền hưởng lợi đối với nhiều loại rừng khác nhau, loại chủ rừng khác nhau cũng như quy định cụ thể về quản lý, khai thác rừng bền vững đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trong đó có quyền hưởng lợi từ khai thác rừng. Hơn nữa, khái niệm cộng đồng dân cư là chủ rừng đã được điều chỉnh mở rộng cho phù hợp, không đồng nhất với khái niệm thôn, bản trong quản lý hành chính khu vực nông thôn, mà gắn với luật tục, hương ước, quy tắc của cộng đồng về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

GS.TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng, Dự thảo Luật đã mở rộng khái niệm cộng đồng dân cư là chủ rừng dựa trên hương ước, luật tục chứ không dựa trên điểm dân cư nông thôn. Theo ông Võ, Dự thảo Luật đã có quy định cụ thể về quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư gắn với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, bảo đảm quyền tiếp cận truyền thống đối với rừng của cộng đồng dân cư địa phương. Nhưng vẫn cần điều chỉnh lại khái niệm cộng đồng dân cư, thay thế cụm từ “trên cùng địa bàn thôn, bản” bằng “trên cùng địa bàn xã, phường, thị trấn” và thay thế yêu cầu “hương ước, luật tục phải phù hợp pháp luật” bằng yêu cầu “hương ước, luật tục không trái pháp luật”.

Đồng tình với phân tích trên, theo ông Ngô Văn Hồng, vẫn cần mở rộng khái niệm về cộng đồng dân cư theo hướng “Cộng đồng dân cư là cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn xã, phường, thị trấn có cùng tập quán, có chung hương ước hoặc luật tục hoặc quy định riêng liên quan tới quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng mà không trái với quy định của pháp luật”. Từ đó, xem xét quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là cộng đồng dân cư một cách bình đẳng với các chủ rừng là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân.

Ông Ngô Văn Hồng khẳng định, không thể phủ nhận được vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ đã tham gia bảo vệ rừng rất hiệu quả từ trước đến nay. Cuộc sống của đa phần họ không chỉ có sinh kế mà còn có văn hóa gắn chặt với rừng dẫn tới họ bảo vệ rừng không chỉ giai đoạn trước mắt mà cho con cháu của họ lâu dài. Trong khi đó, mỗi dân tộc, mỗi vùng có những nét văn hoá riêng, có cách tổ chức, quản lý và bảo vệ rừng riêng, và thường khác so với cách nghĩ, cách làm của người Kinh ở đồng bằng và tư duy của nhà lập định chính sách. Vì thế, những khu rừng được bảo vệ bằng ý thức, niềm tin, luật tục của người dân và mức độ nghiêm ngặt không thua kém bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Nhưng, để phù hợp với thực tế hiện nay cần bổ sung một số điều khoản hoặc bổ sung vào các điều 19, 20 về việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào DTTS sinh sống tại chỗ hoặc các điều về quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng cũng như cần bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng, có thu nhập bảo đảm từ rừng. Đặc biệt, có quy định chi tiết về quyền của người dân sống ở vùng lõi các rừng đặc dụng, rừng bảo tồn với các Ban quản lý rừng, các vườn quốc gia. Người dân địa phương cần có quyền tiếp cận rừng, được lấy các lâm sản phụ như mây, tre, nứa, cây dược liệu, được xen các cây hoa màu, cây dược liệu dưới tán rừng để bảo đảm cuộc sống.

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đại biểu là các nhà quản lý, các chuyên gia lâm nghiệp. (Ảnh: HNV)

Đồng quan điểm này, ông Đoàn Diễm, Chuyên gia Lâm nghiệp cho hay, quyền hưởng dụng rừng tự nhiên nên trao cho tập thể thay vì cho cá nhân và quyền được trao ở mức độ khác nhau tùy theo năng lực. Giao cho cộng đồng rừng có chất lượng cùng với các hỗ trợ, chứ không phải là giao cho họ rừng nghèo và kèm theo là trách nhiệm. Nhà nước cần  hỗ trợ để bảo vệ quyền ngăn chặn của cộng đồng. Tiếp tục thử nghiệm cơ chế đồng quản lý rừng và hoàn thiện cơ chế quản lý rừng cộng đồng. Hổ trợ xây dựng năng lực và hỗ trợ tiếp cận thị trường để tạo điều kiện cho họ thu được nhiều lợi ích hơn việc chỉ cấp quyền đơn thuần. Bảo đảm tính đại diện và trách nhiệm giải trình của những người  đại diện cho cộng đồng. Hỗ trợ  xây dựng và duy trì  những quyền truyền thống và luật tục tiến bộ để  cộng đồng tự quản lý và sử dụng rừng một bền vững thay vì áp đặt cho việc cải thiện sinh kế và bảo vệ rừng.

Trong khi đó, theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, dự thảo Luật BV&PTR còn thiếu toàn bộ một chương về thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý rừng, trong đó có quy định về sự tham gia giám sát của người dân (trực tiếp và gián tiếp). Vì thế, nội dung này cần được quy định cụ thể trong chương Quản lý Nhà nước (Chương 11) hoặc bổ sung thêm 1 chương mới nếu không sẽ không đảm bảo điều kiện thực thi pháp luật. Song song với đó, các cơ quan có trách nhiệm cần xem xét kỹ việc tiếp thu, hướng tới một luật về tài nguyên rừng phù hợp cho giai đoạn hiện nay tạo hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên rừng cao nhất.

Ngoài ra, theo ông Đoàn Diễm, cần cân nhắc thêm cơ chế đồng quản lý rừng giữa các ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ với cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương, từng bước thay thế cơ chế khoán bảo vệ rừng hiện tại chưa phát huy được vai trò làm chủ của người dân, vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương và vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát của các ban quản lý rừng. GS.TSKH Đặng Hùng Võ kiến nghị, cần loại bỏ cơ chế giao khoán rừng đối với rừng sản xuất mà các lâm trường đã sử dụng trước đây; Bảo đảm tính đồng bộ giữa giao, cho thuê đất rừng với giao, cho thuê rừng…

Theo thống kê của CIRD, tính đến thời điểm này, mới có 15 bộ, ngành; 26 tỉnh, thành phố cùng  6 tổ chức và 2 cá nhân gửi kiến nghị góp ý với dự thảo Luật. Con số này cho thấy, vẫn chưa thực sự có nhiều ý kiến quan tâm đóng góp, bổ sung cho một trong nội dung có ảnh hưởng quan trọng tới kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguồn: theo: http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/can-ton-trong-luat-tuc-truyen-thong-trong-bao-ve-va-phat-trien-rung-429862.html

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm tra dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Thực hiện nhiệm vụ thẩm tra Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3, ngày 24/2 Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý cho dự án luật này. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trương Minh Hoàng chủ trì hội thảo.

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm tra dự án Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi)

Tham dự Hội thảo có: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Giàng A Chu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Minh Sơn; đại diện cơ quan soạn thảo; các đại biểu Quốc hội là Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cùng đại diện các cơ quan hữu quan.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trương Minh Hoàng cho biết, việc xây dựng dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) là rất cần thiết, nhằm thể chế hóa đầy đủ kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về Lâm nghiệp cũng như quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững làm nền tảng cho phát triển Lâm nghiệp trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương về xã hội hóa. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường mong muốn các đại biểu sẽ tích cực đóng góp ý kiến để Dự thảo Luật được hoàn thiện trước khi trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV.

Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) gồm 12 chương, 97 điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.

Đa số các tham luận được trình bày tại Hội thảo đã chỉ ra rằng, Dự thảo Luật đã kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng với các luật khác có liên quan, hài hòa hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập.

Dự thảo Luật đã bổ sung một số chương, điều cụ thể như một số điều mới về quy hoạch Lâm nghiệp. Mặc dù các nội dung được thiết kế, sửa đổi, bổ sung theo hướng toàn diện, đầy đủ, thể hiện sự nỗ lực của cơ quan soạn thảo, tuy nhiên Dự thảo vẫn còn một số điểm cần được thảo luận về điều chỉnh để Luật được ban hành có chất lượng tốt hơn, tính khả thi cao hơn. Cụ thể, những nội dung chính được các đại biểu quan tâm bao gồm: phân loại rừng; quy định về giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, thu hồi rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ chủ ban quản lý rừng đặc dụng, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư được giao rừng; tổ chức bảo vệ rừng chuyên trách; dịch vụ môi trường rừng…

Thảo luận tại hội thảo, nhiều đại biểu cho rằng tên Luật Bảo vệ và phát triển rừng chưa thực sự phản ánh được nội hàm bên trong của Luật bởi ngành Lâm nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan trực tiếp đến rừng như: quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng, khai thác lâm sản; tuy nhiên, còn một số lĩnh vực hoạt động liên quan gián tiếp hoặc ít liên quan đến rừng như hoạt động chế biến gỗ. Hơn nữa, ngay tại Khoản 1 Điều 3 của dự thảo đã ghi: “Lâm nghiệp là ngành kinh tế, xã hội bao gồm các hoạt động về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản, dịch vụ môi trường rừng; đồng thời đảm bảo phát triển bền vững về môi trường quốc phòng an ninh.” Nhưng tên Luật lại chỉ thể hiện hai nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp là bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, các đại biểu đề nghị sửa tên Luật thành Luật Lâm nghiệp.

Về phân loại rừng, theo điều 5 Dự thảo Luật, rừng tự nhiên và rừng trồng được phân thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng sản xuất và rừng phòng hộ. Dự thảo Luật vẫn giữ nguyên phân loại rừng thành 3 loại như Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, tuy nhiên mở rộng thêm phạm vi rừng đặc dụng gồm cả “Hệ thống rừng giống quốc gia” và “Rừng văn hóa, tâm linh giao cho cho cộng đồng dân cư”.

Thảo luận tại hội thảo, các đại biểu cho rằng, việc quản lý theo 3 loại rừng ngày càng bộc lộ hạn chế, bất cập. Phân 3 loại rừng buộc phải có 3 loại cơ chế, chính sách khác nhau để quản lý, sử dụng phù hợp với từng loại rừng trong khi bản thân mỗi loại rừng đều có các chức năng phòng hộ, bảo tồn, bảo vệ môi trường và sản xuất, có mối liên hệ với nhau. Hơn nữa, việc phân 3 loại rừng chưa phù hợp với phân loại rừng của nhiều nước trên thế giới. Do đó, nhiều đại biểu kiến nghị phân thành 2 loại rừng là rừng sản xuất tạo ra gỗ, lâm sản ngoài gỗ và rừng dịch vụ (gồm rừng đặc dụng và rừng phòng hộ). Phân loại như vậy sẽ dễ dàng hơn trong việc hình thành các phương thức quản lý phù hợp.

Các đại biểu cũng cho rằng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng đã được đề cập trong Dự thảo Luật nhưng chưa đầy đủ, toàn diện với tất cả mọi trường hợp, các khó khăn đã được nhận định, nhưng còn một số vấn đề chưa có giải pháp giải quyết thỏa đáng. Cụ thể như: cần quy định rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm quản lý rừng của từng công ty lâm nghiệp với tư cách là một doanh nghiệp lâm nghiệp, đặc biệt chính sách đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên giao cho công ty; chưa làm rõ quy định chủ rừng là hộ gia đình được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng lại không được quyền nhượng rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên mảnh đất đó và phần rừng tự nhiên gia tăng do hộ gia đình chăm sóc bảo vệ có được thực hiện quyền thế chấp, góp vốn hay không.

Nguồn: http://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=32643

HỘI THẢO: Góp ý cho Dự án Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (sửa đổi)

Trong khuôn khổ dự án IF “Sự tham gia của các bên trong cung cấp thông tin, phản biện và thẩm tra Luật BV&PTR sửa đổi” do MRLG tài trợ cho FORLAND, ngày 24. 2. 2018, FORLAND đã phối hợp với UBKHCNMT của Quốc hội tổ chức hội thảo 1 ngày tại Hà Nội về chủ đề: “Góp ý cho dự án Luật BV&PTR sửa đổi”.

ht-24_2-2

Mục tiêu chính của Hội thảo này là thu thập ý kiến của các bên liên quan để phục vụ cho nhiệm vụ thẩm tra Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) của Thường trực UBKHCNMT của Quốc hội để trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 (tháng 5/2017).

Có khoảng 130 đại biểu tham dự hội thảo đến từ các tỉnh phía Bắc, Hà Nội và Bắc Trung bộ, gồm các đại biểu quốc hội, lãnh đạo các UB Quốc hội, Bộ NN&PTNT, Bộ TNMT, các sở NN&PTNT, trường đại học, chuyên gia lâm nghiệp, CSOs… Các đại biểu trình bày tham luận và thảo luận để làm sáng tỏ hơn 5 vấn đề theo đề xuất của Ban Soạn thảo dự thảo Luật, bao gồm: i) Tên của Luật, ii) Phân loại rừng, iii) Sở hữu rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt, iv) Giao rừng cho cộng đồng dân cư, và v) Hệ thống tổ chức, quản lý ngành lâm nghiệp.

ht-24_2-1

Kết quả đạt được của Hội thảo là những đầu vào quan trọng làm cơ sở cho Thường trực UBKHCNMT của Quốc hội tổ chức tốt buổi họp đầu tiên về thẩm tra dự thảo Luật này, dự kiến vào ngày 4. 3. 2017 sắp tới.

140217_dvmtr7

Bạn đọc có thể tìm thấy tài liệu của Hội thảo dưới đây:

tong-hop-tham-luan-hoi-thao-ngay-24-02-2017

FORLAND